BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
NGÔ THỊ DỊU
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG KHÁNG
CHOLINESTERASE TRÊN MÔ HÌNH GÂY
SA SÚT TRÍ NHỚ BẰNG SCOPOLAMIN CỦA
CAO ĐAN SÂM (Salvia miltiorrhiza Bunge)
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
HÀ NỘI – 2018
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
NGÔ THỊ DỊU
Mã sinh viên: 1301051
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG KHÁNG
CHOLINESTERASE TRÊN MÔ HÌNH GÂY
SA SÚT TRÍ NHỚ BẰNG SCOPOLAMIN CỦA
CAO ĐAN SÂM (Salvia miltiorrhiza Bunge)
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1. PGS.TS. Đào Thị Vui
2. DS.NCS. Trần Thị Loan
Nơi thực hiện:
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT ............................................................i
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................................. ii
DANH MỤC CÁC HÌNH ............................................................................................. iii
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................................1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN ...........................................................................................3
1.1. Bệnh Alzheimer ....................................................................................................3
1.1.1. Dịch tễ ..........................................................................................................3
1.1.2. Nguyên nhân gây bệnh. .................................................................................3
1.1.3. Cơ chế bệnh sinh ...........................................................................................4
1.1.4. Điều trị ...........................................................................................................6
1.2. Các mô hình và phƣơng pháp nghiên cứu tác dụng điều trị sa sút trí nhớ trên
thực nghiệm .................................................................................................................9
1.2.1. Phƣơng pháp đánh giá tác dụng kháng enzym acetylcholinesterase in vitro 9
1.2.2. Các mô hình nghiên cứu ..............................................................................10
1.2.3. Một số phƣơng pháp đánh giá khả năng về trí nhớ của động vật thí nghiệm
...............................................................................................................................12
1.3. Đan sâm ..............................................................................................................14
1.3.1. Tên khoa học ...............................................................................................14
1.3.2. Đặc điểm hình thái.......................................................................................14
1.3.3. Phân bố và bộ phận dùng.............................................................................15
1.3.4. Thành phần hóa học.....................................................................................15
1.3.5. Tác dụng dƣợc lý .........................................................................................16
1.3.6. Các nghiên cứu liên quan đến tác dụng điều trị Alzheimer ........................16
CHƢƠNG 2: NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ..............................................................................................................19
2.1. Nguyên vật liệu, thiết bị .....................................................................................19
2.1.1. Nguyên liệu nghiên cứu...............................................................................19
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
AD
Alzheimer (Alzheimer disease)
ACh
Acetylcholin
AChE
Acetylcholinesterase
APOE
Apolipoprotein
APP
Protein tiền chất amyloid (Amyloid precursor protein)
ATCI
Acetylthiocholin iodid
Aβ
Beta-amyloid
Ethylacetat
IC50
Nồng độ ức chế 50%
NMDA
N-methyl-D-aspartat
n-hexan 1
Cao phân đoạn n-hexan nồng độ 17,5 mg/kg
n-hexan 2
Cao phân đoạn n-hexan nồng độ 35 mg/kg
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1 Hỗn hợp phản ứng trong mỗi giếng
23
Trang
Hình 2.1
Quy trình chiết xuất dƣợc liệu.
20
Hình 2.2
Sơ đồ thiết kế nghiên cứu.
22
Hình 2.3
Sơ đồ thiết kế nghiên cứu đánh giá tác dụng trên mô hình
25
Alzheimer thực nghiệm bằng scopolamin của Đan sâm.
Hình 2.4
Minh họa test mê lộ chữ Y
26
Hình 2.5
hoặc độc tính với gan. Trƣớc thực tế bệnh nhân mắc Alzheimer ngày càng gia tăng,
bệnh nhân phải sử dụng thuốc lâu dài do đây là bệnh mạn tính và chƣa có cách chữa
khỏi hoàn toàn, việc tìm kiếm các thuốc mới đặc biệt là các dƣợc liệu có hiệu quả và
an toàn để điều trị Alzheimer là rất cần thiết.
Đan sâm (Salvia miltiorrhiza Bunge) là cây thuốc mọc tự nhiên và đƣợc trồng ở
nhiều nơi ở nƣớc ta nhƣ Sapa, Bắc Hà (Lào Cai), Tam Đảo, Hà Nội, Phú Thọ, Thanh
Hóa đã đƣợc sử dụng rộng rãi để điều trị bệnh tim mạch và mạch máu não. Trong
những năm gần đây, Đan sâm trở thành đối tƣợng tiềm năng trong điều trị các bệnh lý
liên quan đến thần kinh nhƣ bệnh Alzheimer. Một số nghiên cứu cho thấy Đan sâm có
tác dụng ức chế acetylcholinesterase trong dịch nghiền đồng thể não chuột [46] và trên
in vitro [36],[45], đồng thời nhiều nghiên cứu cũng cho thấy tác dụng của Đan sám
trong việc cải thiện trí nhớ của trên mô hình gây sa sút trí tuệ động vật thí nghiệm
[37],[39], [42].
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá tác dụng kháng
cholinesterase trên mô hình gây sa sút trí nhớ bằng scopolamin của cao Đan sâm
(Salvia miltiorrhiza Bunge)” với hai mục tiêu chính sau:
1. Đánh giá ảnh hƣởng của cao rễ Đan sâm đến hoạt độ enzym cholinesterase in
vitro.
2. Đánh giá tác dụng của cao rễ Đan Sâm trên mô hình gây sa sút trí nhớ thực
nghiệm bằng scopolamin.
Để đạt đƣợc các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, các nội dung nghiên cứu của đề
tài nhƣ sau:
1
Thực hiện mục tiêu 1
Đánh giá ảnh hƣởng của cao toàn phần và các cao phân đoạn từ cao rễ Đan sâm
ngƣời vào năm 2025 [26]. Với tuổi cao hơn (85 trở lên), tỷ lệ này ở nhiều nƣớc có thể
lên đến 50%, có nghĩa là cứ 2 ngƣời thì sẽ có 1 ngƣời mắc [5].
Vấn đề trở lên nghiêm trọng hơn khi ta biết trong tƣơng lai, số ngƣời già ngày
càng nhiều và suy giảm trí tuệ, nhất là thể Alzheimer, loại nặng, hủy hoại toàn bộ hoạt
động tâm thần, hiện chƣa có cách chữa trị khỏi hoàn toàn. Trong điều kiện nhƣ vậy, sự
khó khăn đối với ngƣời cao tuổi cũng nhƣ gánh nặng do Alzheimer gây ra cho gia đình
và xã hội là hết sức nặng nề [5].
1.1.2. Nguyên nhân gây bệnh.
Nguyên nhân chính xác của Alzheimer chƣa đƣợc xác định rõ. Tuy nhiên, hiện
nay đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới đƣa ra giả thuyết về nguyên nhân gây ra
Alzheimer có liên quan đến một số yếu tố di truyền và yếu tố môi trƣờng. Trong đó,
các yếu tố di truyền đã đƣợc cho là có liên kết với Alzheimer cả thể khởi phát sớm và
muộn [9], [32].
Yếu tố di truyền, đến nay đã đƣợc xác nhận là một trong các nguyên nhân gây
Alzheimer. Yếu tố di truyền đƣợc thấy ở 5% các bệnh nhân Alzheimer và là
Alzheimer khởi phát sớm. Tuy nhiên, trong gia đình ngƣời mang các biến dị nhiễm sắc
thể gây bệnh Alzheimer vẫn có sự khác nhau về tuổi khởi phát bệnh cũng nhƣ biểu
3
hiện các triệu chứng. Hơn một nửa các trƣờng hợp di truyền chủ yếu đƣợc phát hiện
sớm có thể là do sự thay đổi nhiễm sắc thể số 1, 14 và 21. Sự gắn kết về di truyền đối
với Alzheimer khởi phát muộn chủ yếu liên quan đến kiểu gen apolipoprotein E
(APOE) [32].
Ngoài ra, các yếu tố môi trƣờng cũng góp phần làm tăng nguy cơ mắc
Alzheimer, bao gồm tuổi tác, giảm khả năng lƣu trữ não bộ (giảm kích thƣớc não bộ,
trình độ học vấn thấp, giảm hoạt động tinh thần và thể chất trong cuộc sống), chấn
thƣơng đầu, hội chứng Down, trầm cảm, suy giảm nhận thức nhẹ (MCI), và các yếu tố
nguy cơ cho bệnh mạch máu (tăng cholesterol máu, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch,
bệnh mạch vành, hút thuốc, tăng homocystein, béo phì, hội chứng chuyển hóa và đái
kinh, từ đó cải thiện đƣợc khả năng nhận thức và trí nhớ [45].
Giả thuyết amyloid
Hiện nay, giả thuyết về cơ chế bệnh sinh của Alzheimer đƣợc quan tâm hơn cả là
giả thuyết amyloid, mặc dù chƣa có thuốc điều trị Alzheimer theo cơ chế này. Theo giả
thuyết amyloid, sự thoái hóa thần kinh trong Alzheimer bắt nguồn từ thoái hóa bất
thƣờng của protein tiền amyloid (APP) và dẫn đến sự hình thành, tập hợp và lắng đọng
của các peptid Aβ độc. APP là một protein màng tế bào nằm xuyên qua màng tế bào
thần kinh, đƣợc tổng hợp trong lƣới nội chất vận chuyển qua các túi tiết và đƣợc phân
tách trong phức hợp Golgi. Trong phức hợp Golgi, APP đƣợc phân tách bằng các
enzym α, β và γ- secretase. Sự phân cắt APP bởi α-secretase ở giữa Lys16 và Leu17
tạo ra một phức hợp hòa tan của APP (sAPPα), có tác dụng bảo vệ thần kinh. Trong
khi đó, β và γ-secretase phân tách APP tạo ra các đoạn β-peptide khác nhau và không
tan. Những đoạn peptide này đã đƣợc thấy đóng vai trò lớn trong việc tạo ra các mảng
bám amyloid ở gian bào các tế bào thần kinh,đặc trƣng của bệnh lý Alzheimer. Các
mảng chủ yếu hình thành là Aβ1-40 và Aβ1-42. Aβ1-40 tan, ít độc thần kinh và chủ
yếu đƣợc tìm thấy trong não khỏe mạnh, trong khi Aβ1-42 có độc tính thần kinh cao
và chủ yếu đƣợc tìm thấy trong não mang bệnh lý Alzheimer [35]. Sự lắng đọng, kết
tập Aβ-42 sẽ tạo ra các mảng không tan, lắng đọng tại vùng hải mã và vỏ não tạo điều
kiện cho các các phản ứng viêm xảy ra, từ đó dẫn đến chết neuron, mất synap, tổn
thƣơng và chết tế bào thần kinh [4],[35].
Giả thuyết protein tau
Protein tau là thành phần chính của đám rối sợi trong tế bào thần kinh đƣợc tìm
thấy trong não của bệnh nhân mắc Alzheimer. Tau là một protein hòa tan có trong các
tế bào thần kinh, đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển của sợi trục và sự phát triển
thần kinh bằng cách ổn định việc hình thành các vi ống thần kinh. Trong điều kiện
bình thƣờng, cân bằng giữa enzym phosphatase và kinase duy trì cả hai trạng thái
phosphoryl hóa và de-phosphoryl hóa của tau. Trong điều kiện bệnh lý, sự mất cân
5
tự chăm sóc bản thân (mặc quần áo, tắm rửa, vệ sinh và ăn uống),.. Các thuốc hiện nay
6
không điều trị khỏi bệnh. Chính vì vậy, mục tiêu chính của điều trị Alzheimer là làm
chậm tiến triển của bệnh, điều trị những triệu chứng khó khăn nhận thức, điều trị các
di chứng tâm thần, hành vi và duy trì các chức năng của bệnh nhân bình thƣờng càng
lâu càng tốt [32].
1.1.4.2. Các thuốc điều trị
Từ mục tiêu điều trị, hiện nay có hai nhóm thuốc lớn trong điều trị Alzheimer là
thuốc điều trị rối loạn nhận thức và thuốc điều trị rối loạn không thuộc nhận thức.
1.1.4.2.1. Thuốc điều trị rối loạn nhận thức
Hiện nay, các thuốc điều trị Alzheimer đƣợc nghiên cứu dựa trên cơ chế bệnh
sinh của bệnh. Các thuốc điều trị Alzheimer bao gồm hai nhóm thuốc chính: chất ức
chế enzym acetylcholinesterase (AChE) và chất đối kháng thụ thể N-methyl-Daspartat (NMDA). Bốn chất ức chế AChE đã đƣợc Cục Quản lý Thực phẩm và Dƣợc
phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt là tacrin, donepezil, rivastigmin và galantamin [26],
[29]. Tuy nhiên tacrin hiện đã không còn đƣợc sử dụng tại Hoa Kì do tác dụng phụ
trên gan phụ thuộc liều quá lớn [32].
Chất ức chế enzym acetylcholinesterase
Sự thiếu hụt chất dẫn truyền thần kinh acetylcholin đã đƣợc quan sát thấy trong
não của bệnh nhân Alzheimer [20]. Các tế bào thần kinh cholinergic tổng hợp ra
acetylcholin, chất đóng vai trò quan trọng trong việc học tập và trí nhớ [35]. Do vậy
việc ức chế enzym acetylcholinesterase, enzym xúc tác cho phản ứng thủy phân
acetylcholin, sẽ duy trì nồng độ và thời gian hoạt động của acetylcholin tại các khe
synap [20], [45]. Do đó những chất có tác dụng ức chế AChE sẽ kéo dài thời gian tồn
tại và thời gian tác dụng của acetylcholin, cải thiện chức năng của các synap thần kinh
cholinergic trung tâm và ngăn ngừa thoái hóa thần kinh, từ đó cải thiện đƣợc khả năng
nhận thức và trí nhớ [11], [45].
Donepezil là chất ức chế AChE thứ 2 đã đƣợc phê duyệt năm 1996 để điều trị
Alzheimer từ mức độ nhẹ đến trung bình. Thuốc đƣợc hấp thu tốt và đƣợc chuyển hóa
bình[4], [26]. Memantin đƣợc hấp thu tốt qua đƣờng uống, không bị ảnh hƣởng bởi
thức ăn và dễ dàng đi qua hàng rào máu não. Thuốc chủ yếu thải trừ qua thận và không
ảnh hƣởng đến hoạt động của enzym gan. Nồng độ của memantin không bị thay đổi
bởi tác động của các enzym CYP tại gan. Các tác dụng phụ của thuốc thƣờng nhẹ và
bao gồm tăng huyết áp, đau đầu [4].
1.1.4.2.2. Thuốc điều trị triệu chứng không thuộc nhận thức
Hầu hết các bệnh nhân mắc Alzheimer trong một số thời điểm bị bệnh xuất hiện
các triệu chứng rối loạn không thuộc nhận thức. Những triệu chứng này có thể đƣợc
chia thành ba loại: triệu chứng tâm thần, rối loạn hành vi và trầm cảm. Quản lý hiệu
8
quả các vấn đề này là rất quan trọng vì các biểu hiện này gây khó khăn cho cả bệnh
nhân và ngƣời chăm sóc, đòi hỏi sự giám sát và kiên nhẫn của ngƣời chăm sóc [32].
Một số nhóm thuốc hiện nay đang đƣợc sử dụng:
- Thuốc chống trầm cảm: giai đoạn đầu của Alzheimer thƣờng kèm theo triệu
chứng trầm cảm và có thể đáp ứng với thuốc điều trị. Giải quyết tình trạng này là cải
thiện tính khí, khả năng chức năng và nhận thức. Thuốc chống trầm cảm ức chế chọn
lọc thu hồi serotonin có hiệu quả và đƣợc ƣa chuộng sử dụng trong Alzheimer [4].
- Thuốc chống loạn thần đƣợc chỉ định để điều trị các triệu chứng tâm thần rõ
ràng nhƣ ảo tƣởng, đặc biệt là sự nghi ngờ hoặc khủng bố, ngoài ra còn có triệu chứng
hoang tƣởng và kích động. Việc bổ sung một số thuốc chống loạn thần liều thấp có thể
là đủ kiểm soát các triệu chứng tâm thần và cho phép bệnh nhân có thể điều trị tại nhà.
Một số thuốc hay đƣợc sử dụng là haloperidol, risperridol,…[4]
- Thuốc duy trì tâm trạng ổn định nhƣ valproic acid,…
- Ngoài ra còn có một số thuốc điều trị hỗ trợ nhƣ vitamin E làm chậm tiến triển
của bệnh, cerebrolysin có tác dụng dƣỡng thần kinh, Ginkgo biloba bảo vệ tế bào thần
kinh,…[4]
1.2. Các mô hình và phƣơng pháp nghiên cứu tác dụng điều trị sa sút trí nhớ trên
1.2.2.1. Mô hình gây suy giảm trí nhớ bằng hóa chất.
Các mô hình này tác động tới các con đƣờng truyền tin trên TKTW thông qua
các chất dẫn truyền thần kinh. Trong đó mô hình scopolamin gây suy giảm trí nhớ
đƣợc sử dụng rộng rãi nhất. Nhiều tài liệu đã ghi nhận hệ cholinergic đóng vai trò quan
trọng trong việc duy trì trí nhớ. Sự suy giảm chức năng hệ cholinergic có thể ảnh
hƣởng tới suy giảm trí nhớ nhƣ mất trí nhớ và mất phƣơng hƣớng đƣợc nhìn thấy ở
Alzheimer. Sự thoái hóa các neuron cholinergic thƣờng xảy ra ở các khu vực trên não
có liên quan tới học tập và trí nhớ nhƣ: vùng hồi hải mã, các hạch nền Meynert và vỏ
não trƣớc, vì vậy ƣớc tính số lƣợng và hoạt tính của các neuron cholinergic bằng kỹ
thuật nhuộm màu cresyl tím trên các mô hình động vật gây suy giảm trí nhớ là vô cùng
quan trọng đối với các nghiên cứu đang đƣợc tiến hành trong lĩnh vực này [19], [38].
Nguyên tắc:
Scopolamin, một thuốc kháng cholinergic, thƣờng đƣợc sử dụng gây suy giảm
nhận thức trên thực nghiệm. Scopolamin làm bất hoạt vị trí gắn của acetylcholin trên
receptor muscarinic ở vùng vỏ não trƣớc làm suy giảm khả năng học tập và trí nhớ với
ảnh hƣởng phụ thuộc vào liều trên chuột [38].
Tiến hành: Scopolamin thƣờng đƣợc tiêm phúc mạc động vật thí nghiệm 30 phút
trƣớc khi thực hiện các test [27], [39].
Ƣu điểm: Mô hình sử dụng scopolamin gây suy giảm trí nhớ đƣợc sử dụng rộng
rãi nhất bởi không yêu cầu các kỹ thuật phẫu thuật phức tạp [38]. Đồng thời, các chất
10
ức chế AChE là cho thấy có tác dụng tốt nhất trong việc cải thiện sự suy giảm trí nhớ
gây ra bởi scopolamin ở động vật gặm nhấm [44]. Do đó, trong nghiên cứu này chúng
tối sử dụng mô hình gây suy giảm trí nhớ bằng scopolamin.
Ngoài ra một số mô hình hóa học khác cũng đƣợc áp dụng gây suy giảm trí nhớ
nhƣ mô hình tiêm streptozotocin vào gian não thất gây suy giảm trí nhớ, rƣợu gây suy
giảm trí nhớ, Amyloid β-peptid (Aβ) gây suy giảm trí nhớ, L-methionin gây suy giảm
trí nhớ, colchicin gây suy giảm trí nhớ, Okadaic acid gây suy giảm trí nhớ, excitoxins,
dẫn truyền hệ glutamatergic.
- Một số mô hình khác: mô hình tổn thƣơng não gây suy giảm trí nhớ, mô hình
shock điện (electroshock), mô hình gây suy giảm trí nhớ bằng chế độ ăn giàu chất béo,
mô hình gây thiếu hụt Thiamin gây suy giảm trí nhớ [38].
1.2.3. Một số phương pháp đánh giá khả năng về trí nhớ của động vật thí nghiệm
1.2.3.1. Test né tránh thụ động
- Mục đích: Test né tránh thụ động đƣợc sử dụng để đánh giá trí nhớ dài hạn của
động vật thí nghiệm [30].
- Nguyên tắc: Test này dựa trên sự mâu thuẫn giữa bản năng sợ hãi vùng không
gian mở, có ánh sáng của các loài gặm nhấm với phản xạ trốn tránh có điều kiện vùng
không gian nguy hiểm đã đƣợc nhận diện trƣớc đó. Chuột là loài động vật gặm nhấm,
ƣa hoạt động trong tối, tránh ánh sáng. Dựa trên đặc điểm sinh học này, ngƣời ta thiết
kế buồng tối (khu vực ƣa thích của chuột) trở thành vị trí nguy hiểm (bị điện giật),
trong khi buồng sáng lại là vị trí an toàn (không bị điện giật) [30].
- Tiến hành: Trong test này, chuột đƣợc đƣa vào buồng sáng là khu vực không ƣa
thích nên chúng sẽ tự đi vào buồng tối, tại đây chúng sẽ bị điện giật. Sau một số lần
tập luyện, chuột sẽ hạn chế vào buồng tối [8].
- Chỉ số đánh giá: Các chỉ số đánh giá ở test này là thời gian từ khi cho chuột vào
buồng sáng đến khi chuột sang buồng tối.
- Ƣu nhƣợc điểm: test này bị ảnh hƣởng khi chuột ít vận động [8].
1.2.3.2. Test mê lộ chữ Y
- Mục đích: Đánh giá trí nhớ không gian ngắn hạn của động vật thí nghiệm [9].
- Nguyên tắc: Test mê lộ chữ Y xuất phát từ việc động vật thí nghiệm có xu
hƣớng thay đổi sự lựa chọn cánh trong mê lộ trong các cơ hội liên tiếp [9]. Động vật
thƣờng đƣợc đánh giá trong khoảng 8-10 phút trong mê lộ chữ Y đối xứng [9].
- Tiến hành: Mê lộ chữ Y là một dụng cụ hình chữ Y, cấu tạo gồm 3 cánh (ABC),
trong đó 3 cánh đối xứng nhau và tách ra ở 120°. Quy trình bài tập cơ bản cho phép
chuột đƣợc tự do tiếp cận với 3 cánh tay của mê lộ trong vài phút trong thời gian đó
trình tự đi vào các cánh của mê lộ đã đƣợc ghi lại [9]. Chuột đƣợc tự do tiếp cận tới 3
khám phá không gian mới. Ngày tiếp theo, test ORT đƣợc tiến hành. Test ORT gồm 2
giai đoạn, bao gồm giai đoạn mẫu (sample phase) và giai đoạn kiểm tra (test phase).
Trong giai đoạn mẫu, mỗi chuột đƣợc đặt vào hộp ngày hôm trƣớc có thêm hai đồ vật
là O1 và O2. Chuột đƣợc phép khám phá tự do hai đồ vật này trong vòng 5 phút. Giai
đoạn kiểm tra đƣợc tiến hành sau giai đoạn luyện tập 30 phút. Ở giai đoạn này, một
13
trong hai đồ vật O1 hoặc O2 đƣợc thay thế bởi đồ vật O3. Chuột cũng đƣợc phép
khám phá những đồ vật này trong 5 phút, giống ở giai đoạn mẫu.
- Chỉ số đánh giá: Thời gian chuột khám phá vật thể đƣợc định nghĩa là khoảng
thời gian tinh từ lúc chuột bắt đầu hƣớng mũi về phía vật thể cách vật thể 2 cm, khám
phá vật thể cho tới lúc chuột dời đi [3].
1.2.3.5. Một số phƣơng pháp đánh giá khả năng về trí nhớ của động vật thí nghiệm
khác
.- Bài tập tìm thức ăn trong mê lộ: Trong bài tập này, chuột bị bỏ đói đƣợc cho
vào một mê lộ có cấu tạo bởi nhiều đƣờng chữ chi, có nhiều ngõ cụt và chỉ có một
đƣờng duy nhất dẫn đến ô đích chứa thức ăn. Chuột sẽ đƣợc hƣớng dẫn đi đến ô đích
để lấy thức ăn. Sau một số lần luyện tập, chuột có thể tự chạy tới ô đích và thời gian
tìm thấy thức ăn sẽ nhanh hơn. Trong một số trƣờng hợp, ngƣời ta sẽ mở toàn bộ hoặc
một số cửa dẫn tới các ngõ cụt để đánh giá mức độ mắc lỗi (đi sai đƣờng) của động vật
thí nghiệm. Các chỉ số đánh giá trong bài tập này là thời gian tìm thấy thức ăn, số lần
hƣớng dẫn để tìm đƣợc thức ăn, tỷ lệ mắc lỗi. [8]
- Một số test khác nhƣ vận động tự nhiên, mê lộ hình chữ thập,vận động trong
rotarod,...[9]
Ngoài các phƣơng pháp đánh giá hành vi, ngày nay trên thế giới các nghiên cứu
còn sử dụng một số phƣơng pháp đánh giá thông qua đo lƣờng các chất dẫn truyền
thần kinh nhƣ phƣơng pháp đánh giá khả năng ức chế enzym acetylcholinesterase ex
vivo [3], đánh giá sự peroxy hóa lipid ( lipid peroxidation), đánh giá lƣợng protein
carbonyl, đánh giá sự giảm glutathion, đánh giá hoạt tính enzym glutathion
trong dầu nhƣ tanshinon I, tanshinon IIA, cryptotanshinon và dihydrotanshinon. Nhóm
thứ hai chứa các hợp chất polyphenolic tan trong nƣớc nhƣ salvianolic acid B (Sal B),
salvianolic acid A (Sal A) và danshensu [14], [45]. Một số thành phần khác nhƣ βsitosterol, tannin, vitamin E, tinh dầu [14], [41].
Các nghiên cứu hóa học và dƣợc lý đã chỉ ra rằng các diterpenoid và hợp chất
polyphenolic tan trong nƣớc là các thành phần hoạt tính sinh học chính trong Đan sâm.
Trong đó, diterpenoid đƣợc phân loại thành hai nhóm, nhóm có cấu trúc furan-10,11dion [1,2-b] furan-10,11-dion và nhóm có cấu trúc phenanro [3,2-b] furan-7, 11-dion.
Các hợp chất polyphenolic đƣợc coi là dẫn xuất ngƣng tụ của acid caffeic với các dạng
liên kết khác nhau [41].Hai loại hợp chất trên chủ yếu đƣợc phân lập từ rễ, trong khi
các loại tinh dầu chủ yếu đƣợc chiết xuất từ hoa [41]. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng rễ
càng dày thì hàm lƣợng tanshinon càng thấp [43].
Một nghiên cứu của TS. Nguyễn Hữu Tùng và cộng sự về thành phần triterpen
khung ursan đƣợc phân lập từ rễ cây Đan sâm trồng ở Việt Nam. Kết quả cho thấy
nhóm nghiên cứu đã phân lập xác định cấu trúc phân tử của 2 hợp chất triterpen 5
15
vòng khung ursan đó là acid ursolic và acid 2β-hydroxypomolic [13]. Ngoài ra còn
một số nghiên cứu về phân lập và định lƣợng thành phần tanshinon IIA và
cryptotanshinon của cây Đan sâm (Salvia miltiorrhiza Bunge ) đƣợc thu hái tại trạm
dƣợc liệu Sa Pa (Lào Cai), kết quả thu đƣợc hàm lƣợng tanshinon theo khối lƣợng
trong dƣợc liệu thô là 0,297%, và trong cao chiết ethanol là 1,141%; hàm lƣợng
cryptotanshinon theo khối lƣợng trong dƣợc liệu thô là 0,022% và trong cao chiết
ethanol là 0,091% [1], [10].
Năm 2015, 49 quiteron diterpenoid, 36 acid phenolic ƣa nƣớc, và 23 thành phần
tinh dầu đã đƣợc phân lập và xác định từ Đan sâm [41].
1.3.5. Tác dụng dược lý
Trong thập kỷ 70 của thế kỉ XX, các nghiên cứu tại Trung Quốc đã cho thấy các
tanshinon trong Đan sâm là thành phần có tác dụng trong hoạt động kháng khuẩn và
điều trị bệnh mạch vành. Trong số này, cryptotanshinon là hợp chất kháng khuẩn
chính, trong khi tanshinon IIA là hợp chất chính trong điều trị bệnh động mạch vành
thảo dƣợc này có tiềm năng lớn trong điều trị Alzheimer [36]. Bên cạnh đó, Yuhao
Ren và CS cũng tiến hành nghiên cứu in vitro cao rễ Đan sâm, với giá trị IC50 của cao
aceton là 24,7 µg/ml, dihydrotanshinon và cryptotanshinon là những chất trong cây ức
chế enzym AChE mạnh nhất với giá trị IC50 là 1,0 x 10-6 M và 7 x 10-6. Trong khi đó,
tanshinon I và tanshinon IIA có tác dụng ức chế enzym này yếu hơn [40].
Về khả năng kháng enzym acetylcholinesterase trong dịch nghiền đồng thể não
động vật thí nghiệm, Yongqiang Zhou và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tác dụng
này với cao nƣớc và cao ethanol của rễ Đan sâm. Kết quả cho thấy, cao ethanol của
Đan sâm có tác dụng ức chế đáng kể hoạt tính enzym AChE với kết quả ở nồng độ 2
mg/ml hoạt động của enzym giảm xuống còn 73%. Trong khi đó, cao nƣớc của Đan
sâm ở nồng độ 1 mg/ml chỉ cho thấy 1 ít tác dụng ức chế hoạt động của
acetylcholinesterase ở cùng nồng độ đƣợc thử nghiệm [46]. Nghiên cứu của
Ozarowski và CS (2017) đã chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ enzym
acetylcholinesterase ở vỏ não và vùng hồi hải mã giữa lô sử dụng cao toàn phần Đan
sâm (200 mg/kg) và lô chứng bệnh. Sử dụng cao toàn phần Đan sâm (200 mg/kg) gây
ức chế đáng kể enzym AChE ở não chuột cống, tỷ lệ ức chế 47% (p