Một số giải pháp sử dụng trong việc dạy học bài 8 định dạng văn bản - Pdf 53

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Thực hiện Nghị quyết 40/2000/NQ-QH của Quốc hội và Chỉ thị số
14/2001/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới chương trình và phương
pháp giảng dạy ở bậc giáo dục phổ thông. Đến nay, đổi mới giáo dục phổ thông
đã trở thành một khâu đột phá quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, trong
đó đặc biệt chú trọng đến phương tiện dạy học, đối tượng dạy học và phương
pháp dạy học.
Hiện nay trong lí luận dạy học nói chung và lí luận dạy học môn tin học
nói riêng đề cập khá nhiều phương pháp và kĩ thuật dạy học: phương pháp thảo
luận, phương pháp đặt câu hỏi, phương pháp chia nhóm …
Các cách thiết kế bài giảng hiện nay nhằm mục đích áp dụng phương
pháp hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực ham muốn học hỏi, tư duy
sáng tạo, năng lực tự giải quyết vấn đề, rèn luyện và phát triển năng lực tự học
sáng tạo, nghiên cứu, nghĩ và làm việc một cách tự chủ… Đồng thời để thích
ứng với sự phát triển tư duy của học sinh trong xã hội mới và tiếp cận với các
công nghệ tiên tiến trong xã hội, trên thế giới. Bên cạnh đó, trong các kỹ thuật
dạy học mới, vai trò của người thầy có sự thay đổi là: “hướng dẫn học sinh biết
tự mình tìm ra hướng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình học tập,
biết cách làm việc độc lập, làm việc tập thể. Thầy là người định hướng, là người
cố vấn giúp học sinh tự đánh giá, cũng như giúp học sinh luôn đi đúng con
đường tìm hiểu, lĩnh hội kiến thức…”.
Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy cho đối tượng học sinh tại Trung tâm
Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên (GDNN-GDTX) Thọ Xuân tôi
thấy rằng, để đạt hiệu quả cao trong mỗi phần học, buổi học cần có cách thiết kế
bài giảng cho phù hợp với nội dung kiến thức; phương pháp, phương tiện dạy
học phải phù hợp với từng đối tượng học sinh. Để qua mỗi phần học, buổi học
học sinh thích thú với kiến thức mới, qua đó hiểu được kiến thức đã học trên
lớp, đồng thời học sinh thấy được tầm quan trọng của vấn đề và việc ứng dụng
của kiến thức trước hết để đáp ứng những yêu cầu của môn học, và quan trọng
hơn là việc áp dụng được trọng thực tiễn trong đời sống xã hội.

những bài có cấu trúc tương tự như bài: Làm việc với văn bản, bài: Chèn một số
đối tượng đặc biệt… để nâng cao chất lượng giờ dạy.
1.3. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu.
Đề tài này được thực hiện trên nền học sinh 4 lớp trong 2 năm: 11A3 và
11A4 thực hiện ở năm học 2016 – 2017, 11A1 và11A2 thực hiện ở năm học
2017 – 2018 tại Trung tâm GDNN-GDTX Thọ Xuân.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Kết hợp thực tiễn giáo dục ở Trung tâm GDNN-GDTX Thọ Xuân.
- Có nghiên cứu thêm các tài liệu bổ trợ: Nghề tin học phổ thông 11 và
một số tài liệu về các phương pháp dạy học hiện nay.
- Điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin để biết thực trạng dạy và học
ở trung tâm để đưa ra được các phương pháp dạy học đối với nghề tin học nói
chung và đối với bài 8 - Định dạng văn bản nói riêng dễ hiểu và dễ nhớ nhất.
2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Trong xu thế phát triển ngày càng cao của xã hội, thì xã hội cũng ngày
càng đổi mới nhiều để tiến kịp với sự phát triển đó. Với mục tiêu đào tạo học
sinh thành những con người phát triển toàn diện về đạo đức và trí tuệ, thẩm mĩ,
các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo. Vì
vậy trong dạy học cần phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo
của học sinh phù hợp với đặc trưng bộ môn, khả năng hợp tác rèn luyện kỹ năng
vận dụng kiến thức vào thực tế, gây hứng thú học tập cho học sinh.
Với nghề Tin học văn phòng việc hình thành cho học sinh kỹ năng nghề
nghiệp vô cùng quan trọng và cần thiết bởi vì điều đó sẽ giúp cho học sinh vững
vàng và tự tin hơn khi vào đời.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1 Thuận lợi – khó khăn:
Có những mặt thuận lợi như:
2



Tổng
số

Giỏi
S
L

%

Khá
SL

%

41
2
4.9
12 29.3
36
0
0
13 36.1
77
2
2.6
25 32.5
* Về kĩ năng thực hành:

TB

19.4
22.1

3
2
5

7.3
5.6
6.4

Thực hành
Tự thao tác sau khi có Thao tác cần có hướng
Tổng số
Chưa biết thao tác
hướng dẫn
dẫn thường xuyên
SL
%
SL
%
SL
%

11A3
41
8
25.6
20
48.8

được thời gian soạn thảo một văn bản.
Từ thực tế trên và bản thân tôi là một giáo viên dạy bộ môn Tin học luôn
suy nghĩa phải đưa ra những giải pháp như thế nào để các em nắm lí thuyết chắc
hơn nhớ lâu hơn và vận dụng vào thực hành tốt hơn. Sau một thời gian suy nghĩ
tiến hành thực nghiệm tôi đã thu được những kết quả tốt, sau đây tôi xin đề ra
một số phương pháp dạy học trong bài định dạng văn bản.
2.3. Các phương pháp dạy học sử dụng để giải quyết vấn đề.
Để giúp học sinh nắm vững kiến thức, biết vận dụng kiến thức để thực
hiện được các bài thực hành một cách khoa học và nhanh nhất, tôi đã rút ra kinh
nghiệm dạy bài này như sau:
2.3.1 Sử dụng phương pháp vấn đáp, giải thích, minh họa:
Phương pháp này được thực hiện khi những câu hỏi của giáo viên đưa ra
có kèm theo các ví dụ minh họa (bằng lời hoặc bằng hình ảnh trực quan) nhằm
giúp học sinh dễ hiểu, dễ ghi nhớ. Việc áp dụng phương pháp này có giá trị sư
phạm cao hơn nhưng khó hơn và đòi hỏi nhiều công sức của giáo hơn khi chuẩn
bị hệ thống các câu hỏi thích hợp. Phương pháp này được áp dụng có hiệu quả
trong một số trường hợp, như khi giáo viên biểu diễn phương tiện trực quan.
Đối với “bài 8: Định dạng văn bản” này thì trước hết giáo viên cần phải
xác định ta nên đưa hình ảnh trực quan nào, vừa có tính gợi mở vừa thu hút học
sinh cùng với hình ảnh trực quan là các câu hỏi gợi mở.
Ví dụ như:
Hoạt động 1: Tìm hiểu về định dạng văn bản
Chuẩn bị của giáo viên cho hoạt động 1: hai văn bản: một văn bản mới chỉ
nhập chưa qua chỉnh sửa về định dạng, một văn bản đã qua chỉnh sửa về định
dạng ( sử dụng máy chiếu hoặc có thể in ra trên giấy A0 cho học sinh quan sát).
Văn bản 1: Chưa thô
Du lịch Ba Miền
Hang Thắm Làng, Chợ Mới, Bắc Cạn
Từ trung tâm xã Yên Hân (Chợ Mới), men theo con đường nhỏ chừng 2km, du
khách sẽ tới thôn Nà Làng. Là một xóm nhỏ chỉ có 32 hộ, Nà Làng có những

xinh xắn thấp thoáng bên vườn cây, xung quanh là rừng xanh
bao bọc. Đứng từ xa, ai cũng nhìn thấy phía chân núi là một
cây Chò nước đường kính khoảng 3 m. Ngay gần gốc cây là
cửa hang Thắm Làng – một hang động tự nhiên có vẻ đẹp
cuốn hút…

Chinh phục đỉnh Lang Bian kì diệu
Ngược dòng suối Tiên đến thượng nguồn, theo sự
hướng dẫn du khách sẽ kết bè tre rồi chèo suối, vượt ghềnh…
và tắm suối trước khi ăn trưa.
Đến Đà Lạt, du khách có dịp chiêm ngưỡng hồ Xuân
Hương, một trong những vẻ duyên dáng yêu kiều của thành
phố sương mù. Tới thành phố du lịch nổi tiếng này, du khách
có cơ hội chinh phục đỉnh Lang Bian, leo lên đỉnh Huyền
thoại tình yêu cao 2.169 m.

5


Làng cổ Túy Loan – Đà Nẵng
Cách thành phố Đà Nẵng náo nhiệt chỉ chừng 15 km, bên quốc lộ 14B,
thật may mắn vẫn còn lại hiếm hoi một ngôi làng cổ có tuổi gần 500 năm, xanh
mát và yêu ả nằm bên sông Túy Loan trong xanh, thu hút ngày càng đông khách
thăm. Làng lấy tên sông, cũng gọi Túy Loan.
Ngôi làng hấp dẫn không chỉ bởi khung cảnh xanh tươi của lũy tre và
vườn cây trái, không khí trong lành như ốc đảo xanh giữa bốn bề đô thị hóa
nhanh, mà còn do nhiều dấu ấn văn hóa và nếp sống cổ truyền vẫn còn lưu giữ.
Nội dung: Giáo viên cho học sinh xem hai văn bản, trong đó một văn bản
được định dạng, một văn bản chưa được định dạng. Từ đó học sinh hình thành
nhu cầu cần định dạng văn bản và cần học những kỹ năng để thực hiện yêu cầu


Chinh phục đỉnh Lang Bian kì diệu
Ngược dòng suối Tiên đến thượng nguồn, theo sự hướng dẫn du khách sẽ kết bè
tre rồi chèo suối, vượt ghềnh…và tắm suối trước khi ăn trưa.
Đến Đà Lạt, du khách có dịp chiêm ngưỡng hồ Xuân Hương, một trong những
vẻ duyên dáng yêu kiều của thành phố sương mù. Tới thành phố du lịch nổi
tiếng này, du khách có cơ hội chinh phục đỉnh Lang Bian, leo lên đỉnh Huyền
thoại tình yêu cao 2.169 m.
Làng cổ Túy Loan – Đà Nẵng
Cách thành phố Đà Nẵng náo nhiệt chỉ chừng 15 km, bên quốc lộ 14B, thật may
mắn vẫn còn lại hiếm hoi một ngôi làng cổ có tuổi gần 500 năm, xanh mát và
yêu ả nằm bên sông Túy Loan trong xanh, thu hút ngày càng đông khách thăm.
Làng lấy tên sông, cũng gọi Túy Loan.
Ngôi làng hấp dẫn không chỉ bởi khung cảnh xanh tươi của lũy tre và vườn cây
trái, không khí trong lành như ốc đảo xanh giữa bốn bề đô thị hóa nhanh, mà còn
do nhiều dấu ấn văn hóa và nếp sống cổ truyền vẫn còn lưu giữ.
Văn bản 2: Đã được định dạng về kí tự

Du lịch Ba Miền
Hang Thắm Làng, Chợ Mới, Bắc Cạn
Từ trung tâm xã Yên Hân (Chợ Mới), men theo con đường nhỏ chừng 2km, du
khách sẽ tới thôn Nà Làng. Là một xóm nhỏ chỉ có 32 hộ, Nà Làng có những
căn nhà sàn xinh xắn thấp thoáng bên vườn cây, xung quanh là rừng xanh bao
bọc. Đứng từ xa, ai cũng nhìn thấy phía chân núi là một cây Chò nước đường
kính khoảng 3 m. Ngay gần gốc cây là cửa hang Thắm Làng – một hang động tự
nhiên có vẻ đẹp cuốn hút…

Chinh phục đỉnh Lang Bian kì diệu
Ngược dòng suối Tiên đến thượng nguồn, theo sự hướng dẫn du khách sẽ kết bè
tre rồi chèo suối, vượt ghềnh…và tắm suối trước khi ăn trưa.

bản khi có sự tác động của định dạng đoạn lên văn bản.
Văn bản 1: chỉ mới định dạng kí tự

Du lịch Ba Miền
Hang Thắm Làng, Chợ Mới, Bắc Cạn
Từ trung tâm xã Yên Hân (Chợ Mới), men theo con đường nhỏ chừng 2km, du
khách sẽ tới thôn Nà Làng. Là một xóm nhỏ chỉ có 32 hộ, Nà Làng có những
căn nhà sàn xinh xắn thấp thoáng bên vườn cây, xung quanh là rừng xanh bao
bọc. Đứng từ xa, ai cũng nhìn thấy phía chân núi là một cây Chò nước đường
kính khoảng 3 m. Ngay gần gốc cây là cửa hang Thắm Làng – một hang động tự
nhiên có vẻ đẹp cuốn hút…

Chinh phục đỉnh Lang Bian kì diệu
Ngược dòng suối Tiên đến thượng nguồn, theo sự hướng dẫn du khách sẽ kết bè
tre rồi chèo suối, vượt ghềnh…và tắm suối trước khi ăn trưa.
Đến Đà Lạt, du khách có dịp chiêm ngưỡng hồ Xuân Hương, một trong những
vẻ duyên dáng yêu kiều của thành phố sương mù. Tới thành phố du lịch nổi
tiếng này, du khách có cơ hội chinh phục đỉnh Lang Bian, leo lên đỉnh Huyền
thoại tình yêu cao 2.169 m.

Làng cổ Túy Loan – Đà Nẵng
Cách thành phố Đà Nẵng náo nhiệt chỉ chừng 15 km, bên quốc lộ 14B, thật may
mắn vẫn còn lại hiếm hoi một ngôi làng cổ có tuổi gần 500 năm, xanh mát và
yêu ả nằm bên sông Túy Loan trong xanh, thu hút ngày càng đông khách thăm.
Làng lấy tên sông, cũng gọi Túy Loan.
Ngôi làng hấp dẫn không chỉ bởi khung cảnh xanh tươi của lũy tre và vườn cây
trái, không khí trong lành như ốc đảo xanh giữa bốn bề đô thị hóa nhanh, mà còn
do nhiều dấu ấn văn hóa và nếp sống cổ truyền vẫn còn lưu giữ.

8

Ngôi làng hấp dẫn không chỉ bởi khung cảnh xanh tươi của lũy tre và
vườn cây trái, không khí trong lành như ốc đảo xanh giữa bốn bề đô thị hóa
nhanh, mà còn do nhiều dấu ấn văn hóa và nếp sống cổ truyền vẫn còn lưu giữ.
Nội dung: Giáo viên cho học sinh xem hai văn bản, trong đó một văn bản
mới chỉ được định dạng kí tự, một văn bản được định dạng kí tự và định dạng
9


đoạn. Qua đó cho các em nhận xét sự thay đổi giữa hai văn bản (hình thức trực
quan của văn bản qua quan sát đã có sự thay đổi khi chúng ta định dạng đoạn lên
văn bản).
Câu hỏi:
Hai văn bản dưới đây có cùng nội dung nhưng thể hình thức trình bày có
sự khác nhau. Em chọn cách trình bày nào và tại sao?
Cho học sinh thảo luận để tìm câu trả lời.
Học sinh ghi nhớ nhiệm vụ chuyển giao của giáo viên , suy nghĩ trao đổi với
các bạn để đúc rút ra câu trả lời của mình .
Trong quá trình hoạt động của học sinh giáo viên quan sát học sinh tự học,
thảo luận, trợ giúp kịp thời khi các em cần hỗ trợ. Ghi nhận kết quả làm việc của
cá nhân học sinh..
2.3.2 Dạy học trực quan bằng biểu trưng ngôn ngữ.
Biểu trưng ngôn ngữ được tạo ra từ chữ viết dưới dạng một từ đơn lẽ hoặc
câu hoàn chỉnh dùng đặt tên đối tượng, định nghĩa, mô tả đối tượng.
Thường khi dạy các bài học lý thuyết tôi thường sử dụng loại biểu trưng
trực quan bằng ngôn ngữ.
Khi dạy bài “Định dạng văn bản” thì đưa lên màn hình các bước thực hiện
của Hoạt động 2: định dạng kí tự như sau:
Bước 1. Chọn khối văn bản cần định dạng
Bước 2. Click Format \ Font
Bước 3. Hộp thoại Font xuất hiện chọn Font

- Bước 3: Hộp thoại Font xuất hiện chọn Font
+ Font:
chọn phông chữ
+ Font Style:
kiểu chữ
+ Size :
cỡ chữ
+ Font color:
màu chữ
+ Underline Style:
đường gạch chân
+ Underline Color:
màu đường gạch chân
+ Effects:
các hiệu ứng
+ Preview:
khung hiển thị
- Bước 4. Click OK
Hoạt động 3: Định dạng đoạn như sau:
- Bước 1. Chọn đoạn văn bản cần định dạng
- Bước 2. Click Format \ Paragraph (Sách nghề tin học văn phòng
11 - trang 50). Nhưng với Ms Word 2010 ta thực hiện như sau:

Kích chọn

Bước 3. Hộp thoại Paragraph xuất hiện chọn Paragraph
+ General: Alignment: chọn căn lề cho đoạn văn bản
+ Indentatin: chọn khoảng cách của đoạn văn bản với lề trái (left)
và lề phải của trang văn bản (right).
+ Spacing : Chọn khoảng cách của đoạn văn bản với các đoạn văn

Dạy bài “Định dạng văn bản” ta chiếu hình ảnh sau và kết hợp cho học
sinh thực hiện định dạng phông chữ, cỡ chữ, kiểu chữ... trên máy tính thì học
sinh dể tiếp thu bài và ghi nhớ lâu hơn.

12


Hoạt động 2: Định dạng kí tự

13


Hoạt động 3: Định dạng đoạn

2.3.5 Phương pháp dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp là một quan niệm dạy học nhằm hình thành ở học sinh
những năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự huy
động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Điều đó cũng
có nghĩa là đảm bảo để mỗi học sinh biết cách vận dụng kiến thức học được
trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ, qua đó trở thành
một người công dân có trách nhiệm, một người lao động có năng lực. Dạy học
tích hợp đòi hỏi việc học tập trong nhà trường phải được gắn với các tình huống
của cuộc sống mà sau này học sinh có thể đối mặt vì thế nó trở nên có ý nghĩa
đối với các em. Với cách hiểu như vậy, dạy học tích hợp phải được thể hiện ở cả
nội dung chương trình, phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá,
hình thức tổ chức dạy học.

14



* Bước 2: Sử dụng vào hộp thoại font
Giáo viên: Trình chiếu bước thứ 2
Học sinh: Quan sát, lắng nghe, ghi chép bài
Giáo viên: Thực hiện mẫu cho học sinh quan sát
Học sinh: Quan sát các thao tác mẫu của giáo viên
Giáo viên: Cho học sinh thực hiện luôn trên máy
Học sinh: Thực hành định dạng kí tự
Giáo viên: Quan sát các thao tác thực hành của học sinh, uốn nắn
chỉnh sửa các thao tác còn sai. Nhận xét đánh giá sai sót của học sinh khi thực
hiện.
Chú ý: trong bước thứ 2 khi xuất hiện hộp thoại font thì giáo viên chỉ dẫn
học sinh chọn thẻ font để định dạng kí tự, tại thẻ font có nhiều mục định dạng để
học sinh dễ hiểu và thuận tiện trong các thao tác thực hành sau này thì giáo viên
15


nên thực hiện thao tác mẫu với mỗi lần chọn lựa định dạng kí tự ( định dạng về
phông chữ, cỡ chữ, kiểu chữ, màu sắc…) sau mỗi thao tác mẫu của giáo viên thì
học sinh cũng thực hành luôn.
* Bước 3: Click OK
Đối với hoạt động 3: Định dạng đoạn văn bản tôi cũng thực hiện sử dụng
phương pháp tích hợp, kết hợp đồng thời việc dạy lí thuyết xen lẫn cho học sinh
thực hành.
Ngay từ đầu để giảng bài “Định dạng văn bản”tôi đã áp dụng kết hợp rất
nhiều phương pháp dạy học lồng ghép với nhau để giải quyết từng hoạt động.
Tạo cho học sinh có hứng thú, kích thích cần phải tìm hiểu các kiến thức liên
quan để giải quyết vấn đề. Để có sự liên kết cho bài tôi sử dụng bài thực hành
trong sách nghề tin học văn phòng 11 trang 51 làm ví dụ thực tế, như vậy khi
giáo viên nêu lên được phần lí thuyết có liên quan của bài học thì đồng thời cả
giáo viên và học sinh đã thực hành được các yêu cầu định dạng về kí tự và đoạn



chức dạy học tích hợp cho nên phòng học phải có chỗ để học lý thuyết đồng thời
cũng phải có chỗ để bố trí máy móc thiết bị thực hành. Vì vậy, diện tích phòng
dạy học tích hợp phải đủ lớn để kê bàn, ghế học lý thuyết, lắp đặt các thiết bị hỗ
trợ giảng dạy lý thuyết, lắp đặt đủ các thiết bị thực hành cho học sinh.
2.3.6 Phương pháp dạy học và luyện tập thực hành
Về mặt bản chất thì “luyện tập và thực hành”: nhằm củng cố, bổ sung, làm
vững chắc thêm các kiến thức lí thuyết. Trong luyện tập, người ta nhấn mạnh tới
việc lặp lại với mục đích học thuộc những “đoạn thông tin”: đoạn văn, thơ, bài
hát, kí hiệu, quy tắc, định lí, công thức, … đã học và làm cho việc sử dụng kĩ
năng được thực hiện một cách tự động, thành thục. trong thực hành, người ta
không chỉ nhấn mạnh vào việc học thuộc mà còn nhằm áp dụng hay sử dụng
một cách thông minh các trí thức để thực hiện các nhiệm vụ khác nhau. Vì thế,
trong dạy học, bên cạnh việc cho học sinh luyện tập một số chi tiết cụ thể, giáo
viên cũng cần lưu ý cho học sinh thực hành phát triển kĩ năng.
Trong bài 8 “Định dạng văn bản” học sinh sau khi học xong phần lí
thuyết liên quan đã giải quyết xong được bài thực hành 1 (trang 51 – Sách nghề
tin học văn phòng 11). Trước khi vào bài thực hành thứ 2 tôi tóm tắt lại những
kiến thức có liên quan, nhấn mạnh những điểm cần chú ý để sang bài thực hành
thứ 2 các em không mắc phải.
Do số lượng máy trong phòng còn hạn chế (2 em/1 máy) nên tôi tổ chức
cho học sinh khi vào học thường là một em có học lực tốt đối với môn tin học sẽ
đi kèm với một em học kém hơn. Khi phân chia theo nhóm như vậy học sinh có
thể trao đổi hỗ trợ lẫn nhau - bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ
không chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên.
Giáo viên quản lí, giám sát học sinh thực hành theo nhóm :
+ Trong quá trình học sinh thực hành, giáo viên theo dõi quan sát và
bổ trợ khi cần.
+ Chỉ rõ những kĩ năng, thao tác nào được dành cho đối tượng học

- Việc ứng dụng giúp giáo viên truyền thụ kiến thức cho học sinh một
cách tích cực và trực quan, tiết kiệm thời gian trong tiết dạy lí thuyết từ đó học
sinh có thời gian thực hành nhiều hơn và trong quá trình thực hành học sinh nhớ
kiến thức lâu hơn
- Đối với học sinh tôi nhận thấy học sinh học tập tích cực hơn, hào hứng
hơn, chú ý hơn, tham gia xây dựng bài sôi nổi hơn. Đặc biệt các em ghi nhớ kiến
thức lâu hơn, chất lượng đi lên rõ rệt.
Sau khi áp dụng các biện pháp trên vào các tiết dạy thể hiện chất lượng
các mức độ như sau.
Cụ thể: * Về mức độ tiếp thu lý thuyết:
Lớp

Tổng
số

Giỏi
SL
%

Khá
SL
%

TB
SL

%

Yếu
SL

25
32.5
31
40.3
20
26
1
1.2
0
0
Năm học 2017 - 2018
11A1
48
14
29.2
25
52
8
16.7
1
2.1
0
0
11A2
46
13
28.3
26
56.5
7

Hai lớp 11A3, 11A4 năm học 2016 – 2017:
+ Số em hiểu bài biết vận dụng kiến thức kĩ năng trình bày bài lí
thuyết tăng 37.7%
+ Số em đạt trung bình giảm 10.4 %
+ Số em chưa hiểu bài, vận dụng yếu giảm 21 %
+ Số lượng học sinh kém không còn
Hai lớp 11A1, 11A2 năm học 2017 – 2018:
+ Số em hiểu bài biết vận dụng kiến thức kĩ năng trình bày bài lí
thuyết tăng 47.9%
+ Số em đạt trung bình giảm 20.5 %
+ Số em chưa hiểu bài, vận dụng yếu giảm 21 %
+ Số lượng học sinh kém không có.
* Về kĩ năng thực hành:
Lớp

Tổng số

Thực hành
Tự thao tác sau Thao tác cần có hướng Chưa biết thao
khi có hướng dẫn
dẫn thường xuyên
tác

SL

%
SL
%
SL
%

0
0
11A1
48
40
86.9
6
13.1
0
0
11A2
46
Cộng
84
16
0.0
94
79
15
0
So với khi chưa áp dụng đề tài nghiên cứu thì ta thấy có sự thay đổi rõ rệt:
Hai lớp 11A3, 11A4 năm học 2016 – 2017:
+ Số lượng học sinh tự thao tác sau khi có hướng dẫn tăng 57.1%
+ Thao tác cần có hướng dẫn thường xuyên giảm 28.5 %
+ Chưa biết thao tác không còn.
Hai lớp 11A1, 11A2 năm học 2017 – 2018:
+ Số lượng học sinh tự thao tác sau khi có hướng dẫn tăng 65.8%
+ Thao tác cần có hướng dẫn thường xuyên giảm 37.2%
+ Chưa biết thao tác không có.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA BAN GIÁM ĐỐC Thanh Hóa, ngày 20 tháng 5 năm
2018
Tôi xin cam đoan đề tài này do tôi tự
viết không sao chép của người khác
(Kí và ghi rõ họ tên)

Hà Thị Kim Oanh

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status