Nghiên cứu tình hình ô nhiễm môi trường và đề xuất giải pháp quản lý nhằm khắc phục hạn chế ô nhiễm khu vực làng nghề thêu ren An Hoà - Pdf 27

PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Những năm vừa qua, ở nhiều vùng nông thôn nước ta các làng
nghề đã phát triển khá mạnh và đóng góp đáng kể cho phát triển kinh tế -
xã hội của các địa phương. Song bên cạnh đó, tại đây cũng đã nảy sinh
nhiều vấn đề môi trường bức xúc, đòi hỏi sự quan tâm tháo gỡ kịp thời
của các ngành, các cấp, đặc biệt là chính quyền các địa phương nơi có
làng nghề.
Việc phát triển làng nghề là một phần quan trọng của công nghiệp
hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn trong những năm đầu của
thế kỷ 21. Phát triển mạnh những ngành nghề, đẩy mạnh xuất khẩu các
sản phẩm truyền thống có giá trị kinh tế cao, sử dụng được nhiều lao
động là lợi thế của làng nghề địa phương. Đời sống nông dân ở nhiều
vùng nông thôn trong cả nước đã khấm khá lên do sản xuất nông nghiệp
phát triển đồng thời với việc khôi phục và phát triển các làng nghề. Nhiều
làng nghề đã nêu được bài học về làm giàu ở nông thôn. Tuy nhiên chính
những nơi này đã và đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi
trường, cần phải giải quyết kịp thời.
Hiện nay, việc khôi phục và phát triển làng nghề nông thôn đang
có nhiều thuận lợi, được Nhà nước hộ trợ kinh phí và tìm đầu ra cho sản
1 | P a g e
phẩm. Tuy nhiên, do phát triển tự phát, ồ ạt và thiếu quy hoạch nên đã
dẫn tới hậu quả là môi trường ở các làng nghề đang bị ô nhiễm nghiêm
trọng. Tại nhiều làng nghề hiện nay đang bị ô nhiễm cả về: Vật lý, hóa
học và sinh học. Hiện trạng về ô nhiễm biểu hiện: Không khí thì bị ô
nhiễm về nhiệt, tiếng ồn, hơi độc, bụi khói và không gian sống thì ngày
càng bị thu hẹp do đất phải nhường chỗ cho sản xuất công nghiệp và các
công trình khác. Đất sản xuất nông nghiệp và nguồn nước sinh hoạt nhiều
nơi đang có nguy cơ bị ô nhiễm nặng do phế thải công nghiệp và sinh
hoạt. Cây xanh vốn là đặc trưng của nông thôn Việt Nam, nhưng nay đã
bị thu hẹp dần nhường chỗ cho các công trình xây dựng.

làng nghề.
- Tìm hiểu ảnh hưởng của hoạt động sản xuất của làng nghề, đến
môi trường trong làng nghề và sức khỏe người dân.
- Phân tích, dự báo ô nhiễm môi trường của làng nghề.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục hạn chế ô nhiễm.
4 | P a g e
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1. Làng nghề với phát triển kinh tế xã hội nông thôn
2.1.1.1. Khái niệm và tiêu chí làng nghề
Có nhiều ý kiến đưa ra về khái niệm làng nghề. Theo Trần Minh
Yến khái niệm làng nghề bao gồm những nội dung sau.
Làng nghề là một thiết chế kinh tế xã hội ở nông thôn, được cấu
thành bởi hai yếu tố ngành và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý
nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ
công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, văn hóa và xã hội.
Xét về mặt định tính: làng nghề ở nông thôn nước ta được hình
thành và phát triển do yêu cầu của phân công lao động và chuyên môn
hóa sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và chịu sự chi phối của
nông nghiệp và nông thôn. Làng nghề gắn liền với những đặc trưng của
nền văn hóa lúa nước và nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ tự cấp tự túc.
Xét về mặt định lượng: làng nghề là những làng mà ở đó có số
người chuyên làm nghề thủ công và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ
nghề đó chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng dân số của làng.
Tiêu chí để xem xét một cách cụ thể đối với một làng nghề điển
hình là: số hộ chuyên làm một hoặc nhiều nghề thủ công, phi nông nghiệp
5 | P a g e
chiếm ít nhất 30% tổng số hộ và lao động, ở làng nghề có ít nhất 50%
tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng, doanh thu hàng năm từ
ngành nghề ít nhất 300 triệu đồng (tính theo giá trị năm 2002) [4, tr25].

thấp so với sức lao động đã bỏ ra).
- Biết tận dụng nguyên vật liệu và nhân lực thông qua kỹ năng lao
động và sự khéo léo để tạo thu nhập trong điều kiện thiếu vốn.
2.1.1.3 Phân loại và đặc trưng sản xuất của các làng nghề
Làng nghề với những hoạt động phát triển đã tạo ra những tác động
tích cực và tiêu cực đến đời sống kinh tế xã hội và môi trường nông thôn
Việt Nam với đặc thù hết sức đa dạng. Cần phải nhìn nhận theo nhiều
khía cạnh, góc độ khác nhau mới có thể hiểu rõ được bản chất cũng như
sự vận động của loại hình kinh tế này và các tác động của nó gây ra đối
với môi trường. Để giúp cho công tác quản lý hoạt động sản xuất cũng
như quản lý, bảo vệ môi trường và làm cơ sở thực tiễn để thấy được bức
tranh tổng thể về làng nghề Việt Nam, có thể phân loại làng nghề theo
một số dạng sau:
8 | P a g e
(1). Phân loại theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới: dựa
trên đặc thù văn hoá, mức độ bảo tồn các làng nghề đặc trưng cho các
vùng văn hoá lãnh thổ khác nhau.
(2). Phân loại theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm: nhằm xác
định nguồn và khả năng đáp ứng nguyên liệu cho hoạt động sản xuất
cũng như phần nào thấy được xu thế và nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của xã
hội.
(3). Phân loại theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ:
nhằm xác định trình độ công nghệ sản xuất và quản lý sản xuất của các
làng nghề qua đó có thể xem xét tiềm năng phát triển đổi mới công nghệ
sản xuất đáp ứng cho các nhu cầu đa dạng hoá sản phẩm và giảm thiểu ô
nhiễm môi trường.
(4). Phân loại theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm: nhằm phục vụ
mục tiêu đánh giá đặc thù, quy mô nguồn thải từ hoạt động sản xuất của
làng nghề.
(5). Phân loại theo mức độ sử dụng nguyên, nhiên liệu: nhằm xem

lượng làng nghề lớn (chiếm 20% số lượng làng nghề) phân bố đều trên cả
nước, phần nhiều sử dụng lao động nông nghiệp, không yêu cầu trình độ
cao, hình thức sản xuất thủ công, ít có thay đổi về quy trình sản xuất.
Nước ta có nhiều làng nghề thủ công truyền thống như nấu rượu, làm
bánh đa nem, đậu phụ , với các nguyên liệu chính là gạo, ngô, khoai,
sắn, đậu , các nghề này thường gắn với hoạt động chăn nuôi ở quy mô
gia đình.
* Làng nghề thêu, dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da đã có từ lâu đời,
nhiều sản phẩm đã gắn liền với truyền thống lịch sử, văn hoá đậm nét địa
phương. Những sản phẩm như lụa, tơ tằm, thổ cẩm, thêu ren, dệt may ,
không chỉ là những sản phẩm hàng hoá có giá trị mà còn là những tác
phẩm nghệ thuật được đánh giá cao. Tại các làng nghề nhóm này, lao
11 | P a g e
động nghề thường là lao động chính (chiếm tỷ lệ cao hơn lao động nông
nghiệp)
* Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá có từ lâu
đời, tập trung ở các vùng có sẵn nguyên liệu xây dựng. Lao động loại
làng nghề này chủ yếu là thủ công, quy trình công nghệ thô sơ, tỷ lệ cơ
khí hoá thấp. Khi nhu cầu về xây dựng nhà cửa, công trình tăng, hoạt
động sản xuất vật liệu xây dựng phát triển mạnh đặc biệt là các vùng núi
đá vôi.
* Làng nghề tái chế phế liệu chủ yếu mới hình thành, nên số lượng
ít nhưng lại được phát triển nhanh về loại hình tái chế (chất thải kim loại,
giấy nhựa, vải đã qua sử dụng). Ngoài ra, các làng nghề cơ khí, chế tạo và
đúc kim loại phế liệu sắt vụn, cũng là loại hình làng nghề.
* Làng nghề thủ công mỹ nghệ: bao gồm các làng nghề gốm, sành
sứ, thuỷ tinh mỹ nghệ, chạm khắc đá, chạm mạ vàng bạc, sản xuất mây
tre đan, đồ gỗ mỹ nghệ, sơn mài, làm nón, dệt chiếu, thêu ren. Đây là
nhóm làng nghề chiếm tỷ lệ lớn về số lượng (khoảng 40% tổng số làng
nghề) có truyền thống lâu đời, sản phẩm có giá trị cao, đậm nét văn hoá

cũng như đã có nhiều văn bản chỉ đạo nhằm thúc đảy phát triển làng
nghề.
14 | P a g e
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2006 - 2015 của
bộ NN &PTNT là thực hiện chương trình “mỗi làng một nghề”, với mục
tiêu khôi phục và phát triển làng nghề nông thôn để tạo việc làm, tạo thu
nhập từ phi nông nghiệp với các hoạt động như: hỗ trợ phát triển làng nghề
nông thôn, khuyến khích các hộ gia đình, tư nhân, HTX, doanh nghiệp vừa
và nhỏ, đầu tư phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đa dạng, đào
tạo nghề và hỗ trợ chuyển lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp, xây
dựng cơ chế quản lý chất thải làng nghề
(2). Làng nghề với sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn
Điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một yếu tố cực kỳ quan trọng hỗ trợ
phát triển các làng nghề. Khả năng tiếp cận thông tin, điện, nước sạch, giao
thông và các yếu tố khác về cơ sở vật chất là rất cần thiết cho sự phát triển của
các làng nghề. Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt sẽ góp phần mục tiêu nâng
cao chất lượng cuộc sống của người dân, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo ở
nước ta thông qua việc phát triển các ngành nghề tại các làng nghề. Ngược lại,
sự phát triển kinh tế của các làng nghề cũng góp phần đổi mới bộ mặt nông
thôn, cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại đây. (Biểu đồ 2.2)
15 | P a g e
BIỂU ĐỒ 2.2: TỶ LỆ CÁC LÀNG NGHỀ CÓ CÁC DỊCH VỤ XÃ HỘI TRONG
TỔNG SỐ CÁC LÀNG NGHỀ ĐƯỢC KHẢO SÁT
Hạ tầng cơ sở ở những nơi tập trung nhiều làng nghề như khu vực
đồng bằng sông HồngH, Bắc trung bộ và Đông Nam Bộ nhìn chung phát
triển khá tốt do các làng nghề phần lớn được hình thành, phát triển ở
những nơi tiếp cận thuận lợi mạng lưới đường quốc lộ, tỉnh lộ, cùng sự hỗ
trợ của các chính sách từ chính quyền tỉnh, thành phố nhằm thúc đẩy
mạnh mẽ phát triển làng nghề. Khu vực miền núi, cũng có một số làng
nghề phát triển, tuy nhiên điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật vẫn không

3,7% thấp hơn nhiều mức trung bình cả nước là 10,4%.
(4). Làng nghề truyền thống và hoạt động phát triển du lịch
Lợi ích của việc phát triển làng nghề không chỉ là ở kinh tế, giải
quyết việc làm cho lao động địa phương mà còn góp phần bảo tồn được
giá trị văn hoá lâu dài. Điểm chung của làng nghề là thường nằm trên trục
giao thông đường bộ hay đường sông. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc
xây dựng các điểm hoặc tuyến du lịch lữ hành. Ngoài những lợi thế như
cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa lý, nét văn hoá đặc sắc, các làng nghề
còn có sức hút đặc biệt bởi mỗi làng lại gắn với một vùng văn hoá hay
một hệ thống di tích lịch sử. Bên cạnh đó, khách tham quan còn được tận
mắt theo dõi quá trình sản xuất ra các sản phẩm thậm chí là tham gia thực
hành vào một khâu sản xuất nào đó, chính điều này tạo nên sức hấp dẫn
của du lịch làng nghề.
Nhận thức được tiềm năng phát triển du lịch tại làng nghề sẽ góp
phần gia tăng tỷ trọng của nhóm ngành công nghiệp hoặc dịch vụ ở địa
phương, đồng thời tăng thêm cơ hội cho các cơ sở sản xuất thông qua các
hoạt động giới thiệu và bán sản phẩm truyền thống, nâng cao đời sống của
18 | P a g e
người dân thông qua các dịch vụ phụ trợ , điển hình như các tỉnh Hà Tây
(trước đây), Hoà Bình, Bắc Ninh, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng , đã và đang
phát triển mạnh mẽ loại hình du lịch làng nghề. đây là điểm đến của nhiều
tuyến du lịch lữ hành của khách tham quan trong nước đồng thời thu hút
nhiều khách du lịch
19 | P a g e
2.1.1.6. Những tác động tiêu cực đến môi trường của làng nghề
Bên cạnh mặt tích cực, sự phát triển hoạt động sản xuất tại làng
nghề đã phát sinh một số tác động tiêu cực đến môi trường. Những tác
động xấu đến môi trường nhiều năm qua đã làm cho chất lượng môi
trường nhiều làng nghề ngày càng suy giảm, ảnh hưởng không chỉ tới sự
phát triển bền vững ở làng nghề, mà còn ảnh hưởng đến cả tính bền vững

khoa học kỹ thuật, nên đã cản trở việc áp dụng giải pháp khoa học kỹ
thuật mới, không khuyến khích sáng kiến mang hiệu quả BVMT của
người lao động.
- Công nghệ sản xuất và thiết bị phần lớn ở trình độ lạc hậu chắp vá, kiến
thức tay nghề không toàn diện dẫn tới quá trình sản xuất tiêu tốn nhiều nhiên,
21 | P a g e
nguyên liệu làm tăng phát thải nhiều chất ô nhiễm môi trường nước, đất, khí ảnh
hưởng tới gia thành sản phẩm và chất lượng môi trường. Kỹ thuật lao động sản
xuất ở các làng nghề chủ yếu là thủ công, bán cơ khí, chưa có làng nghề nào áp
dụng tự động hóa được thể hiện qua bảng 2.1:
BẢNG 2.1: TRÌNH ĐỘ KỸ THUẬT Ở CÁC LÀNG NGHỀ
Đơn vị tính: %
Trình độ kỹ thuật
Chế biến nông,
lâm, thủy sản
Thủ công mỹ nghệ và
vật liệu xây dựng
Các ngành
dịch vụ
Các ngành
khác
Thủ công, bán cơ khí 61,51 70,69 43,90 59,44
Cơ khí 38,49 29,31 56,10 40,56
Tự động hóa 0 0 0 0
(Nguồn: báo cáo môi trường quốc gia năm 2008)
- Vốn đầu tư của các cơ sở sản xuất tại các làng nghề quá thấp, khó có
điều kiện phát triển hoặc đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi
trường.
Sản xuất mang tính tự phát, không có kế hoạch lâu dài, nên khó huy
động tài chính và vốn đầu tư lớn từ các nguồn khác (quỹ tín dụng, ngân

Các yếu tố chính sách tác động đến sự phát triển của làng nghề:
Có 5 yếu tố chính làm cho làng nghề có thể được hình thành, phát
triển hoặc bị mai một:
(1). Nội lực sản xuất, trong đó đóng vai trò quan trọng là: người đúng
đầu cơ sở sản xuất, cơ sở vật chất và mặt bằng, công nghệ sản xuất, nguyên
nhiên liệu, bản sắc văn hóa, vốn và năng lực kinh doanh của một cơ sở sản xuất
trong làng nghề.
(2). Chính sách Nhà nước, bao gồm các thể chế và chính sách của
các cấp quản lý từ trung ương đến địa phương, như tổ chức hiệp hội,
chính sách thuế, hỗ trợ vốn, hậu thuẫn của các cơ quan quản lý địa
phương.
(3). Tác động của thị trường và vấn đề hội nhập quốc tế.
(4). Yếu tố xã hội như tạo công ăn việc làm, đa dạng hóa loại hình
kinh tế, bảo tồn giá trị văn hóa.
(5). Yếu tố môi trường như tác hại của ô nhiễm tới sức khỏe cộng
đồng, cảnh quan gây tổn thất kinh tế, xã hội.
24 | P a g e
Các yếu tố này được lượng hóa bằng đánh giá của các chuyên gia
trong nhiều lĩnh vực, sẽ cho biết xu thế phát triển của các loại hình làng
nghề. Vì quá nhiều nhân tố khó có thể lường trước được nên kết quả dự
đoán sẽ chỉ là xu thế trong một tương lai gần với một giả thiết nhất định.
25 | P a g e

Trích đoạn Nguồn gõy ụ nhiễm mụi trường nước: Hiện trạng mụi trường nước BẢNG 4.17: CÁC LOẠI BỆNH THƯỜNG MẮC PHẢI Bệnh % số người mắc bệnh Tỏc động đến mụi trường và sức khoẻ cộng đồng ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THU NHẬP VÀ ĐỜI SỐNG CỦA LÀNG NGHỀ.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status