BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN SÂU HẠI, THIÊN ĐỊCH VÀ DIỄN
BIẾN MỨC ĐỘ GÂY HẠI CỦA MỘT SỐ LOÀI SÂU
HẠI CHÍNH TRÊN CÂY ĐIỀU TẠI
ĐỒNG PHÚ – BÌNH PHƯỚC
Họ và tên sinh viên: BÙI KHẮC SƠN
Ngành: NÔNG HỌC
Niên khóa: 2006 - 2010
Tháng 8 năm 2010
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN SÂU HẠI, THIÊN ĐỊCH VÀ DIỄN BIẾN
MỨC ĐỘ GÂY HẠI CỦA MỘT SỐ LOÀI SÂU HẠI CHÍNH
TRÊN CÂY ĐIỀU TẠI ĐỒNG PHÚ – BÌNH PHƯỚC
Tác giả
BÙI KHẮC SƠN
Luận văn được đệ trình để hoàn thành yêu cầu cấp bằng kỹ sư nông nghiệp ngành
Nông học
Giáo viên hướng dẫn:
Th.S LÊ CAO LƯỢNG
Đề tài được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2010 tại huyện Đồng Phú –
tỉnh Bình Phước nhằm nắm bắt tình hình sâu hại trên cây điều ở địa phương . Nghiên
cứu côn trùng gây hại chủ yếu dựa vào phương pháp của Viện Bảo Vệ Thực Vật.
Qua điều tra hiện trạng canh tác cho thấy giống điều chủ yếu là giống địa
phương chưa có sự chọn lọc kỹ. Mật độ trồng khá dày. Việc chăm sóc và đầu tư cho
cây điều như: tưới nước, bón phân và phòng trừ sâu bệnh chưa được quan tâm đúng
mức, sử dụng thuốc mang tính tự phát, ít chú ý đến khả năng phòng của thuốc. Diện
tích bình quân của mỗi hộ khá lớn nhưng sản lượng thu hoạch điều không được cao.
Đã ghi nhận được 19 loài sâu hại và 6 loài thiên địch. Sâu có khả năng gây hại
nặng trên cây điều là bọ đục chồi nâu (Alcides sp.), bọ xít muỗi đỏ (Helopeltis antonii
Sign.), sâu đục cành (Rhytidodera simulans White), bọ ăn lá trắng (Lypesthes sp).
Thiên địch phổ biến là kiến vàng (Oecophylla smaragdina Fab.), bọ ngựa xanh đốm
lưng (Creobroter sp.) và nhện chân gai (Oxyopes sp.).
Bọ đục chồi nâu gây hại nặng nhất vào tháng 5 với tỷ lệ cây và chồi bị hại trung
bình là 73,78% và 25,56%. Ở vườn điều 2 năm tuổi, tỷ lệ cây và chồi bị hại trung bình
là 64,62% và 23,80%. Ở vườn 5 năm tuổi 59,49% và 21,85%. Ở vườn 10 năm tuổi là
46,15% và 13,74%.
Bọ xít muỗi gây hại gia tăng từ tháng 3 – 5, ở tháng 5 tỷ lệ cây và chồi bị hại
trung bình là 38,67% và 8,76%. Ở vườn điều 2 năm tuổi, tỷ lệ cây và chồi bị hại trung
bình là 34,36% và 7,85%.Ở vườn 5 năm tuổi là 28,21% và 6%. Ở vườn 10 năm tuổi là
16,92% và 3,54%.
ii
Sâu đục cành có mức độ biến động không rõ ràng, mức độ gây hại gia tăng qua
3 tháng, đến cuối tháng 5 có xu hướng giãm nhẹ. Tuy nhiên, sâu đục cành có mức độ
gây hại cho cây điều rất cao, cụ thể tỷ lệ cây và cành bị hại ở các tháng 3, 4, 5 lần lượt
là 33,33% và 9,58%; 43,33% và 13,33%; 53,33% và 17%. Tỷ lệ cây và cành bị hại
trung bình ở vườn 5 năm tuổi là 27,69% và 8,33%. Ở vườn 10 năm tuổi là 60,51% và
2.1.4 Một số yêu cầu sinh thái cơ bản của cây điều .................................................7
2.1.5 Biện pháp canh tác: ........................................................................................9
2.1.5.1 Tạo cây giống điều khoẻ: .............................................................................9
2.1.5.2 Kỹ thuật trồng cây: .....................................................................................10
2.1.5.3 Kỹ thuật chăm sóc cây điều: ......................................................................10
2.2 Tình hình nghiên cứu sâu hại trên cây điều .........................................................11
2.2.1 Thành phần sâu hại trên cây điều ..................................................................11
2.2.1.1Trên thế giới ................................................................................................11
2.2.1.2 Ở Việt Nam ................................................................................................13
2.2.2.1 Bọ đục chồi nâu (Alcides sp.).....................................................................14
iv
2.2.2.2 Bọ xít muỗi đỏ (Helopeltis antonii Sign.) ..................................................15
2.2.2.3 Sâu đục cành (Rhytidodera simulans White) .............................................17
2.2.3 Biện pháp phòng trừ sâu hại chính trên cây điều ..........................................18
2.2.3.1 Bọ đục chồi nâu (Alcides sp.).....................................................................18
2.2.3.2 Bọ xít muỗi đỏ (Helopeltis antonii Sign.) ..................................................18
2.2.3.3 Sâu đục cành (Rhytidodera simulans White) .............................................18
Chương 3 .......................................................................................................................19
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................................................19
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................19
3.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu.................................................................19
3.1.2 Điều kiện tự nhiên và khí hậu – thời tiết khu vực nghiên cứu ......................19
3.1.2.1 Điều kiện tự nhiên ......................................................................................19
3.1.2.2 Khí hậu thời tiết..........................................................................................19
3.2 Phương pháp nghiên cứu .....................................................................................20
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu .......................................................................................20
3.2.2 Nội dung nghiên cứu .....................................................................................21
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Ctv
: Cộng tác viên.
MĐGH
: Mức độ gây hại.
Th.S
: Thạc sĩ.
STT
: Số thứ tự.
SV
: Sinh viên.
TP
: Thành phố.
VTXH
: Vị trí xuất hiện.
EC
Hình 4.13. Bọ xít muỗi xanh (Helopeltis sp.) ...............................................................40
Hình 4.14. Nhện ngụy trang kiến vàng (Myrmarachne plataleoides M.) ....................43
Hình 4.15. Nhện chân gai (Oxyopes sp.) ......................................................................43
Hình 4.16. Kiến vàng (Oecophylla smaragdina Fab.)..................................................43
Hình 4.17. Bọ ngựa xanh đốm lưng (Creobroter sp.) ..................................................43
Bảng
Trang
Bảng 3.1. Số liệu khí tượng tại Đồng Phú – Bình Phước từ tháng 2 đến tháng 5 năm
2010. ......................................................................................................................... 20
Bảng 4.1. Hiện trạng canh tác điều năm 2010 ở Huyện Đồng Phú – Tỉnh Bình Phước
.................................................................................................................................. 24
Bảng 4.2. Thành phần sâu hại trên cây điều từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2010 ở Huyện
Đồng Phú – Tỉnh Bình Phước. ................................................................................. 28
Bảng 4.3. Thành phần thiên địch trên cây điều từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2010 ở
Huyện Đồng Phú – Tỉnh Bình Phước ....................................................................... 41
viii
Bảng 4.4. Diễn biến mức độ gây hại của bọ đục chồi nâu trên cây điều từ tháng 3 đến
tháng 5 năm 2010 ở Huyện Đồng Phú – Tỉnh Bình Phước ...................................... 44
Bảng 4.5. Diễn biến mức độ gây hại của bọ xít muỗi đỏ trên cây điều từ tháng 3 đến
tháng 5 năm 2010 ở Huyện Đồng Phú – Tỉnh Bình Phước ...................................... 47
Bảng 4.6. Diễn biến mức độ gây hại của sâu đục cành trên cây điều từ tháng 3 đến
tháng 5 năm 2010 ở Huyện Đồng Phú – Tỉnh Bình Phước ...................................... 50
Biểu đồ
Những nước này không trồng được điều và không áp dụng thuế nhập khẩu hạt điều.
Nguồn cung cấp hạt điều thường hạn chế, do các nước Châu Phi thường có những
đợt hạn hán kéo dài làm cho sản lượng điều không ổn định. Mặt khác, sản phẩm hạt
điều chỉ sản xuất được ở những vùng nhiệt đới, đặc biệt là nhiệt đới ven biển. Đây là
lợi thế so sánh của một số nước mà không phải nước nào trên thế giới cũng có được lợi
thế này.
Hiện tại diện tích cây điều nước ta vượt trên 300.000 ha và Bình Phước là tỉnh
có diện tích trồng lớn nhất cả nước. Trồng điều thì dễ nhưng để đạt năng xuất cao lại là
chuyện khó. Trong suốt thời kỳ sinh trưởng và phát triển cây điều luôn bị tấn công bởi
nhiều loại sâu hại, nhất là trong giai đoạn cây điều đâm chồi và ra lá non. Do đó, việc
nắm bắt thành phần sâu hại và diễn biến gây hại của chúng có vai trò rất quan trọng
trong công tác dự báo từ đó đưa ra các biện pháp bảo vệ thực vật, hạn chế sâu hại đối
với cây điều hiệu quả, đúng lúc để nâng cao hơn nữa hiệu quả phòng trừ sâu hại.
Xuất phát từ yêu cầu đó, để có cái nhìn tổng quát về tình hình sâu hại trên cây
điều ở địa phương, góp phần phục vụ cho công tác dự báo và phòng trị sâu hại. Đề tài:
“Điều tra thành phần sâu hại, thiên địch và diễn biến mức độ gây hại của một số loài
sâu hại chính trên cây điều tại Đồng Phú – Bình Phước.” được tiến hành.
1
1.2. Mục tiêu của đề tài
- Tìm hiểu thực trạng canh tác điều tại Đồng Phú – Bình Phước, ghi nhận thành
phần sâu hại và thiên địch trên cây điều.
- Xác định được diễn biến mức độ gây hại của sâu gây hại nghiêm trọng.
1.3. Các nội dung nghiên cứu
- Điều tra tìm hiểu hiện trạng canh tác điều tại Đồng Phú – Bình Phước.
- Điều tra thành phần sâu hại, thiên địch và diễn biến mức độ gây hại của sâu
hại chính trên cây điều.
1.4. Giới hạn của đề tài
Mặc dù thị phần thế giới của ngành điều Ấn Độ đã giảm mạnh từ 60% năm
1990 xuống còn 55% vào năm 2000 nhưng khối lượng vẫn tăng ổn định. Hiện nay, Ấn
Độ chiếm 44% thị phần thế giới. Trong khi đó năm 2000 thị phần của Việt Nam là
20% và năm 2005 là 38%.Xuất khẩu điều nhân Ấn Độ năm 2004/05 đạt kỷ lục
3
126.667 tấn, dự đoán xuất khẩu điều nhân Ấn Độ trung bình 5 năm tới sẽ đạt khoảng
230.000 tấn mỗi năm, với tốc độ tăng từ 5% đến 8% mỗi năm. Ngành điều Ấn Độ phụ
thuộc rất nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu, chỉ tự đáp ứng được 50% nhu cầu điều
nguyên liệu (Sổ tay kỹ thuật trồng điều ở Đắk Lắk, 2007).
Theo Đường Hồng Dật (1999), hầu như toàn bộ sản lượng của các nước sản
xuất điều đều dành cho xuất khẩu, tiêu thụ trong nước không đáng kể (đây phần lớn là
các nước đang phát triển). Các nước nhập khẩu chủ yếu là các nước phát triển, đứng
đầu là Mỹ (chiếm hơn một nữa lượng hạt điều xuất khẩu của thế giới), tiếp theo là
Anh, Nhật, Đức, Canada, Hà Lan và Úc. Hướng chung hiện nay của các nước sản xuất
là ngày càng giảm xuất khẩu hạt điều thô, tăng xuất khẩu nhân điều để thu hiệu quả
lớn hơn.
Theo sổ tay kỹ thuật trồng điều ở Đắk Lắk (2007), hạt điều hiện được tiêu thụ
trên toàn thế giới. Mỹ chiếm 55% tổng lượng nhập khẩu hạt điều thế giới, tiếp đến là
Hà Lan với 10%, Đức với 7%, Nhật Bản và Anh với 5%. Tiêu thụ hạt điều tại Mỹ liên
tiếp tăng lên vì đây là loại thực phẩm có lợi cho sức khoẻ. Năm 2004, tiêu thụ hạt điều
tại Mỹ đạt mức cao nhất từ trước tới nay, 225 - 230 triệu lb (1lb=0,454 kg).
2.1.2.2 Trong nước
Cây điều được du nhập vào nước ta từ thế kỷ thứ XVIII, ban đầu được trồng
phân tán trong các vườn hộ gia đình và đồn điền. Sau năm 1975 cây điều được chọn là
cây trồng phủ xanh đất trống đồi trọc kết hợp lấy hạt, trái. Từ năm 1980 trở đi, cây điều
được quan tâm mở rộng diện tích trồng theo hướng thu hoạch hạt phục vụ cho chế biến
xuất khẩu. Năm 1988 ngành chế biến xuất khẩu nhân điều được hình thành; diện tích
Nghiệp và Phát triển Nông thôn đã có Quyết định 39/2007/Qđ-BNN, phê duyệt Quy
hoạch phát riển ngành điều đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Một số chỉ
tiêu chủ yếu đến năm 2010 là: diện tích cây điều 450.000 ha, trong đó 360.000 ha cho
thu hoạch, sản lượng hạt thô 500.000 tấn. Tổng công suất chế biến 715.000 tấn hạt
thô/ năm, hạt thô đưa vào chế biến 625.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu 670 triệu USD
(Sổ tay khuyến nông cây điều, 2008).
2.1.3 Đặc điểm thực vật học
Điều là loại cây của vùng nhiệt đới, thường xanh quanh năm, có thể sống lâu tới
30 – 40 năm tuổi hoặc hơn. Điều kiện sống có ảnh hưởng lớn đến hình dạng cây, sự
phát triển của cây và thời gian sống có ý nghĩa kinh tế (Hoàng Chương và Cao Vĩnh
Hải, 1999).
Điều là cây vùng nhiệt đới, cây lâu năm có chiều cao trong điều kiện tự nhiên
khoảng 12 m, tán rộng đến 25 m. Thích ứng rộng trong điều kiện khắc nhiệt khác
5
nhau, cây có thể phát triển ở nhiệt độ cao và hạn chế ở nhiệt độ thấp, vùng nhiệt đới có
thể trồng trên vùng cao nguyên, tuy nhiên không nên trồng khi cao độ tính từ mặt biển
hơn 500 m. Do bộ rễ phát triển nên cây có thể chống chịu khô hạn tốt, cây có thể phát
triển tốt trên vùng có lượng mưa hằng năm từ 800 – 3.200 mm. hoặc đất đai bạc màu,
đất cát, đất có nhiều sỏi đá. Cây có thể cho trái sau 4 -5 năm nếu trồng từ hạt và 3 năm
trồng từ cây ghép (Chi cục bảo vệ thực vật Phú Yên, 2008).
Điều là cây của các vùng bán sa mạc, bộ rễ rất phát triển gồm hệ rễ ngang và rễ
cọc. Hệ rễ ngang phát triển mạnh, có thể lan rộng gấp đôi tầm vươn của mép tán. Rễ
ngang có chức năng tìm kiếm, hút chất dinh dưỡng để nuôi cây, phát triển thân lá,
ra hoa kết trái. Khả năng cung cấp chất dinh dưỡng tùy thuộc vào độ màu mỡ của đất
đai, vào khoảng cách trồng dày hay thưa. Trồng quá dày hoặc để nhiều cỏ dại, cây bụi
cạnh tranh là những nguyên nhân làm cho năng suất điều thấp vì sự phát triển của hệ
rễ ngang bị hạn chế, không cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho cây. Chức năng chính
Trái điều thuộc loại trái giả, còn trái thật chính là hạt điều. Sau khi hoa thụ
phấn, hạt (trái thật) phát triển rất nhanh, trong một tháng rưỡi thì đạt tới kích thước tối
đa, khi đó cuống mới bắt đầu phình to hình thành trái giả,. Trái giả có hình trái lê, còn
non có màu xanh, khi chín chuyển sang màu đỏ, vàng hay hồng tùy giống. Hạt điều
(trái thật) có dạng hạt đậu lớn, màu xám xanh khi còn tươi và trở thành màu nâu khi
khô, hạt mọc ra ở đầu trái nên gọi là đào hột lộn. Hạt gồm 3 phần: vỏ cứng, vỏ lụa và
nhân (Phan Hữu Trinh, 1988).
Không phải bất cứ hoa lưỡng tính nào được thụ phấn cũng phát triển thành quả
và hạt cho đến khi chín. Trong quá trình phát triển có nhiều quả và hạt bị rụng đi gọi là
hiện tượng rụng trái non, tỷ lệ rụng thay đổi từ cây này đến cây khác, từ vụ nọ đến vụ
kia gây tổn thất đến sản lượng vườn điều. Có nhiều nguyên nhân gây nên hiện tượng
rụng trái non: do di truyền, do thời tiết bất thường, do cây bị nhiễm sâu bệnh, hoặc
cũng có thể do đất đai thiếu hụt dinh dưỡng nghiêm trọng (Hoàng Chương và Cao
Vĩnh Hải, 1999).
Theo Phan Hữu Trinh (1988), cây điều trồng được 3 năm tuổi đã cho trái bói
nhưng chỉ thật sự cho nhiều trái từ năm thứ 7 trở đi. Như vậy, có thể nói dưới 3 năm
tuổi là giai đoạn kiến thiết cơ bản của cây điều, từ 3 – 7 năm tuổi là giai đoạn bắt đầu
cho thu hoạch và trên 7 năm tuổi là giai đoạn cho thu hoạch ổn định. Thời gian khai
thác kéo dài từ 30 – 40 năm.
2.1.4 Một số yêu cầu sinh thái cơ bản của cây điều
Cây điều có khả năng sinh trưởng trong một biên độ nhiệt khá rộng, nhưng bản
chất là một loài cây nhiệt đới nên không thích hợp với điều kiện lạnh. Khi nhiệt độ
xuống dưới 18 0C điều sinh trưởng chậm lại, ở nhiệt độ 7 0C cây điều đã ngừng sinh
7
trưởng và nếu kéo dài cây sẽ chết. Chế độ nhiệt thích hợp nhất để cây điều mọc khoẻ,
nhiều trái là nhiệt độ bình quân thấp dưới 20 0C, trong năm không có tháng nào nhiệt
độ bình quân thấp dưới 15 0C (Hoàng Chương và Cao Vĩnh Hải, 1999).
2.1.5 Biện pháp canh tác:
2.1.5.1 Tạo cây giống điều khoẻ:
Để có được một cây con khỏe đủ điều kiện để đem đi trồng thì chúng ta cần chú
ý đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật ngay từ trong vườn ươm:
- Hạt giống trước khi gieo ươm phải được xử lý bằng nước ấm (2 phần nước
sôi và 3 phần nước lạnh, nhiệt độ khoảng 52-550C) hay bằng một số loại thuốc trừ nấm
như Benomyl, Mancozeb, Roval.
- Đất gieo hạt hoặc đất làm ruột bầu cũng phải được xử lý bằng thuốc trừ nấm,
dùng bạt nilon che kín trong 10 ngày sau đó dở bạt trộn đều đất trước khi đóng bầu 3
ngày.
- Xây dựng vườn ươm nơi khô ráo thoáng mát.
- Bảo đảm mật độ gieo vừa phải.
- Nguồn nước tưới cho vườn ươm phải sạch không bị ô nhiễm, không có các
kim loại nặng.
- Về gốc ghép: cây phải khoẻ, sinh trưởng mạnh, thẳng có chiều cao 40-45 cm
và không bị sâu bệnh, đảm bảo đủ tiêu chuẩn làm gốc ghép, không sử dụng những cây
quá yếu làm gốc ghép.
- Về chồi ghép: phải chọn những chồi bánh tẻ, đã đủ tuổi thành thục về mặt
sinh lý, không bị sâu bệnh và phải được lấy trên những cây bố mẹ khoẻ mạnh.
- Kỹ thuật ghép: thao tác ghép phải nhẹ nhàng chính xác, hạn chế các vết
thương cơ giới vì các vết thương này sẽ dễ tạo điều kiện cho các loài sâu bệnh xâm
nhập và gây hại.
- Kỹ thuật chăm sóc cây con trong vườn ươm: phải thường xuyên tiến hành
kiểm tra vườn để phát hiện kịp thời các loài sâu bệnh hại, từ đó đưa ra các biện pháp
phòng trừ hợp lý. Tiến hành bón phân cân đối và tưới nước thích hợp để đảm bảo cây
con khi xuất vườn đủ tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn xuất vườn của cây giống điều ghép như
sau:
+ Tuổi cây: 6 - 8 tháng,
+ Chiều dài tính từ đỉnh chồi ghép lên đến đỉnh sinh trưởng của cây là 15 cm,
còn nơi trú ẩn. Việc cắt cành nhánh được tiến hành làm hai lần trong một năm, lần một
vào lúc ngay sau khi thu hoạch và lần hai vào cuối mùa khô đầu mùa mưa.
- Tiến hành phát quang các bụi cây dại xung quanh vườn điều để hạn chế nơi
cư ngụ của các loài sâu bệnh hại.
- Không trồng xen các cây là ký chủ phụ của các loài sâu bệnh hại điều trong
vườn điều.
10
- Ở những nơi đất bằng hoặc độ dốc nhỏ thì sau khi thu dọn sạch các tàn dư và
cỏ dại trong vườn điều chúng ta có thể tiến hành cày lật đất cho vườn, cách tán cây
khoảng 1m, nhưng phải chú ý hạn chế việc va chạm với cây tạo ra các vết thương cơ
giới. Việc làm này có tác dụng rất tốt trong việc tiêu diệt các loài sâu bệnh tồn tại
trong đất, hạn chế cỏ dại, đồng thời làm cho đất tơi xốp tạo điều kiện cho cây sinh
trưởng phát triển tốt. Công việc này cần được tiến hành 1 lần/ năm và thực hiện vào
cuối mùa khô.
- Vào đầu và cuối mùa mưa tiến hành bón phân cho điều để cây sinh trưởng
phát triển tốt, nhằm có sức đề kháng để hạn chế các loài sâu bệnh hại thì cần bón cân
đối giữa N-P-K. Tăng cường bón phân chuồng, phân hữu cơ hoai mục, mỗi gốc nên
bón từ 10-20 kg. Bón phân tiến hành rãi theo rãnh được đào xung quanh tán cây khi
cây chưa khép tán, khi cây đã khép tán thì bón vào rãnh đào theo hình bàn cờ, không
đào rãnh quá sát gốc cây để tránh cho cây bị đứt rễ tạo điều kiện cho nấm bệnh tấn
công và gây hại.
- Vào mùa khô hoặc thời kỳ cây ra hoa kết quả cần tưới nước cho cây. Do nước
là môi trường lan truyền của rất nhiều loài sâu bệnh do vậy khi tưới nước cần chú ý
một số điểm sau đây:
+ Không nên dùng vòi có dòng chảy mạnh xối trực tiếp vào gốc cây gây trốc
gốc .
+ Không nên dùng vòi nước xịt trên tán cây khi cây đang ở thời kỳ ra hoa đậu
quả.
(Aleurodicus cocois Curtis), sâu khoan bóc vỏ (Analeptes trifasciata Fabr.,
Paranaleptes reticulata Thomson), sâu đục ngọn (Anarsia epotias Meyr., Anthistarcha
binocularis Meyr.), bọ ăn lá (Crimissa cruralis Stal.), bọ xít muỗi (Helopeltis spp.).
Sâu hại chồi (Hypatima haligramma meyr.), sâu cuốn lá và hoa (Macalla moncusalis
Walker, Orthago exvinacea Hamps.), sâu đục thân (Plocaederus spp., Mecocorynus
loripes Chev.), rệp vảy (Pseudoaonidia trilobitiformis Green), bọ trĩ (Selenothrips
rubrocinctus), sâu đục trái và hạt (Thylocoptila panrosema Meyr.)…
Theo Clive P. Topper (2002), thành phần sâu hại chủ yếu trên cây điều như sau:
bọ xít muỗi (Helopeltis anacardii, Helopeltis schoutedenii, Helopeltis antonii), rệp hại
ngọn (Anoplocnemis curvipes), bọ trĩ (Selenothrips sp.), sâu đục thân và bóc vỏ (Apate
aurantiacalis Fisch), sâu đục lá (Acrocercops syngramma Meyrick), mối (Coptofermes
intermedius), bọ ăn tái (Pachnoda sp.), rệp sáp (Pseudococcus longispinus).
Theo Dorthe Joker (2003), sâu hại chính trên cây điều gồm: bọ xít muỗi
(Helopeltis antonii Signoret, Helopeltis anacardii), sâu đục thân (Plocaederus
ferrugenues L.), bọ trĩ (Selenothrips rubrocinctus Giard, Scirtothrips dorsalls Hood),
12
sâu nhả rơ kết lá (Lamida moncusalis Wlk.), sâu hại chồi (Hypatima haligramma
Meyr.) rầy phấn trắng (Aleurodicus cocois Curt.), sâu đục lá (Acrocercops syngramma
Meyr.), sâu đục quả (Nephopteryx spp.), sâu bướm (Salagenea sp.).
2.2.1.2 Ở Việt Nam
Theo Phan Hữu Trinh (1988), các loài sâu hại trên cây điều gồm: bọ xít muỗi
(Helopeltis antonii Signoret, Helopeltis anacardii), sâu đục thân (Plocaederus
ferrugineus L.), sâu giăng màng cuốn lá và hoa (Lamida moncusalis Walker), sâu róm
(cricula trifenestrata), sâu ăn thủng lá (Bombotelia jocosatrix), muỗi trà (Helopeltis
antonii), sâu đục hạt (Phycita leuconeurella).
Theo Đường Hồng Dật (1999), sâu hại trên cây điều thường gặp gồm: bọ đục
nõn (Alcides sp.), bọ xít muỗi (Helopeltis antonii), xén tóc (Plocaederus ferrugeneus,
(Acrocercops sp.), sâu róm đỏ (Cricula trifenestrata L.) và bọ trĩ hại lá (Selenothrip
13
sp.). Thiên địch phổ biến là kiến vàng (Oecophylla smagdina Fab) và bọ ngựa xanh
lớn (Hierodula sp.).
Theo Nguyễn Văn Ngân và Nguyễn Xuân Thành (2007), tại Bình Định các loài
sâu hại phổ biến là bọ xít muỗi (Helopeltis antonii Sign), sâu phồng lá (Acrocercops
sp.), sâu cuốn mép lá (Archips sp.), nhện đỏ (olygonychus coffeae), rệp xáp
dính(Pseudoanidia sp.), rệp muội (Aphis amacardiaceae), sâu nhả tơ kết lá (Lamida
trifenestrata).
2.2.2.1 Bọ đục chồi nâu (Alcides sp.)
Theo Nguyễn Thị Chắt (2000) và Võ Chấp (2004) bọ đục chồi nâu (Alcides sp.)
thuộc họ vòi voi (Curculionidae), bộ cánh cứng (Coleoptera).
Theo hatdieu.net (2006), bọ phấn đầu dài là loài sâu đục chồi 'nguy hiểm nhất
trên cây điều. Sâu trưởng thành có kích thước nhỏ, màu đen, phần miệng kéo dài như
vòi voi.Sâu trưỏng thành dùng mỏ đục lỗ vào mô chồi non để đẻ trứng. Mỗi chồi non
thường bị đục từ 8 đến 10 lỗ nhưng chỉ có 1 -2 trứng được đẻ vào lỗ thứ 8 kể từ ngọn
xuống. Sâu non đục lên ngọn và đục xuống trong lõi chồi non để ẩn náu làm cho lá
non trên chồi bị hại héo và rựng đi, chồi teo lại và không phát triển, cây có khuynh
hướng mọc nhiều chồi nách và hình thành nhiều cành nhánh và sinh trưởng kém. Đặc
biệt khi sâu phá hoại vào đợt chồi chuẩn bị ra hoa có thể làm giảm năng suất nghiêm
trọng.
Theo Nguyễn Thị Chắt (2000), trứng Alcides sp. hình oval tròn, mới đẻ có màu
trắng, gần nở có màu xám, đường kính trứng biến động từ 1,61 ± 0,29 mm. Ấu trùng
màu trắng đục, đầu màu nâu vàng, không chân. Nhộng dạng trần được hình thành
trong đường đục. Khi mới hóa nhộng, nhộng có màu trắng ngà, sau chuyển sang vàng
nâu, gần vũ hóa nhộng màu nâu đen. Chiều dài của nhộng biến động từ 7,98 ± 1,45
mm. Thành trùng có màu nâu đen, lưng hơi võng xuống và phủ một lớp bột gỗ màu đỏ