SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT DTNT NGỌC LẶC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 10A6, TRƯỜNG
THPT DTNT NGỌC LẶC SỚM ỔN ĐỊNH, TỰ TIN HÒA NHẬP
VÀ HỌC TẬP TRONG MÔI TRƯỜNG NỘI TRÚ
Người thực hiện: Nguyễn Đức Lượng
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Công tác chủ nhiệm
THANH HOÁ NĂM 2018
0
0
MỤC LỤC
1. Phần mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài.......................................................... .…………. ..01
1.2 Mục đích nghiên cứu...…………..………………………... ..……...01
1.3 Đối tượng nghiên cứu...…………..……………………....................01
1.4 Phương pháp nghiên cứu....................................................................02
2. Phần nội dung
2.1 Cơ sở lí luận …………………………………………………….......02
2.2 Thực trạng vấn đề ……………………………………...…………...03
2.3 Giải pháp thực hiện ……………………………................................05
1. MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trường THPT Dân tộc nội trú Ngọc Lặc được thành lập theo quyết định
2871-QĐ/UBND ngày 08/8/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa với quy
mô 18 lớp (540 học sinh). Năm học 2017-2018 là năm đầu tiên trường tuyển
sinh (sáu lớp 10/180 học sinh) và đi vào hoạt động. Là ngôi trường chuyên biệt
mới được thành lập nhưng có một sứ mệnh hết sức cao cả. Đó là đào tạo nguồn
nhân lực là người dân tộc thiểu số cho các huyện miền núi phía tây tỉnh Thanh
Hóa.
Là giáo viên đã từng công tác 13 năm trên miền núi (tại trường THPT Lê
Lai-Ngọc Lặc). Đã từng tiếp xúc và dạy dỗ nhiều học sinh là người dân tộc thiểu
số (chủ yếu là dân tộc Mường). Nhưng năm học 2017-2018 này bản thân vẫn
không khỏi bỡ ngỡ khi là một trong những giáo viên đầu tiên về công tác tại
trường THPT Dân tộc nội trú Ngọc Lặc. Được tiếp xúc với nhiều học sinh là
người dân tộc thiểu số (Mường, Thái, Mông, Dao,Thổ,…) ở rất nhiều huyện
khác nhau trong tỉnh (trong đó có những huyện miền núi xa xôi như Quan Sơn,
Mường Lát,…).
Được phân công làm giáo viên chủ nhiệm lớp 10A6 (là một trong sáu lớp
10 đầu cấp năm học 2017-2018). Ngày đầu tiên tôi nhận lớp, nhìn những gương
mặt bẽn lẻn, rụt rè (có những em lần đầu tiên rời xa bố mẹ, bản làng hàng trăm
cây số). Những ánh mắt thăm dò, những suy nghĩ còn nhiều bí ẩn. Tất cả những
điều đó nói lên các em đang rất cần một chỗ dựa, một đôi tay che chở và dẫn dắt
các em trong suốt quãng thời gian học tập tại đây.
Nhận thức được vai trò, trách nhiệm của người giáo viên chủ nhiệm ở
trường nội trú thật sự là người cha, người mẹ thứ hai của các em. Cần phải có sự
hiểu biết và quan tâm sâu sắc tới các em trên nhiều phương diện. Để giúp các
em học tập tốt thì điều đầu tiên phải giúp các em sớm ổn định, hòa nhập với môi
trường mới, cuộc sống mới. Đặc biệt là môi trường nội trú.
Vấn đề tôi quan tâm thực sự chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu hay các
sáng kiến kinh nghiệm của đồng nghiệp khai thác. Hoặc nếu có thì lại khai thác
2.1 Cơ sở lí luận.
Một số vấn đề về tâm lí học sinh dân tộc thiểu số ở trường trung học phổ thông.
Sự phát triển tâm lí của học sinh người dân tộc thiểu sổ ở trường THPT
cũng có tất cả những đặc điểm và quy luật chung của sự phát triển tâm lí con
người nhưng do các em sống ở miền núi cao, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, hoàn
cảnh tụ nhiên và hoàn cảnh hưởng thụ sự giáo dục khác với các em học sinh
người Kinh sống ở đồng bằng và thành phổ nên sự phát triển tâm lí của các em
cũng có một số đặc điểm riêng.
* Một số đặc điểm tâm lí đặc trưng của các em học sinh dân tộc thiểu số.
- Đặc điểm tri giác:
Các em học sinh người dân tộc thiểu số sống ở vùng núi cao có độ nhạy
cảm thính giác, thị giác phát triển rất cao vì điều kiện sinh sống đặc thù. Các em
sinh ra và lớn lên giữa đại ngàn rừng núi, từ nhỏ đã quen với sự yên tĩnh của núi
rừng, với tiếng chim muông, thú rừng và quen với việc vào rừng săn bắn, tìm
cây, tìm rau rừng.
Giác quan tĩnh, nhạy là điều kiện rất thuận lợi cho các em học sinh dân
tộc thiểu số tri giác đối tượng. Tuy nhiên, trong học tập, sự định hướng tri giác
theo các nhiệm vụ được đặt ra ở các em lại chưa cao. Các em hay bị thu hút vào
những thuộc tính có màu sắc bên ngoài rực rỡ, hấp dẫn nên khó phân biệt đâu là
thuộc tính bản chất, đâu là thuộc tính không bản chất.
Trong quá trình học tập, đặc biệt là những nội dung liên quan đến khả
năng quan sát, các em học sinh người dân tộc thiểu sổ có thể nhận ra từng dấu
hiệu, từng thuộc tính đơn lẻ của sự vật và hiện tượng nhưng quá trình tổng hợp,
khái quát để đi đến nhận xét chung lại rất hạn chế.
- Đặc điểm tư duy, ngôn ngữ, trí nhớ:
Vốn tiếng phổ thông (tiếng Việt) của các em học sinh dân tộc thiểu sổ ở
cấp THPT vẫn còn hạn chế. Đây là thiệt thòi lớn của các em và cũng là khó khăn
cơ bản của giáo viên khi dạy học, giáo dục các em. Do khả năng hiểu ngôn ngữ
phổ thông hạn chế, vốn từ nghèo nàn, học sinh người dân tộc thiểu sổ ở trường
THPT còn gặp khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong giao tiếp
tình cảm ra ngoài một cách thẳng thắn sôi nổi, rõ rệt, mạnh mẽ mà thường giữ
kín ở trong lòng.
Các em học sinh người dân tộc thiểu sổ thường rất gắn bỏ với gia đình,
làng bản vì đặc điểm nơi sinh sống của các em khá riêng biệt, các gia đình sống
nhỏ lẻ hoặc cụm dân cư ở từng góc núi, quả đồi.
Học sinh người dân tộc thiểu số có kiểu kết bạn cũng khá đặc biệt. Các
em thường chơi thành nhóm, nếu hợp nhau thì kết thành bạn tri kỉ rất thân thiết,
thậm chí có khuyết điểm cũng bao che cho nhau đến cùng.
Bản chất, nét tính cách, tâm lí đặc biệt của các em học sinh dân tộc thiểu
sổ là hiền lành, thật thà, chất phác. Trong quan hệ với thầy cô, bạn bè, các em
thường rất trung thực, nghĩ như thế nào nói như thế đấy.
(nguồn: Module THPT 11 “Chăm sóc, hỗ trợ tâm lí học sinh nữ, học sinh người
dân tộc thiểu số trong trường THPT”)
2.2 Thực trạng vấn đề.
Trường THPT DTNT Ngọc Lặc là ngôi trường mới được thành lập, cơ sở
hạ tầng được đầu tư xây dựng rất khang trang, hiện đại và đồng bộ. Năm học
2017-2018 trường tuyển sinh được 6 lớp 10 với 180 học sinh ở khắp các huyện
3
miền núi tỉnh Thanh Hóa. Với đa số các em thì đây là lần đầu tiên đi học xa nhà
và phải làm quen với cuộc sống mới, môi trường sống mới, đó là môi trường nội
trú. Ở đây các em phải bắt đầu cuộc sống tự lập, tự ăn, tự ngủ, tự học, tự vui
chơi,… theo nội quy, nề nếp của nhà trường. Không có các anh chị khóa trên
hướng dẫn, truyền “kinh nghiệm”. Bản thân các thầy cô giáo cũng là những
người lần đầu tiên làm việc tại môi trường nội trú, chưa có nhiều kinh nghiệm.
Chính vì vậy thời gian đầu các em học sinh gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng
trong sinh hoạt và học tập.
Lớp 10A6 do tôi chủ nhiệm có 30 học sinh (với 9 nam và 21 nữ), trong đó
29 em là dân tộc thiểu số (gồm Mường, Thái, Mông). Gần nửa lớp là những học
- Có quan hệ nam nữ không lành mạnh;
- Học sinh bỏ học;…
Trong sáng kiến này tôi sẽ cố gắng chọn lọc đưa ra những biện pháp điển
hình nhất, qua đó phân tích các tình huống cũng như cách vận dụng riêng đối
với học sinh lớp 10A6, trường THPT DTNT Ngọc Lặc.
4
2.3 Giải pháp thực hiện.
2.3.1 Biện pháp thứ nhất: Thu thập và xử lí thông tin
Ngay sau khi nhận lớp, điều đầu tiên tôi quan tâm là phải sớm tìm hiểu
nắm bắt được những thông tin cơ bản nhất của từng học sinh trong lớp (sau
những tìm hiểu, hỏi han thông thường). Cách tôi thực hiện là phát cho mỗi em
một phiếu điều tra có nội dung như sau:
TRƯỜNG THPTDTNT NGỌC LẶC
LỚP 10A6
Dán ảnh
3x4
PHIẾU HỌC SINH
(Năm học 2017-2018)
A. Phần chung.
1. Họ và tên: ……………………….Ngày sinh:……………………………
2. Nơi ở hiện tại:………………………………………………………………
3. Quê quán:………………………………………………………………...
4. Họ tên bố:……………………………………Năm sinh:………………
Nghề nghiệp:………………………..Số ĐT:……………………………….
5. Họ tên mẹ:…………….. …………………...Năm sinh:…………….
điều quan tâm hơn là biết được có những em nào từng theo học trường nội trú
huyện (liên quan đến việc xếp phòng ở về sau)
Mục 2: Là thông tin để lựa chọn cán bộ lớp.
Mục 3, 4: Biết thế mạnh và hạn chế về các môn học của học sinh, cũng như là
định hướng nghề nghiệp trong tương lai của các em. Từ đây GVCN (kết hợp
cùng GVBM) có kế hoạch giáo dục phù hợp nhất với từng đối tượng và cả việc
sắp xếp chỗ ngồi trên lớp sao cho hợp lí để các em có điều kiện giúp đỡ, học hỏi
lẫn nhau trong quá trình tự học trên lớp.
Mục 5: Biết thêm về những sở thích cá nhân cũng như năng khiếu hoặc hạn chế
của học sinh (là cơ sở lựa chọn vị trí bí thư lớp hoặc cán bộ đoàn đội về sau).
Mục 6, 7: Biết thêm về hoàn cảnh gia đình cũng như một phần tính cách của
học sinh. (để GV có sự quan tâm, chia sẻ kịp thời ).
Mục 8: GV sẽ biết được những mong muốn, nguyện vọng của học sinh với
mình hoặc với cha mẹ các em. Từ đó có hướng xử lí hoặc phối hợp với phụ
huynh học sinh được tốt hơn.
Sau khi thu thập thông tin xong, tôi tiến hành tổng hợp theo một số hướng:
Bảng 1: Tổng hợp chung
STT Họ tên
1
2
3
…
Giới tính
Dân tộc
Quê quán
Đặc điểm cá nhân
huyện, Có những em học tốt các môn tự nhiên, có em học tốt các môn xã hội,…
và theo yêu cầu của nhà trường (được xếp từ 8 đến 10 em một phòng), tôi tiến
hành chia lớp thành 4 phòng gồm 1 phòng nam (vừa đủ 9 học sinh) và 3 phòng
nữ (có phòng ít phải ghép với lớp khác). Với các phòng cần sắp xếp đảm bảo
một số yêu cầu sau (mức tương đối):
- Chia đều số học sinh đã học nội trú huyện (vì những em đã từng học nội trú sẽ
là những người hướng dẫn, hỗ trợ rất tốt cho các bạn mới việc ăn ở, sinh hoạt
trong kí túc xá).
- Chia đều số học sinh ở các huyện (để các em có điều kiện giao lưu tiếp xúc với
bạn mới và tránh trường hợp các em cùng huyện chia bè, kết phái trong phòng,
dẫn đến dễ mất đoàn kết).
- Chia đều những em học tốt, chưa học tốt theo môn học (để các em có thể hỗ
trợ lẫn nhau trong việc tự học).
Theo quan điểm cá nhân tôi, việc các em chủ động tự học hỏi lẫn nhau
trên cơ sở định hướng của thầy cô giáo sẽ hiệu quả hơn rất nhiều so với việc các
em chỉ học từ thầy cô. Bởi vì có những vấn đề “nhạy cảm” không phải lúc nào
thầy cũng hướng dẫn hết cho học sinh được (đặc biệt đối với học sinh nữ), và
ngược lại nhiều học sinh cũng còn nhút nhát chưa chủ động tiếp thu.
2.3.3 Biện pháp thứ ba: Lựa chọn và giao nhiệm vụ cho đội ngũ cán bộ lớp,
trưởng phòng ở KTX.
* Thứ nhất: Lựa chọn đội ngũ cán bộ lớp, trưởng phòng ở KTX
Lựa chọn được đội ngũ cán bộ lớp, phòng ở tốt cũng là yêu cầu rất quan
trọng. Có ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định và tiến bộ của lớp ( cũng là thành
công trong công tác chủ nhiệm của giáo viên). Vì vậy giáo viên chủ nhiệm cần
phải phải sáng suốt, thận trọng và kinh nghiệm trong việc lựa chọn. Theo tôi cần
căn cứ một số tiêu chí sau (đối với từng vị trí):
- Lớp trưởng: Những tiêu chí quan trọng là:
1. Có tinh thần trách nhiệm vì tập thể (thể hiện thông qua lời nói, thái độ
và việc làm cụ thể trước một số công việc chung của lớp như: Lao động, dọn vệ
sinh đầu năm; triển khai, thống nhất nội quy, nề nếp của lớp;…)
I. LỚP TRƯỞNG:
- Quản lý, điều hành chung 15 phút đầu giờ.
- Theo dõi, đôn đốc, nhắc nhở việc thực hiện nội quy nề nếp và các hoạt
động chung của lớp trong giờ học chính khóa, tự học (buổi chiều, tối) và trên kí
túc xá.
- Chủ động xử lí những công việc chung của lớp (khi vắng mặt GVCN).
- Tổng hợp kết quả thi đua và điều hành tiết sinh hoạt cuối tuần (khi vắng
mặt GVCN hoặc GVCN chỉ tham dự với tư cách giám sát).
II. BÍ THƯ:
- Nắm bắt và tiếp thu những thông báo, chỉ thị và các chương trình hoạt
động của Đoàn trường để kịp thời triển khai cho đoàn viên trong chi đoàn thực
hiện đầy đủ.
- Theo dõi, nhắc nhở việc thực hiện nhiệm vụ của cờ đỏ. Nếu cờ đỏ nghỉ
đột xuất thì đi thay hoặc bố trí người đi thay.
- Ghi biên bản sinh hoạt lớp cuối tuần.
- Lập biên bản kỉ luật đoàn viên cuối tuần (nếu có).
III. LỚP PHÓ:
1. Lớp phó học tập:
- Có kế hoạch kiểm tra vở bài tập, vở ghi của cả lớp hàng tuần (kết hợp
cùng GVBM).
- Tổ chức, điều hành 15 phút sinh hoạt các thứ: 4, 6 trong tuần (theo chủ
đề của đoàn trường: chữa bài tập, trao đổi các chuyên đề học tập)
- Tổ chức trao đổi kinh nghiệm học tập. Có kế hoạch giúp đỡ những bạn
còn yếu. Đề xuất với GVCN, GVBM kế hoạch học tập của lớp.
- Theo dõi nề nếp học tập chung và tổng hợp để đánh giá hoạt động học
tập của lớp vào tiết sinh hoạt cuối tuần.
2. Lớp phó văn thể:
- Tổ chức, điều hành 15 phút sinh hoạt các thứ: 3, 5, 7 trong tuần (theo
chủ đề của đoàn trường: Văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao,…)
V. TRƯỞNG PHÒNG Phân công, theo dõi, đôn đốc các công việc:
- Vệ sinh phòng ở và vệ sinh khu vực trong kí túc xá.
- Chịu trách nhiệm chính trong việc khóa cửa. Kiểm tra việc tắt điện, tắt nước
khi ra khỏi phòng. Quản lý, giám sát và báo cáo sĩ số theo yêu cầu (giáo vụ,
GVCN,…)
- Thực hiện các yêu cầu khác về nội quy nề nếp trong kí túc xá
- Tổng hợp để đánh giá và báo cáo vào tiết sinh hoạt cuối tuần.
Để đội ngũ này làm việc tốt, cần lựa chọn phân công việc làm phù hợp
với khả năng từng em, huấn luyện phương pháp làm việc, hướng dẫn cách xây
dựng và trình bày sổ sách khoa học, đầy đủ, hợp lý...Đặc biệt luôn nêu cao tinh
thần đoàn kết, tự giác và tự chủ các thành viên trong lớp. Đó chính là yếu tố
quan trọng nhất quyết định thành bại mọi vấn đề.
2.3.4 Biện pháp thứ tư: Đánh giá xếp loại hạnh kiểm và thi đua khen
thưởng, kỉ luật học sinh.
Nhận thức được việc đánh giá xếp loại và thi đua khen thưởng học sinh
cũng có sự ảnh hưởng rất lớn đến việc ổn định và tiến bộ của lớp cũng như mỗi
thành viên trong lớp. Việc đánh giá khen thưởng kịp thời, công bằng, khách
9
quan sẽ tạo động lực cho các thành viên trong lớp thêm đoàn kết, cố gắng và
phát huy hết tinh thần trách nhiệm vì tập thể. Ngược lại, việc đánh giá khen
thưởng không hợp lí sẽ làm cho học sinh mất đi niềm tin, nhụt ý chí và động lực
phấn đấu. Điều này không sớm thì muộn sẽ làm cho tập thể lớp mất đoàn kết,
lủng củng nội bộ và phá hỏng mọi thứ.
Căn cứ vào nội quy nhà trường đầu năm, tôi tiến hành cho lớp thảo luận
và triển khai thực hiện nội quy nề nếp riêng của lớp 10A6, cụ thể như sau:
HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI HẠNH KIỂM VÀ THI ĐUA KHEN
THƯỞNG KỈ LUẬT LỚP 10A6
I. PHẦN TRỪ ĐIỂM
dựng bài
2. Cộng 5 điểm: Với các con điểm 7, 8 (trực tiếp trong tiết học trên lớp) hoặc mỗi
lần chữa bài tập 15 phút đầu giờ.
3. Cộng 10 điểm: Với mỗi con điểm 9
4. Cộng 20 điểm: Với mỗi con điểm 10
5. Cộng từ 5 đến 30 điểm: Nếu có thành tích đột xuất được tập thể lớp hoặc GV
khen ngợi.
10
Lưu ý: Hàng tuần Lớp trưởng, các Tổ trưởng được cộng 15đ. Bí thư, các lớp phó,
các tổ phó, người ghi sổ đầu bài, cờ đỏ được cộng 10đ. (nếu làm tốt nhiệm vụ được
giao)
III. CÁCH XẾP LOẠI HẠNH KIỂM.
1. Hàng tuần:
* Loại A: Nếu Tổng điểm 5 điểm.
* Loại B: Nếu 5 điểm < Tổng điểm 15 điểm.
* Loại C: Nếu 15 điểm < Tổng điểm 25 điểm. ( 1C quy đổi thành 2B)
* Loại D: Nếu Tổng điểm > 25 điểm.
( 1D quy đổi thành 3B)
Chú ý: Tổng điểm = [Tổng điểm trừ ] – [ Tổng điểm cộng]
2. XL hạnh kiểm học kì: Cuối mỗi học kì nếu tổng số B (sau khi đã quy đổi):
* 4B: Xếp loại Tốt
* Từ 5B đến 8B: Xếp loại Khá
* Từ 9B đến 12B: Xếp loại Trung bình
* > 12B: Xếp loại yếu
IV. CÁC HÌNH THỨC PHẠT.
2. Ngoài những phần thưởng trên đây cuối mỗi học kì, căn cứ vào xếp loại trên
vnedu.vn lớp còn trao các phần thưởng khác như: Thi học kì, Tổng kết học kì, tổng kết
năm học (đối với những học sinh xếp thứ 1, 2, 3), học sinh tiên tiến, học sinh giỏi,…
11
Việc thực hiện theo hướng dẫn này cũng chỉ dừng ở mức tương đối. Trên thực tế
GVCN cần linh hoạt, mềm dẻo và sáng tạo hơn nửa để làm sao phù hợp nhất với điều
kiện thực tiễn và mức độ chấp nhận của học sinh. Trong năm học 2017-2018 qua thực
tế áp dụng cho lớp 10A6, tôi nhận thấy một số ưu, nhược điểm sau:
Ưu điểm:
- Tương đối phù hợp với thực tế lớp 10A6 (các em rất tự giác chấp hành, thi đua
học hành để có nhiều điểm cộng, hầu hết điểm cộng nhiều hơn điểm trừ)
- Việc xếp loại hạnh kiểm được điểm số hóa rất minh bạch, rõ ràng, khách quan
và dễ dàng vận dụng.
- Việc khen thưởng kịp thời luôn tạo động lực, sự hứng khởi cho phong trào thi
đua của lớp. Lớp học rất vui vẻ, đoàn kết.
- Việc kỉ luật công minh tạo nên kỉ cương, nề nếp của lớp.
Nhược điểm:
- Thời gian đầu chưa quen nên các tổ trưởng còn lúng túng trong việc xếp loại
cho tổ viên (GVCN cần sát sao và hướng dẫn cặn kẽ. Về phần này tôi đã chuẩn
bị săn nhiều bảng biểu khoa học, hợp lí đóng thành cuốn cho lớp trưởng, tổ
trưởng,…thuận tiện sử dụng).
2.3.5 Biện pháp thứ năm: Rèn luyện cho học sinh tính tự lập
Trong môi trường nội trú, để sớm ổn định và hòa nhập các em cần phải có
khả năng tự lập. Để rèn luyện cho học sinh tính tự lập, phải làm cho các em hiểu
mục đích rèn luyện tính tự lập và có phương pháp rèn luyện khả năng tự lập.
Theo tôi cần làm tốt hai yêu cầu sau:
em mới tự tin, năng động và luôn cố gắng thực hiện phần việc của mình với
trách nhiệm cao nhất.
- Để rèn tính tự quản cho học sinh trong lớp, trước hết rèn tính tự quản cho đội
ngũ cán bộ (lớp, đoàn, đội). Giao trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ tự quản lý,
điều hành, giải quyết mọi công việc của tập thể khi không có mặt giáo viên,
người phụ trách. Giờ tự học buổi chiều, buổi tối là khoảng thời gian không có
giáo viên, các em tự quản, tự giữ kỉ luật trên lớp. Đội ngũ cán bộ lớp có vai trò
quan trọng trong các giờ tự quản. Bên cạnh đó, ý thức tự giác của mỗi học sinh
là yếu tố quyết định trong giờ tự quản tốt hay không. Giáo viên yêu cầu học sinh
giữ kỉ luật trong các giờ tự quản này.
- Tổ chức phổ biến rộng rãi phương pháp học tập để các em có khả năng tự lập
trong học tập. Các em có kĩ năng tự học hỏi, nghiên cứu để hiểu bài sâu sắc, nhờ
đó, khi làm bài không quay cóp, nhờ cậy bạn bè trong các kỳ thi.
- Rèn luyện cho học sinh biết chủ động trau dồi kiến thức của mình khi tiếp thu
bài giảng của thầy cô trong lớp cũng như sau khi tan học. Biết chủ động tìm đến
thư viện để đọc thêm tài liệu, học nhóm với bạn bè cùng lớp hoặc tự rèn luyện
tại phòng ở. Luôn luôn đặt câu hỏi cho những kiến thức mới học để có thể hiểu
một cách sâu sắc và vận dụng nó vào thực tiễn chứ không chỉ học thuộc bài để
đối phó.
- Luyện cho học sinh tập cách tự suy nghĩ và quyết định cho bản thân từ việc
học hành cho đến lựa chọn ngành nghề. Tìm hiểu những điểm mạnh yếu của bản
thân để phát huy tối đa sở trường và hoàn thiện chính mình.
- Luyện cho các em tập quản lý quỹ thời gian. Mỗi ngày, tự lên kế hoạch thực
hiện các công việc với những thời gian định trước, vào cuối ngày, ghi chép lại
những việc đã hoàn thành rồi tự phân tích, kết quả thực hiện, thời gian thực
hiện….Từ đó điều chỉnh lại cho thích hợp.
- Rèn luyện để học sinh tự tin trước đám đông, không rụt rè nhút nhát khi phát
biểu hay tham gia các hoạt động trong trường, lớp (đây chính là hạn chế phổ
biến của học sinh). Các em biết tự mình làm những việc trong khả năng có thể,
không ngại khó, ngại khổ để khỏi bỏ cuộc nửa chừng.
sống riêng tư của các em (muốn có khoảng trời riêng). (1)
- Muốn được tham gia và trải nghiệm nhiều hơn các hoạt động tập thể (Văn hóa
văn nghệ, TDTT, trải nghiệm thực tế, ăn uống,…). (2)
- Muốn được quan tâm chia sẻ, tạo động lực trong học tập cũng như trong
cuộc sống của thầy cô giáo, bố mẹ. (3)
…
* Hướng giải quyết, đáp ứng các yêu cầu, mong muốn của học sinh.
- Với mong muốn (1): Có thể nói đây là một nhu cầu rất tự nhiên của con
người. Vì vậy GVCN (phối hợp cùng phụ huynh) nên giao việc và để các em tự
quyết định một số việc (trong tầm kiểm soát và định hướng của mình). Không
nên độc đoán dùng quyền lực cá nhân tác động quá nhiều đến các em. Cũng
không nên can thiệp, để ý quá sâu sát vào một số việc mà các em không muốn
(ví dụ trong vấn đề tình cảm bạn bè khác giới,…).
- Với mong muốn (2): Đây cũng là một nhu cầu chính đáng của học sinh. Với
lớp 10A6 tôi luôn ủng hộ tất cả các hoạt động văn hóa văn nghệ, TDTT (trên cơ
14
sở định hướng để không ảnh hưởng nhiều đến việc học tập). Ngoài ra cũng sẵn
sàng tạo điều kiện để các em có các buổi liên hoan vui vẻ khi phù hợp (ví dụ:
20/10, 8/3, gặp mặt đầu xuân, liên hoan mừng chiến thắng, chia tay nghỉ hè,…).
- Với mong muốn (3): Đây là nhu cầu vừa tự nhiên, vừa xã hội của các em. Một
khía cạnh đáng nói để thõa mãn nhu cầu này cho các em, đó là vấn đề kỉ luật
khi học sinh phạm lỗi. Đứng trước bất kì lỗi lầm nào của học sinh GVCN nên có
cái nhìn bao dung, độ lượng và xử lí theo hướng “kỉ luật tích cực”. Tuyệt đối
tránh việc xúc phạm các em cả về thể chất lẫn tinh thần. Điều này vô cùng phản
tác dụng và phản giáo dục (nó chỉ gây ra những vết thương trong tâm hồn các
em). Một khía cạnh khác, sự quan tâm chia sẻ cần thể hiện đúng lúc đúng chỗ.
Xin nêu câu chuyện thực tế tại lớp 10A6.
* Câu chuyện thứ nhất: Nhân dịp tết nguyên đán Mậu tuất 2018, hội Chữ thập
15
Dưới đây là tổng hợp thi đua (điểm trừ) hàng tháng của các chi đoàn.
ĐOÀN TRƯỜNG THPT DTNT NGỌC LẶC
TỔNG HỢP THI ĐUA CẢ NĂM
ST
T
1
2
3
4
5
6
Lớp
10A1
10A2
10A3
10A4
10A5
10A6
Tháng Tháng Tháng Tháng
11
12
1
2
-39.00 -87.00 -21.00 -60.00
-56.60 -78.62 -61.50 -48.60
-419.77
-324.80
-500.04
-217.85
Xếp
loại
chung
5
2
4
3
6
1
- Rất nhiều giấy khen của đoàn trường. Một là “ Đạt thành tích xuất sắc trong
công tác đoàn và phong trào thanh niên năm học 2017-2018”, hai là “ Đạt
thành tích xuất sắc trong tháng thanh niên năm 2018”, ba là “ Giải nhất giải
bóng đá nữ toàn trường lần thứ nhất”, bốn là “Giải nhất giải bóng chuyền nữ
toàn trường lần thứ nhất”
Ngoài ra lớp còn đạt giải nhì văn nghệ trong đợt thi đua chào mừng ngày nhà
giáo Việt nam 20/11. Lớp có 2 phòng/4 phòng đạt phòng kiểu mẫu là phòng: 212
và 214 (trên tổng số 5 phòng kiểu mẫu/23 phòng cả trường).
* Về thành tích cá nhân:
Lớp 10A6 có điểm đầu vào, điểm chọn lớp tương đối thấp. Nhưng với sự
nỗ lực cố gắng vươn lên của mỗi thành viên trong lớp. Kết quả học tập rèn luyện
cuối năm của các em đạt được cụ thể như sau:
Thống kê lớp 10A6
Học lực
SL
0
0.00%
0
0.00%
30
2
27
100.00%
6.67%
90.00%
(lớp 10A6 có tỉ lệ xếp loại học lực xếp thứ hai toàn trường, chỉ sau lớp mũi
nhọn tự nhiên 10A1: 4 giỏi, 27 khá)
Ngoài ra trong các kì thi học sinh giỏi văn hóa, TDTT lớp 10A6 cũng đóng góp
nhiều học sinh và cũng đã đạt giải. Cụ thể:
Kì thi HSG các môn văn hóa cấp tỉnh
Kì thi HSG TDTT cấp tỉnh
16
Học sinh dự thi
Bùi Thị Na
Phạm Thị Phương Thảo
Phạm Thị Nhung
Môn thi
Sinh học
Sinh học
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1 Kết luận
Với đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 10A6, trường THPT
DTNT Ngọc Lặc sớm ổn định, tự tin hòa nhập và học tập trong môi trường
nội trú” tôi đã cố gắng hệ thống một số biện pháp cơ bản. Trong mỗi biện pháp
có căn cứ vào cơ sở lí thuyết và điều kiện thực tế vận dụng. Các biện pháp đưa
ra theo một trình tự logic và có mối quan hệ biện chứng với nhau nhằm đạt được
mục đích của sáng kiến. Có những biện pháp mang tính phổ biến. Nhưng cũng
có những biện pháp chỉ mang tính cá nhân. Nhưng tất cả vẫn là sự đúc rút kinh
nghiệm nhiều năm làm công tác chủ nhiệm và cũng đã gặt hái được những thành
công nhất định.
Thực tế vận dụng SKKN này tại lớp 10A6, trường THPT DTNT Ngọc
Lặc trong năm học 2017-2018, tôi nhận thấy các biện pháp đưa ra cơ bản phù
hợp, kết quả đạt được đúng như dự liệu. Biện pháp đầu tiên giúp tôi nhanh
chóng tìm hiểu được những thông tin cơ bản và đa chiều về học sinh. Khi đã có
cái nhìn bao quát về học sinh thì cũng rất dễ để GVCN thực hiện các biện pháp
tiếp theo. Việc xếp phòng ở tương đối hợp lí (dù lúc đầu cũng khá vất vả), việc
chọn đội ngũ cán bộ lớp khá phù hợp (các vị trí làm việc rất đều tay, riêng vị trí
lớp trưởng làm rất tốt). Công tác thi đua khen thưởng, xếp loại hàng tuần được
học sinh thực hiện một cách hào hứng, phấn khởi. Phong trào thi đua học tập,
rèn luyện của lớp rất sôi nổi, tích cực và có chiều sâu. Học sinh không hề có cảm
giác nặng nề, gò bó khi phải thực hiện nội quy nề nếp trường, lớp.
Một yêu cầu quan trọng nhất là rèn luyện cho các em tinh thần đoàn kết
và tính tự lập thì đến nay có thể khẳng định đã thành công. Biểu hiện rõ nhất cho
điều này là mọi thành viên trong lớp sống với nhau rất vui vẻ, hòa đồng. Các em
xem nhau như anh em trong nhà, đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Cùng
bảo ban, nhắc nhở nhau thực hiện nội quy nề nếp và nhiệm vụ học tập của mình
(tuy rằng đầu học kì I, cũng đã có thời điểm một vài cá nhân gây mất đoàn kết
vào điều kiện thực tế vận dụng mà GVCN có thể điều chỉnh, bổ sung, thay đổi
sao cho phù hợp nhất). Vì vậy tôi cũng kiến nghị Sở giáo dục và đào tạo phổ
biến SKKN này rộng rãi tới giáo viên các trường THPT. Bản thân tôi cũng sẽ
tiếp tục nghiên cứu mở rộng SKKN này lên một tầm cao hơn để có thể bao quát
vấn đề chủ nhiệm và có khả năng vận dụng tốt hơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 25 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết
Nguyễn Đức Lượng
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Module11: Chăm sóc hỗ trợ tâm lí học sinh nữ, học sinh dân tộc thiểu số
trong trường THPT
[2] Module 35: Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
[3] Module 33: Giải quyết tình huống sư phạm trong công tác chủ nhiệm
[4] Module 2: Hoạt động học tập của học sinh THPT
[5] Các tài liệu khác trên mạng internet
19
DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
Năm học
đánh giá
xếp loại
Sở giáo dục và
đào tạo
C
2012-2013
Sở giáo dục và
đào tạo
B
2015-2016
20