Phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ trong bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam? Vận dụng nguyên tắc này vào trong tổ chức và hoạt động của Chính quyền địa phương - Pdf 53

A.Mở Đầu
Bộ máy cơ quan nhà nước được cấu thành từ hệ thống các cơ quan nhà
nước, mỗi cơ quan nhà nước có vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm vụ, thẩm
quyền, cơ cấu tổ chức và hoạt động khác nhau, nhưng lại có mối liên hệ mật
thiết với nhau, cùng dựa trên các nguyên tắc tổ chức và hoạt động thể hiện sự
gắn kết mỗi cơ quan nhà nước với nhau để vận hành bộ máy nhà nước theo thể
thống nhất và hiệu quả. Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận một cách đầy đủ các
nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam
dưới dạng các quy phạm pháp luật cụ thể. Theo đó, Hiến pháp năm 2013 đã quy
định các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
CHXHCN Việt Nam rất cụ thể, trong đó nguyên tắc tập trung dân chủ là một
nguyên tắc quan trọng bậc nhất của việc quản lí bộ máy nhà nước CHXHCN
Việt Nam. Chính vì vậy, em đã lựa chọn chủ đề “Phân tích nguyên tắc tập
trung dân chủ trong bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam? Vận dụng
nguyên tắc này vào trong tổ chức và hoạt động của Chính quyền địa
phương.” làm chủ đề cho bài tiểu luận của em trong bộ môn Hiến Pháp.


B. Nội Dung
1. Các khái niệm cơ bản
1.1 Bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam
Bộ máy nhà nước bao gồm các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương,
liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành một thể thống nhất, một hệ thống các cơ
quan nhà nước hay còn gọi là bộ máy nhà nước. Bộ máy nhà nước đó được tổ
chức và hoạt động theo những nguyên tắc luật định.
Căn cứ vào trật tự hình thành cũng như tính chất, vị trí, chức năng của các cơ
quan nhà nước, thì bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao
gồm bốn hệ thống:
 Hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước hay còn gọi là các cơ quan đại

diện, bao gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân trực

thực hiện mô hình phi dân chủ thì sẽ dẫn đến hệ thống chuyên quyền, độc
đoán, quan liêu dẫn đến trong hoạt động của hệ thống không có hiệu quả.
Nếu thực hiện hệ thống phi tập trung thì sẽ dẫn đến sự rối loạn trong hệ thống
sẽ đưa đến tình trạng tự phát làm cho hệ thống quản lí không có hiệu quả
Cơ sở hình thành nguyên tắc tập trung dân chủ đó là khách quan; thứ nhất,
xuất phát từ vai trò và vị trí của nhà nước trong quản lí, từ sự phát triển của
trình độ lực lượng sản xuất và tương ứng với nó là trình độ phân công lao
động và hợp tác lao động.


Xuất phát từ nhu cầu đảm bảo hiệu quả trong hoạt động của hệ thống quản lý,
điều này diễn ra bởi lẽ nền kinh tế nhiều thành phần, có sự phân công lao
động cao, nảy sinh ra yêu cầu phải tổ chức hợp tác trong lao động bảo đảm
cho mọi cá nhân, mỗi doanh nghiệp có tính tự chủ động trong sản xuất kinh
doanh, nhằm phát huy nhân tố tối cao : khả năng, tính năng động sáng tạo
trong thực hiện mọi công việc. Trong quá trình hợp tác lao động đó phải có
tính dân chủ, tuy nhiên mọi hoạt động trong hệ thống đều phải đảm bảo
hướng đến mục tiêu chung nhất mà Đảng ta xác định nhằm bảo đảm sự ổn


định trong quá trình đi đến mục tiêu, tránh sai lệch định hướng xã hội chủ
nghĩa, do đó đòi hỏi vừa phải có dân chủ.
 Nguyên tắc tập trung dân chủ còn xuất phát từ vai trò và địa vị của nhà nước

trong quản lý. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, dựa trên chế độ công hữu về tư
liệu sản xuất chủ yếu, chính bản thân nó định ra yêu cầu phải quản lý tập
trung trong nền kinh tế, vì những tư liệu sản xuất chủ yếu nằm trong tay nhà
nước nên yêu cầu phải được nhà nước quản lý tập trung mới phát huy được
tác dụng, hiệu quả.
 Mặt khác, chế độ công hữu cũng nảy sinh yêu cầu dân chủ trong quản lý. Vì

Xu hướng tập trung được biểu hiện ở 2 nội dung : thứ nhất, tập trung là sự thống
nhất về tư tưởng và hành động của tất cả các thành viên trong hệ thống. Thứ 2
đó là sự tập trung quyền lực để giải quyết các công việc phát sinh trong hệ
thống, tức là phải có đủ quyền lực để giải quyết mọi vấn đề có sự lảnh đạo, quản
lý, điều hành thông suốt. Do đó tập trung là 1 xu hướng cần thiết.
Về xu hướng dân chủ thì hiện nay có 2 quan điểm khác nhau về dân chủ. Quan
điểm thứ nhất là: Dân chủ là quyền và trình độ dân chủ tương ứng với quyền lực
của đối tượng quản lý. Nếu hiểu theo quan điểm này dễ dẫn tới tình trạng dân
chủ quá đà tự phát, tự do vô chính phủ. Vì quyền bao quát hết nội dung dân chủ
và quyền phải hiểu theo nghĩa là làm rõ cái gì, cái gì không làm rõ, do đó dân
chủ không đồng nghĩa với quyền. Quan điểm coi dân chủ là môi trường, là điều
kiện để phát triển của mỗi cá nhân. Như vậy, dân chủ là môi trường, là điều kiện
để phát triển của mỗi cá nhân có được những cơ hội phát triển hoàn thiện trong
sự phát triển của xã hội, của cộng đồng. Tùy thuộc khả năng và mức độ ảnh
hưởng của các cá nhân tới quyết định chung của cộng đồng, tới việc giải quyết
công việc chung mà có thể thấy một xã hội dân chủ đến mức nào.


Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở để
xây dựng mô hình tổ chức quản lý còn gọi là nguyên tắc phân công, phân cấp,
đồng thời còn là cơ sở để xây dựng cơ chế quản lý kinh tế .
- Để vận dụng và thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ cần có 2 điều
kiện về nhận thức và thực tiễn. Về mặt nhận thức thì cần phải nhận thức đúng
vai trò của tập trung và vai trò của dân chủ trong quan hệ tập trung - dân chủ.
Trong quan hệ tập trung dân chủ thì tập trung bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo,
nó định hướng cho các biện pháp dân chủ nhằm để đảm bảo sự tồn tại và tạo ra
khả năng phát triển của hệ thống. Mất đi sự tập trung là mất đi sự thống nhất
trong hoạt động của hệ thống dẫn tới tình trạng tổ chức sẽ bị biến dạng. Ngoài
ra, tập trung còn là cơ sở định hướng để giải quyết các nội dung, biện pháp thực
hiện dân chủ; còn dân chủ thì có vai trò tạo cơ sở về xã hội, kinh tế, chính trị để

pháp lý cho nội dung dân chủ, định ra những khuôn khổ, những giới hạn cần
thiết để đảm bảo dân chủ đúng hướng, bản chất quyền tập trung dân chủ xã hội
chủ nghĩa.

2. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong bộ máy nhà nước
CHXHCN Việt Nam
2.1 Cơ sở pháp lí
Theo khoản 1 Điều 8 Hiến pháp 2013:
”Điều 8
1. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý


hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.”

2.2 Phân tích nội dung
Trong bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam, quyền lực nhà nước tập trung
vào cơ quan nhà nước ở trung ương. Có sự kiểm tra, giám sát việc thực thi


quyền lực nhà nước tập trung vào cơ quan nhà nước ở trung ương. Có sự
kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước từ trung ương đến địa
phương; cơ quan quyền lực nhà nước ( Quốc hội, Hội đồng nhân dân) có
quyền giám sát hoạt động đối với các cơ quan khác trong bộ máy nhà
nước( cơ quan hành chính, cơ quan xét xử…); cơ quan nhà nước cấp trên có
quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan cấp dưới. Trong tổ chức và
hoạt động của bộ máy, cơ quan nhà nước cấp trên quyết định và tổ chức thực
hiện chủ trương, chính sách, pháp luật quan trọng; kiểm tra việc chấp hành
của cơ quan cấp dưới.

Có sự thống nhất của pháp luật từ trung ương đến địa phương xuất phát từ

Tập trung dân chủ là nguyên tắc có nguồn gốc từ nguyên tắc tập quyền trong
nhà nước phong kiến, phát triển tích cực ở các nước tư sản và được phát triển
thành tập trung – dân chủ ở nước ta giai đoạn hiện nay. Tập trung dân chủ
bao gồm hai vế: tập trung và dân chủ, trong đótập trung là sự thâu tóm quyền
lực của cấp trên, cấp Trung ương; dân chủ là việc mở rộng quyền cho cấp
dưới, cấp địa phương. Nguyên tắc này quy định trước hết là sự lãnh đạo tập
trung, nhưng không phải là tập trung tuyệt đối, mà chỉ đối với những vấn đề
cơ bản, chính yếu nhất, bản chất nhất của quản lí hành chính nhà nước. Nếu
không có dân chủ thì bộ máy nhà nước rơi vào tình trạng quan liêu, lộng
quyền gây ảnh hưởng xấu đến đất nước.
Nguyên tắc này được thể hiện trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước ở một số khía cạnh cơ bản như sau:
- Thứ nhất, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước do nhân dân xây dựng
nên. Quốc hội, hội đồng nhân dân và các cơ quan nhà nước đều được tổ chức và
hoạt động theo nguyên tắc này. Nhân dân bầu ra đại diện cho mình trong cơ
quan quyền lực nhà nước là Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Cơ quan
quyền lực nhà nước lại bầu ra các thành viên của Chính phủ, ủy ban nhân dân
các cấp là những cơ quan hành chính nhà nước, xây dựng pháp luật về tổ chức
và hoạt động của bộ máy nhà nước trên nguyên tắc tập trung – dân chủ. Như
vậy, nguyên tắc này được tuân thủ trong toàn bộ máy nhà nước.
- Thứ hai, quyết định của cấp trên, của trung ương buộc cấp dưới, địa phương
phải thực hiện. Đây là biểu hiện của sự tập trung quyền lực vào cơ quan cấp
trung ương, đồng thời dân chủ trong việc huy động sự chủ động, sáng tạo trong
thực hiện quyết định của các cấp địa phương.


- Thứ ba, những vấn đề quan trọng của cơ quan nhà nước phải được đưa ra thảo
luận tập thể và quyết định theo đa số. Đây là biểu hiện của sự tập trung trong
việc thống nhất ý kiến, dân chủ trong việc đóng góp ý kiến và quyết định cuối
cùng.

cấp dưới chịu sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân cấp trên. Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh chịu sự chỉ đạo của Chính phủ”. Khoản 7 Điều 17 quy định về nhiệm vụ,
quyền hạn của HĐND cấp tỉnh: “Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định, chỉ
thị trái pháp luật của Uỷ ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết trái pháp luật của
Hội đồng nhân dân cấp huyện”
+ Mặt khác, cấp trên, trung ương cũng phải tôn trọng ý kiến của cấp dưới, địa
phương về công tác tổ chức, hoạt động và về các vấn đề khác của quản lý hành
chính nhà nước. Sự phục tùng mệnh lệnh không mang ý nghĩa tuyệt đối, phục
tùng vô điều kiện mà là sự phục tùng những mệnh lệnh hợp pháp trên cơ sở quy
định của pháp luật. Cấp trên, trung ương phải tạo điều kiện để cấp dưới, địa
phương phát huy sự chủ động, sáng tạo nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được
giao, nhằm chủ động thực hiện được "thẩm quyền cấp mình". Có như thế mới
khắc phục tình trạng quan liêu, áp đặt ý chí, làm mất đi tính chủ động sáng tạo
tự chịu trách nhiệm của địa phương, cấp dưới.
Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đều tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc song trùng trực thuộc. Sự phụ thuộc này thể hiện ở cả hai mặt là tổ
chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước. Điều này được thể hiện ở
việc:
Ðối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung một mặt phụ thuộc vào cơ quan
quyền lực nhà nước cùng cấp, mặt khác phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà


nước cấp trên. Biểu hiện của nó là ở việc Uỷ ban nhân dân trực thuộc Hội đồng
nhân dân cùng cấp hoặc Quốc hội (mối phụ thuộc ngang) và Uỷ ban nhân dân
cấp trên hoặc Chính phủ ( mối phụ thuộc dọc ).
Đối với cơ quan chuyên môn, một mặt phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà
nước có thẩm quyền chung cùng cấp, mặt khác nó phụ thuộc vào cơ quan hành
chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cấp trên trực tiếp. Chẳng hạn như:
Sở tài nguyên và môi trường của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội chịu sự
quản lí của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội và Bộ tài nguyên và môi trường.

thể hiện ở chất lượng thực hiện một số nội dung của nguyên tắc; kiểm tra việc
chấp hành nguyên tắc chưa đầy đủ, chưa ngang tầm yêu cầu xây dựng đảng bộ
cơ sở trong sạch, vững mạnh... Một khảo sát về khó khăn, vướng mắc và nguyên
nhân hạn chế, khuyết điểm trong thực hiện nguyên tắc TTDC ở cơ sở được chia
theo 4 nhóm vấn đề cho kết quả như sau: 1- Liên quan đến vấn đề nhận thức: Có
biểu hiện xem nhẹ ý nghĩa, tầm quan trọng của nguyên tắc hoặc chưa hiểu đúng
bản chất, đủ nội dung của nguyên tắc trong thực tiễn; thực hiện sai nguyên tắc
do kém hiểu biết. 2- Liên quan đến văn bản quy định, hướng dẫn: Chưa có văn
bản cụ thể hoá những nội dung của nguyên tắc, quy định trách nhiệm cụ thể cho
tập thể, cá nhân và các chế tài xử lý khi vi phạm nguyên tắc. 3- Liên quan đến
vấn đề tổ chức thực hiện: Có hiện tượng biến dạng trong thực hiện nguyên tắc
hoặc lợi dụng nguyên tắc để vụ lợi, thực hiện ý đồ cá nhân; tính gương mẫu và
năng lực tổ chức thực hiện của người đứng đầu cấp ủy hạn chế; chưa có chương
trình kiểm điểm việc thực hiện quy chế ở các cấp uỷ, tổ chức đảng; tổ chức kiểm
điểm, tự phê bình và phê bình chưa khoa học, thiếu trọng tâm, trọng điểm,
không thường xuyên, không thông báo kết quả tự phê bình, phê bình cho đảng
viên biết để theo dõi, giám sát việc sửa chữa; tính tự giác, thẳng thắn trong phê


bình rất hạn chế, việc phân tích, đánh giá chất lượng TCCSĐ, đảng viên, cán bộ
hằng năm chưa thực chất, hiệu quả thấp. 4- Liên quan đến các yếu tố khác thể
hiện ở việc chưa có cơ chế động viên, khuyến khích thích đáng, bảo vệ an toàn
người đấu tranh phê bình thẳng thắn, tố cáo tiêu cực, tham nhũng; thông tin
cung cấp không đầy đủ, không khách quan, thiếu chính xác, không kịp thời;
chưa có cơ chế chất vấn, phản biện trong Đảng để tránh cho cấp uỷ, tổ chức
đảng đề ra các chủ trương, chính sách không sát thực tế, kém tính khả thi hoặc
vi phạm pháp luật.
Để khắc phục những thiếu sót trên, góp phần nâng cao chất lượng thực hiện
nguyên tắc TTDC, đòi hỏi các đảng bộ cơ sở cần tiếp tục nâng cao nhận thức,
khả năng tổ chức thực hiện nguyên tắc TTDC cho cấp ủy viên và đội ngũ đảng

chế là những quy định trực tiếp cho hoạt động lãnh đạo của cấp ủy, từng cấp ủy
viên, đồng thời là căn cứ, tiêu chuẩn để đánh giá vai trò, trách nhiệm, hiệu quả,
hiệu lực công tác lãnh đạo. Các cấp ủy viên phải nắm chắc nội dung quy chế, có
ý thức trách nhiệm cao, chấp hành nghiêm nội dung và yêu cầu của quy chế.
Qua thực tiễn, những điều chưa phù hợp cần được kịp thời điều chỉnh và khi có
những quy định mới của cấp trên phải nhanh chóng cụ thể hóa, bổ sung vào nội
dung quy chế.
Một biện pháp có tính khả thi cao để nâng cao chất lượng thực hiện nguyên tắc
TTDC là cần phải tăng số lượng và nâng cao chất lượng các ý kiến trong hội
nghị của các tổ chức đảng ở cơ sở. Bởi, “khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã
tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân
lý”. Do đó, bên cạnh việc nâng cao trình độ trí tuệ cho đội ngũ đảng viên, năng
lực tư duy làm cơ sở cho việc vận dụng vào quá trình chuẩn bị và ra các quyết
định, phải tìm những hình thức, biện pháp phát huy mạnh mẽ dân chủ nội bộ. ý
kiến đề xuất phải chỉ rõ được những vấn đề yếu kém, nổi cộm, bức xúc để thảo
luận cách giải quyết, tránh dài dòng, sai lệch trọng tâm, không rõ chính kiến.
Cần xác định việc tham gia ý kiến, trình bày chính kiến cá nhân trong sinh hoạt
đảng là nhiệm vụ bắt buộc đối với mỗi đảng viên và phải được quy định rõ ràng,
trở thành một tiêu chí đánh giá, phân loại đảng viên, đánh giá kết quả hoàn thành


nhiệm vụ và trách nhiệm, vai trò đảng viên trong công tác xây dựng đảng. Đồng
thời, cần kiên quyết đấu tranh khắc phục hiện tượng dân chủ hình thức và mọi
biểu hiện của tệ quan liêu, gia trưởng, độc đoán trong tổ chức đảng. Đồng chí bí
thư (hoặc cấp ủy viên được ủy quyền) thay mặt cấp ủy chủ trì các cuộc họp phải
chủ động điều hành hội nghị đi đúng trọng tâm, phải biết lắng nghe, định hướng,
khêu gợi vấn đề, phát hiện và kết luận vấn đề một cách chính xác, khắc phục
tình trạng kết luận chung chung, dung hòa các ý kiến cốt làm vừa lòng mọi
người. Từng đồng chí cấp ủy viên phải rèn luyện ý thức dân chủ, bình đẳng
trong tranh luận, thảo luận, tránh gò ép, áp đặt ý nghĩ chủ quan đối với ý kiến

tắc TTDC, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ
gìn đoàn kết nội bộ”. Cần kết hợp kiểm tra, giám sát thường xuyên, định kỳ và
bất thường, linh hoạt sử dụng các hình thức kiểm tra cụ thể; bảo đảm thường
xuyên nắm vững thực chất tình hình chấp hành nguyên tắc TTDC, chấp hành
nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của tổ chức đảng; kịp thời phát hiện, xem
xét, kết luận, xử lý đúng người, đúng tội đối với những đảng viên có sai phạm
trong chấp hành nghị quyết hoặc có những lời nói, việc làm trái với quan điểm
của Đảng, độc đoán, chuyên quyền và công khai việc xử lý kỷ luật những trường
hợp đã rõ là phạm pháp.

C. Kết luận
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc quan trọng trong điều hành và quản
lí bộ máy nhà nước. Thực hiện tốt nguyên tắc này đòi hỏi những sự cố gắng của
các cơ quan, các ban ngành cùng toàn thể nhân dân, không chỉ thực hiện tốt tập
chung là đưa quyền lực về người đứng đầu nhưng không hoàn toàn mà còn phải
có dân chủ - đó là sự đóng góp ý kiến của các cơ quan cấp dưới, xây dựng ý kiến
một cách tích cực. Tập trung quá thì dẫn đến quan liêu,sách nhiễu; dân chủ quá
thì dẫn đến sự lạm quyền ý kiến không đi được đến đích. Chính vì vậy chúng ta
phải cố gắng nỗ lực hết sức hơn nữa để phát huy tính tiềm năng của nguyên tắc
này góp phần xây dựng đất nước vững mạnh hơn.



Danh sách tài liệu tham khảo
1.

Hiến Pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013;

2.






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status