SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO TẬP THỂ GIÁO VIÊN
LÀM ĐỒ DÙNG - ĐỒ CHƠI TỰ TẠO XÂY DỰNG MÔI
TRƯỜNG GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM ĐẠT
HIỆU QUẢ
TRONG TRƯỜNG MẦM NON”
Người thực hiện:
Lê Thị Minh
Chức vụ:
Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường mầm non Phan Đình
Phùng- TPTH
SKKN thuộc lĩnh vực: Quản lý
1
MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
I. MỞ ĐẦU
1
2.2 Thuận lợi , khó khăn
4
* Thuận lợi
* Khó khăn
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
3.1. Các giải pháp
5
5,6,7,8,9,10,11
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
11,12, 13
14
1.Kết luận
14
2.Kiến nghị
16
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
2
trong các trường mầm non là việc làm rất cần thiết và không thể thiếu được.
Để thực hiện tốt chuyên đề "Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung
tâm" thì môi trường giáo dục có vai trò hết sức quan trọng tạo nên sự thành công
của chuyên đề.
Môi trường giáo dục trong trường mầm non là tổ hợp những điều kiện tự
nhiên, xã hội cần thiết trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ
ở trường mầm non. Xây dựng môi trường giáo dục phù hợp góp phần thỏa mãn
nhu cầu vui chơi và hoạt động của trẻ. Qua đó, nhân cách của trẻ được hình
thành và phát triển toàn diện.
Một trong những yếu tố góp phần xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ
làm trung tâm tốt đó là đồ dùng, đồ chơi phục vụ chăm sóc, giáo dục trẻ. Đồ
dùng, đồ chơi (ĐDĐC) có tác dụng lớn lao đến việc hình thành và phát triển
nhân cách trẻ. Chính những đồ chơi này giúp trẻ được thao tác, được hoạt động,
trải nghiệm, được thể hiện những nhu cầu cá nhân, được phát triển cân đối hài
hòa, từ đó giúp trẻ phát triển toàn diện. Đối với trẻ em, đồ chơi cũng giống như
3
cuốc cày đối với người nông dân, máy móc đối với người công nhân, là phòng
thí nghiệm đối với nhà khoa học…
Tuy nhiên, trong nhiều năm qua ĐDĐC trong lớp và ngoài trời chưa được
quan tâm đúng mức, đồ dùng đồ chơi còn thiếu chủng loại chưa phong phú.
Nhiều trường, lớp chỉ có ĐDĐC tự tạo của giáo viên dùng để trưng bày, trẻ
không được chơi. Đồ dùng, đồ chơi ngoài trời thiếu nhiều ở các trường mầm non
nông thôn và vùng sâu, vùng xa. Có trường chỉ có một vài ba đồ chơi không thể
đáp ứng yêu cầu vui chơi và phát triển thể chất cho trẻ.
Đặc biệt việc bồi dưỡng chất lượng đội ngũ giáo viên về chuyên môn,
nghiệp vụ của các nhà trường cũng được thể hiện rất cụ thể, sinh động và rõ
nét thông qua các hội thi, các phong trào của ngành, của địa phương phát động
trong năm học. Từ đó đã thể hiện được chất lượng của đội ngũ giáo viên và trẻ
Đồ dùng đồ chơi (ĐDĐC) có tác dụng lớn lao đến việc hình thành và phát
triển nhân cách trẻ. Chính những đồ chơi này giúp trẻ được thao tác, được hoạt
động, trải nghiệm, được thể hiện những nhu cầu cá nhân, được phát triển cân đối
hài hòa, từ đó giúp trẻ phát triển toàn diện.
Trẻ nhỏ cần rất nhiều cơ hội để học và khám phá thông qua việc chúng chơi
hàng ngày. Chơi là cách học phù hợp nhất khi chúng ta muốn trẻ tìm tòi khám phá
cho bản thân chúng. Qua chơi trẻ được phát triển hiểu biết, kỹ năng trong rất
nhiều tình huống khác nhau. Đồ chơi là yếu tố thúc đẩy trẻ em thực hiện nhiều
hành động và thao tác khác nhau có tác dụng rèn luyện thể lực cho trẻ.
Đồ chơi hết sức cần thiết đối với trẻ, nó có tác dụng và ý nghĩa thật to lớn
và sâu sắc đối với trẻ độ tuổi mầm non, vì bất kể một trẻ em nào đều có nhu cầu
chơi và rất yêu quí đồ chơi, chúng sống và hành động cùng với đồ chơi. Đồ chơi
giúp trẻ em tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh, nó giúp các em làm quen
với những đặc điểm, tính chất của nhiều đồ vật, biết được công dụng của chúng
trong sinh hoạt và trong lao động của con người. Đồ chơi còn là phương tiện
giúp trẻ phát hiện ra những mối quan hệ của người với người trong xã hội dần
dần biết gia nhập vào các mối quan hệ đó. Hoạt động với đồ chơi vừa làm thỏa
mãn nhu cầu vui chơi, vừa làm cho đôi bàn tay khéo léo, đôi chân dẻo dai cơ thể
mềm mại, hình dáng phát triển cân đối hài hòa, vừa chuẩn bị cho trẻ vào học tiểu
học vừa có thể tham gia tốt vào cuộc sống xã hội sau này.
Một số trường mầm non trong Thành phố Thanh Hóa đã không ngừng đầu
tư, tìm kiếm các cơ hội và giải pháp, tạo ra các điều kiện mua sắm, trang bị, tự
tạo ĐDĐC phục vụ cho hoạt động chăm sóc, giáo dục trong nhà trường, đáp ứng
nhu cầu hoạt động của trẻ.
Tuy nhiên, trong nhiều năm qua ĐDĐC trong lớp và ngoài trời chưa được
quan tâm đúng mức, đồ dùng đồ chơi còn thiếu rất nhiều. Đồ dùng, đồ chơi
ngoài trời thiếu nhiều ở các trường mầm non khó khăn. Có trường chỉ có một vài
ba đồ chơi không thể đáp ứng yêu cầu vui chơi và phát triển thể chất cho trẻ.
Cán bộ quản lý GDMN nói chung, hiệu trưởng các trường mầm non nói riêng
- Trẻ từ 18 đến 24 tháng: 01 nhóm = 25cháu
- Trẻ từ 25 đến 36 tháng: 01 nhóm = 25 cháu
- Lớp mẫu giáo bé ( 3 - 4 tuổi
= 110 (3lớp)
- Lớp mẫu giáo nhỡ ( 4-5 tuổi) = 125 cháu ( 3lớp)
- Lớp mẫu giáo lớn ( 5- 6 tuổi) = 135 cháu (3 lớp)
* Tổng số CBGV, NV: 32 đồng chí.
Trong đó : Ban giám hiệu : 03 đ/c ; Giáo viên : 25 đ/c ; Nhân viên : 04 đ/c
Trình độ chuyên môn của giáo viên như sau:
Giáo viên
Tổng số
Đại học
Cao đẳng
Trung cấp
Sơ cấp
Từ 40 đến > 50 tuổi
13
10
Cộng
32
25
03
04
0
2.2. Thuận lợi, khó khăn.
* Thuận lợi:
Trường luôn được sự quan tâm, chỉ đạo của UBND Thành phố, của Phòng
GD& ĐT Thành phố Thanh Hóa và UBND phường Tân Sơn. Đặc biệt trường
luôn nhận được sự chỉ đạo sát sao, phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thường xuyên về
chuyên môn của Phòng GD&ĐT thành phố.
Nhà trường được các cấp trang bị tương đối đầy đủ các trang thiết bị, đồ
dùng, đồ chơi để phục vụ cho công tác chăm sóc, giáo dục trẻ.
Đội ngũ giáo viên của trường 100% đạt chuẩn, 87,5% trên chuẩn, có năng
lực, nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, tâm huyết với trường, có 70% CBGV,NV đã
đạt cán bộ giáo viên nhân viên giỏi cấp Thành Phố, cấp Tỉnh .
6
Trường có truyền thống thi đua nuôi dạy trẻ tốt đã đạt được nhiều thành
tích cao trong các phong trào thi đua và các hội thi của Thành Phố, của Tỉnh.
Nhà trường được các bậc phụ huynh quan tâm và phối hợp trong các hoạt động.
* Khó khăn:
- Khảo sát giáo viên về phương pháp tổ chức các hoạt động.
- Cho giáo viên đăng ký giáo viên dạy giỏi các cấp.
- Đăng ký đề tài SKKN.
- Triển khai các chuyên đề hè
+ Hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí thực hành áp dụng quan
điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong trường mầm non.
- Bồi dưỡng giáo viên áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm
trung tâm trong phương pháp tổ chức hoạt động chơi cho trẻ mẫu
giáo. Phấn đấu 100% giáo viên dạy lớp mẫu giáo lớn nắm vững
7
phương pháp để đáp ứng theo yêu cầu phổ cập cho trẻ 5 tuổi.
Tháng 10
- Kiểm tra các nhóm lớp xây dựng môi trường GD lấy trẻ làm
trung tâm trong và ngoài lớp học.
- Tổ chức kiến tập các lớp điểm chuyên đề (Tổ chức hoạt động vui
chơi, KPKH, GDÂN) thảo luận và rút kinh nghiệm chuyên đề
- Tổ chức thi giáo viên dạy giỏi cấp trường, khuyến khích GV
sử dụng, ứng dụng CNTT trong hội thi chào mừng ngày 20 /11,
lựa chọn giáo viên thi giáo viên dạy giỏi cấp thành phố.
- Đi sâu vào phương pháp môn Toán và KPKH. Tổ chức trao đổi
về phương pháp của các môn học: KPKH, LQVT và Âm nhạc.
Tháng11-12 - Tổ chức Hội thi đồ dùng dạy học tự làm cấp trường.
- Chuẩn bị các điều kiện về thiết bị và CSVC phục vụ cho “ Hội
chợ xuân 2018 và hội thi “ Xây dựng môi trường Giáo dục lấy
trẻ làm trung tâm” cấp trường
- Bồi dưỡng giáo viên đi sâu phương pháp môn tạo hình .
cải tạo hệ thống bếp nấu và mua sắm thêm các trang thiết bị như bàn, ghế ....
Sắp xếp bố trí các giáo viên tham gia đầy đủ các lớp tập huấn, bồi dưỡng
chuyên môn, nghiệp vụ của Phòng giáo dục tổ chức.
8
* Năng lực, khả năng của giáo viên:
Đội ngũ giáo viên nhà trường có sức khỏe, có trình độ đào tạo đạt chuẩn
100%. Trong đó có 28/32 đồng chí đạt trên chuẩn chiếm 87,5 % .
Các giáo viên đều rất tâm huyết, yêu nghề, mến trẻ, có kỹ năng chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục trẻ.
Có khả năng lập kế hoạch theo hướng tích hợp và tổ chức thực hiện theo
phương pháp đổi mới.
Có khả năng tận dụng các nguyên vật liệu tự nhiên, phế thải, dễ kiếm, dễ
tìm để tạo ra các đồ dùng, đồ chơi tự tạo phục vụ cho việc trang trí xây dựng
môi trường trong và ngoài lớp học và tổ chức các hoạt động cho trẻ.
Giáo viên tích cực tham gia vào các lớp tập huấn về CNTT và có ý thức tự
nghiên cứu, học hỏi về CNTT để ứng dụng vào các hoạt động chăm sóc, giáo
dục trẻ. 100% giáo viên sử dụng xây dựng kế hoạch bằng CNTT và tổ chức các
hoạt động.
3.2. Xây dựng kinh phí của nhà trường phù hợp với điều kiện:
Phối hợp với các tổ chức trong nhà trường, ban chỉ đạo qui chế dân chủ để
nghiên cứu, bổ sung và xây dựng lại thành bộ qui chế mới có hệ thống vừa phù
hợp với thực tế của nhà trường mà lại vừa động viên, khích lệ được các thành
viên trong nhà trường đạt được các thành tích cao trong các phong trào thi đua
của ngành hay các hội thi các cấp phát động:
Quy chế phối hợp hoạt động giữa chính quyền và công đoàn:
Quy định chức năng, nhiệm vụ, chế độ làm việc và thi đua khen thưởng, kỷ
luật của CBGV,NV
Quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế chi tiêu của công đoàn.
Với việc đưa các nội dung cần hướng dẫn vào máy tính, sau đó trình chiếu lên
màn hình, kết hợp với lời hướng dẫn đã làm cho công việc bồi dưỡng giáo viên
trở nên nhẹ nhàng, khoa học và hiệu quả. Trường đã tự bồi dưỡng được nhiều
nội dung cho giáo viên, sử dụng cả những giáo viên có kinh nghiệm, có khả
năng nổi trội, chuyên biệt để hướng dẫn các giáo viên khác:
+ Cô giáo Trương Hồng Nhung hướng dẫn đồng nghiệp và phụ huynh hướng
dẫn giáo viên cách khai thác internet và sử dụng chương trình Flash để xây dựng
bài giảng điện tử và các trò chơi sử dụng vào các giờ học và hoạt động.
+ Cô giáo Vũ Thị Thanh Loan hướng dẫn chị em làm đồ dùng, đồ chơi từ
các nguyên vật liệu dễ kiếm.
Bồi dưỡng cho giáo viên kỹ năng soạn bài: Với quan điểm chỉ dạy trẻ
những gì gần gũi, sát thực tế, cần cho cuộc sống của trẻ. Chính vì vậy mà trước
mỗi chủ điểm cần thực hiện, tổ chuyên môn sẽ đưa ra mạng nội dung của chủ
điểm đó, giáo viên sẽ lựa chọn chủ đề nhánh, mỗi nhánh chỉ thực hiện trong 1-2
tuần sao cho phù hợp với trẻ, với điều kiện của lớp và tình hình thực tế của nhà
trường, áp dụng việc thực hiện chăm sóc giáo dục trẻ theo thông tư 28 của Bộ
Giáo dục & Đào tạo.
Hướng dẫn giáo viên sử dụng các biểu bảng để dạy, tích cực chia nhỏ
nhóm trẻ để dạy và tiếp cận cá nhân trẻ. Luôn chú trọng dạy trẻ kỹ năng hoạt
động theo nhóm: Trao đổi, bàn bạc, thỏa thuận, phân công và kỹ năng trình bày
diễn đạt. Với cách soạn bài và dạy như vậy rất thuận tiện cho giáo viên, giáo
viên được chủ động, linh hoạt trong việc soạn và dạy, đảm bảo được việc thực
hiện soạn bài theo tuần cô nào soạn thì cô đó dạy, do đó giáo viên buộc phải chịu
khó nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo và chịu trách nhiệm về chủ đề nhánh mà mình
dạy, còn người quản lý thì dễ dàng kiểm tra được giáo viên từ khâu soạn bài đến
khâu dạy, qua đó có thể nắm được giáo viên hiểu ở mức độ nào để có kế hoạch
bồi dưỡng kịp thời.
Hướng dẫn giáo viên soạn bài trên máy tính, trên cơ sở đó có thể chỉnh sử
để áp dụng cho những năm học sau. Giúp cho nhà quản lý thuận lợi trong việc
kiểm tra.
năm học đề ra. Ngay từ đầu năm học tôi đã có kế hoạch trang bị thêm 02 máy vi
tính và 02 máy in. Đồng thời lên kế hoạch bồi dưỡng tin học cho giáo viên để giáo
viên chủ động sáng tạo lồng ghép CNTT vào các hoạt đông CSGD trẻ hiệu quả.
Sau khi đã có các các nội dung bồi dưỡng cụ thể nêu trên tôi chỉ đạo tổ
chuyên môn xây dựng kế hoạch cụ thể yêu cầu 100% giáo viên các lớp trong
năm học phải thiết kế giáo án điện tử áp dụng vào giảng dạy đạt hiệu quả .
* Bồi dưỡng về cách tạo môi trường học tập và làm đồ dùng, đồ chơi
tự tạo để phục vụ cho các hoạt động:
Tôi đã thống nhất với BGH cùng chỉ đạo giáo viên các lớp cách tạo môi
trường thân thiện theo các nội dung như sau:
Môi trường học tập thân thiện phải là môi trường do trẻ tạo ra là chính
cùng với sự gợi mở, giúp đỡ của cô, trong đó đồ dùng đồ chơi phải được sắp xếp
theo các góc, trong trạng thái mở để thuận tiện cho trẻ sử dụng và hoạt động. Đồ
dùng, đồ chơi, tranh ảnh phải có chữ, ký hiệu để trẻ học cách suy luận, tư duy.
11
Các góc chơi phải sắp xếp hợp lý để trẻ hoạt động được dễ dàng, sản phẩm của
trẻ được lấp đầy dần các mảng mở trong lớp và phải sử dụng phong phú các sản
phẩm của trẻ để trang trí, xây dựng môi trường lớp.
3.4. Đầu tư CSVC và các trang thiết bị phục vụ cho các hoạt động:
Cơ sở vật chất tốt đầy đủ là yếu tố thuận lợi để tổ chức tốt các hoạt động,
các hội thi của nhà trường, của ngành phát động, nó vừa giúp cho đội ngũ thực
hiện công việc dễ dàng, hiệu quả, giảm tải được thời gian, công sức lao động của
chị em, đồng thời tạo ra cho đội ngũ giáo viên động lực yêu thích, say mê với
công việc của mình, giúp họ gắn bó với nhà trường hơn.
Tôi đã tham mưu với các cấp lãnh đạo, phối hợp chặt chẽ với các phòng
ban có liên quan của phường để thực hiện tốt công tác phổ cập cho trẻ 5 tuổi,
từng bước nâng cấp, trang bị đầy đủ các trang thiết bị phục vụ cho công tác
chăm sóc, giáo dục trẻ cho các lớp 5 tuổi theo đổi mới phương pháp.
công việc cũng như động viên kịp thời cho các cá nhân, tổ, nhóm đạt được các
thành tích cao trong các hội thi các cấp.
Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức trong nhà trường để xây dựng quy chế
chi tiêu nội bộ, quy chế thi đua khen thưởng, quy chế thăm hỏi ốm đau, hiếu hỷ,
sinh nhật...đảm bảo công khai, công bằng, hợp lý. Xây dựng một tập thể đoàn
kết, nhất trí, cộng đồng trách nhiệm cao, tạo không khí vui vẻ, thoải mái, tôn
trọng lẫn nhau trong nhà trường.
Phối hợp với công đoàn để cùng chăm lo đời sống cho đội ngũ, hỗ trợ
trong các ngày hội, ngày lễ, ngày tết cho giáo viên có hoàn cảnh khó khăn để kịp
thời động viên chị em làm tốt công tác giảng dạy của mình cũng như động viên
chị em tích cực tham gia vào các hội thi bằng các phần thưởng có ý nghĩa khích
lệ những ý tưởng sáng tạo trong đội ngũ giáo viên.
Chỉ rõ lợi ích cho đội ngũ để mọi người tích cực làm việc và gắn bó với
nhà trường. Đáp ứng và giải quyết kịp thời các nguyện vọng chính đáng của
giáo viên về các chế độ chính sách : nâng lương khen thưởng, đi học nâng cao
nghiệp vụ, phụ cấp ưu đãi..., tạo ra các phong trào thi đua, kích thích, khích lệ để
mọi người hưởng ứng tham gia, đồng thời khen thưởng xứng đáng bằng vật chất
và tinh thần cho đội ngũ.
Tổ chức các hoạt động tham quan dã ngoại, các hoạt động kỷ niệm lễ hội
trong năm để xây dựng tình cảm gắn bó với tập thể, sự đoàn kết nhất trí đồng
lòng cùng nhau làm việc, phối hợp ăn ý, có tinh thần trách nhiệm cao vì công
việc chung và giáo dục về truyền thống của nhà trường, tạo động lực cho đội
ngũ quyết tâm phấn đấu trong những năm tiếp theo như: Tổ chức kỷ niệm ngày
nhà giáo Việt Nam 20/11, Gặp mặt đầu xuân năm mới....
Quan tâm và tạo mọi điều kiện về kinh phí và thời gian để tổ chức cho chị
em khám sức khỏe nhằm phát hiện bệnh và chữa trị kịp thời. Trang bị đồng phục
làm việc phù hợp, có tính sư phạm, thẩm mỹ để chị em cảm thấy thoải mái sẵn
sàng bắt tay vào công việc và thêm tự hào về nhà trường.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
Trẻ hứng thú tham gia các hoạt động học – chơi trong nhà trường
Hình ảnh môi trường ngoài lớp học
15
Bộ đồ chơi đạt giải cao trong hội thi làm ĐDĐC cấp Tỉnh năm học 2015-2016
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận.
Với những biện pháp nêu trên tôi đã áp dụng vào công tác chỉ đạo tập thể
giáo viên làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm
trung tâm, tham gia vào các hội thi các cấp đem lại hiệu quả cao. Từ những kết
quả đạt được, tôi cùng các đồng nghiệp đã rút ra được những kinh nghiệm sau:
Phải luôn nắm vững đặc điểm tình hình đội ngũ cán bộ giáo viên nhân viên
về mọi mặt như: tư tưởng, tình cảm, tâm tư, nguyện vọng, khả năng về chuyên
môn, nghiệp vụ, khả năng về CNTT và làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo phục vụ cho
các họạt động ... trên cơ sở đó có biện pháp bồi dưỡng cụ thể.
Trong công tác bồi dưỡng đội ngũ phải chú ý xây dựng bằng được nền nếp,
phong cách làm việc nghiêm túc, tạo sự công bằng trong tập thể qua kiểm tra,
đánh giá, khen thưởng, khuyến khích, động viên các cá nhân, tổ, nhóm, lớp đạt
thành tích cao trong các hội thi kịp thời để làm động lực giúp họ và các đồng
nghiệp tiếp tục phấn đấu. Đồng thời cũng khuyến khích tinh thần tự học, tự rèn
luyện về chuyên môn, nghiệp vụ và về mọi mặt của đội ngũ giáo viên.
Song nội dung bồi dưỡng đội ngũ phải phù hợp với yêu cầu giáo dục, với sự
chỉ đạo và đặc thù của ngành học Mầm non và phù hợp với tình hình thực tế của
nhà trường.
Chúng ta phải làm tốt công tác tham mưu với các cấp lãnh đạo để tranh thủ
sự quan tâm, hỗ trợ về vật chất cũng như tinh thần. Phối hợp chặt chẽ với phụ
huynh học sinh để thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục, tranh thủ sự ủng
hộ, tham gia của đông đảo phụ huynh vào các hội thi, các hoạt động của nhà
Xin trân trọng cảm ơn!
TP Thanh Hóa, Ngày 25 tháng 03 năm 2018
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người viết sáng kiến
Lê Thị Minh
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Những quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục trong chiến lược giáo dục đào
tạo hiện nay.
2. Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ theo hình thức đổi mới
3. Một số định hướng đổi mới trong chương trình Giáo dục MN - Vụ GDMN
4. Tài liệu của Viện nghiên cứu trẻ em trước 6 tuổi – NXB Giáo dục
5.Tài liệu tập huấn bồi dưỡng hè cho CBQL và giáo viên MN – Bộ GD&ĐT
6. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên CBQL, giáo viên mầm non – Bộ GD&ĐT
- Môi trường giáo dục cho trẻ mầm non
7. Phương pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mầm non- NXB Giáo dục
8. Tập san giáo dục mầm non
18
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
Biện pháp nâng cao hiệu quả công
tác xã hội hóa giáo dục ở trường
mầm non
“Một số biện pháp nâng cao chất
lượng chuyên môn cho đội ngũ
giáo viên”
“Một số biện pháp nâng cao chất
lượng chuyên môn cho đội ngũ GV”
Cấp đánh
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)
Sở GD&ĐT
Thanh Hóa
Sở GD&ĐT
Thanh Hóa
Sở GD&ĐT
Thanh Hóa
Sở Giáo dục
và Đào tạo
Thanh Hóa
HĐKH sáng
kiến tỉnh
Thanh Hóa
HĐKH sáng
kiến T.Phố
HĐKH sáng
kiến T. Phố
Sở Giáo dục
A
2014-2015
A
2016-2017
C
2016-2017
19