Một vài biện pháp nâng cao chất lượng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 5 - Pdf 53

1. MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Trong giao tiếp hàng ngày, chúng ta thường dùng ngôn ngữ lời nói, chữ viết
để trao đổi, thông tin, truyền đạt, nhận xét...Khả năng trình bày ngôn ngữ hay ,
dở còn phụ thuộc vào kiến thức và kĩ năng của mỗi người. Tuy nhiên, nếu có sự
trau chuốt, rèn luyện thì việc sử dụng ngôn ngữ, nói hay viết vào giao tiếp sẽ có
hiệu quả hơn. Bởi thế, ngay từ bậc Tiểu học, trong môn Tiếng Việt, phân môn
Tập làm rất được chú trọng ( chiếm số tiết nhiều – 2 tiết/ tuần) nhằm rèn luyện
cho học sinh biết diễn đạt nội dung một đề tài được đưa ra qua cách trình bày,
diễn đạt, dùng từ đặt câu.
Dạy tốt phân môn Tập làm văn nói chung và kiểu bài văn miêu tả nói riêng
là vấn đề được nhiều giáo viên tiểu học quan tâm. Phân môn Tập làm văn lớp 5
là sự tiếp nối và nâng cao, mở rộng so với các lớp dưới. Chương trình thay sách
tiểu học phát huy bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong môn Tiếng Việt. Học
sinh tiểu học ngay từ lớp 1, 2, 3 đã được tiếp xúc với nhiều dạng văn bản khác
nhau, có nội dung gần gũi trong cuộc sống và kĩ năng giao tiếp của các em với
cộng đồng. Đó là một ưu điểm không ai phủ nhận. Là giáo viên, nhất là giáo
viên dạy lớp 5 không ai tránh khỏi những trăn trở, băn khoăn là làm thế nào
giúp học sinh rèn luyện tốt kỹ năng làm bài Tập làm văn, nhất là văn miêu tả.
Qua thực tế nhiều năm giảng dạy lớp 5 tôi nhận ra số lượng học sinh học
giỏi môn văn và yêu thích học môn văn còn rất hạn chế. Tại sao học sinh yêu
thích học và giỏi môn Tập làm văn ít ỏi như vậy, trong khi Tiếng Việt là tiếng
mẹ đẻ của chúng ta, các em lúc chưa tròn một tuổi đã biết nói, năm sáu tuổi đã
biết đọc, đã biết viết Tiếng Việt ? Chúng ta đã tự hào tiếng Việt ta phong phú,
giàu hình ảnh, đa dạng về nghĩa, có sức biểu cảm sâu sắc. Nhưng một thực tế
làm buồn lòng những thầy cô giáo chúng tôi vì học sinh giỏi phân môn Tập làm
văn còn quá khiêm tốn. Khi chấm bài Tập làm văn, tôi thấy đa số học sinh đã
biến các bài văn miêu tả thành văn kể, liệt kê một cách khô khan, nghèo nàn về
từ, diễn đạt rườm rà tối nghĩa. Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy- học
Tập làm văn nhất là văn miêu tả cho học sinh lớp 5? Đi tìm câu trả lời cho câu
hỏi trên là một quá trình và cũng là mục đích cần hướng đến của các kỹ sư tâm

- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp thống kê.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
- Tập làm văn là một phân môn mang tính tổng hợp và sáng tạo cao. Tổng
hợp các kiến thức, kĩ năng từ Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu,...
để viết nên một bài Tập làm văn.
- Theo quan điểm tích hợp, các phân môn được tập hợp lại xung quanh trục
chủ điểm và các bài đọc. Nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng gắn
bó chặt chẽ với nhau. Như vậy, muốn dạy- học có hiệu quả Tập làm văn miêu tả
(tả cảnh, tả người) nhất thiết người giáo viên phải dạy tốt Tập đọc, Kể chuyện,
Chính tả, Luyện từ và câu. Vì trong các bài đọc, trong câu chuyện, trong các bài
tập luyện từ- câu thường xuất hiện các đoạn văn, khổ thơ có nội dung miêu tả rất
rõ về cảnh vật, thiên nhiên, con người. Qua các tiết học này học sinh được cung
cấp thêm vốn từ, vốn hiểu biết.
- Bài Tập làm văn nếu không sáng tạo sẽ trở thành một bài văn khô cứng,
góp nhặt của người khác, nội dung bài văn sẽ không hồn nhiên, trong sáng, mới
mẻ như tâm hồn của các tác giả nhỏ tuổi.
- Chất lượng Tập làm văn là chất lượng của cảm thụ văn học, của các kĩ
năng nghe, nói, đọc, viết tiếng mẹ đẻ. Cho nên, thầy và trò phải soạn giảng và
học tập tích cực, nghiêm túc, hiệu quả, mới mong nâng cao một cách bền vững
chất lượng môn Tiếng Việt ở lớp cuối cấp Tiểu học.
- Dạy Tập làm văn lớp 5 phải đảm bảo mục tiêu, yêu cầu cần đạt về kiến
thức, kĩ năng của chương trình giáo dục cấp Tiểu học theo chuẩn kiến thức, kĩ
năng của từng môn học ( Ban hành kèm theo quyết định của Bộ GD & ĐT) và
phù hợp với trình độ của từng học sinh trong lớp .

2



Thời điểm
Khảo sát đầu
năm học
2017-2018

Số
HS
44

Điểm
9-10

Điểm 7-8

5 11,3% 12

Điểm 5 - 6

27 % 20

45,8 %

Điểm 4 -3
7

15,9%

2.3. Các giải pháp
Xuất phát từ thực trạng trên, đồng thời thấy rõ vai trò, nhiệm vụ của một
giáo viên đang đứng trên bục giảng, tôi mạnh dạn đưa ra bảy giải pháp sau đây:

Tả từ dưới lên trên “ Cây hồi thẳng, cao, tròn xoe. Cành hồi giòn, dễ gãy
hơn cành khế. Quả hồi phơi mình xoè trên mặt lá đầu cành” (Rừng hồi xứ
Lạng).
b. Tả theo trình tự thời gian:
Cái gì xảy ra trước (có trước) thì miêu tả trước. Cái gì xảy ra sau (có sau)
thì miêu tả sau. Trình tự này thường được vận dụng khi làm Tập làm văn miêu tả
cảnh hay tả cây cối,...
Ví dụ 1:
“...Buổi chiều, xe dừng lại ở một thị trấn nhỏ. Nắng phố huyện vàng hoe.
Những em bé Hmông, những em bé Tu Dí, Phù Lá cổ đeo móng hổ, quần áo sặc
sỡ đang chơi đùa trước cửa hàng. Hoàng hôn, áp phiên của phiên chợ thị trấn,
người ngựa dập dìu chìm trong sương núi tím nhạt” (Đường đi Sa Pa- Tiếng Việt
4).
Ví dụ 2:
“Thảo quả trên rừng Đản Khao đã chín nục. Chẳng có thứ quả nào hương
thơm lại ngây ngất kì lạ đến như thế. Mới đầu xuân năm kia, những hạt thảo quả
gieo trên đất rừng qua một năm, đã lớn cao đến bụng người. Một năm sau nữa,
từ một thân lẻ, thảo quả đâm thêm hai nhánh mới. Sự sinh sôi sao mà mạnh mẽ
vậy.”

4


c. Tả theo trình tự tâm lí:
Khi quan sát cần thấy những đặc điểm riêng, nổi bật nhất, thu hút và gây
cảm xúc mạnh nhất đến bản thân thì quan sát trước, tả trước, các bộ phận khác tả
sau. Khi miêu tả đồ vật, loài vật, tả người nên vận dụng trình tự này nhưng chỉ
nên tả những điểm đặc trưng nhất, không cần phải tả đầy đủ chi tiết như nhau
của đối tượng.
Ví dụ 1:

thường ẩn chứa đến 3 yêu cầu: yêu cầu về thể loại, yêu cầu về nội dung, yêu cầu
về trọng tâm.
Ví dụ: Đề bài ở tuần 4 lớp 5:
“ Tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong một vườn cây (hay
trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy).
Khi xác định yêu cầu trọng tâm của đề bài, giáo viên phải làm sao giúp học
sinh hiểu được rằng việc viết đúng yêu cầu của đề bài là yếu tố quyết định nội
dung bài viết:
5


Với đề bài trên, ẩn chứa 3 yêu cầu sau:
a. Yêu cầu về thể loại của đề là: Miêu tả (thể hiện ở từ “Tả”).
b. Yêu cầu về nội dung là: Buổi sáng (hoặc trưa, chiều) thể hiện ở cụm
từ “cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều)”.
c. Yêu cầu về trọng tâm là: Ở trong một vườn cây (hay trong công
viên….).
Trong thực tế, không phải đề bài nào cũng xác định đủ 3 yêu cầu. Như đề
bài “Tả một cơn mưa” chỉ có yêu cầu về thể loại và nội dung. Với đề bài này,
giáo viên cần giúp học sinh tự xác định thêm yêu cầu về trọng tâm của bài viết.
Chẳng hạn “Tả một cơn mưa khi em đang trên đường đi học”...Việc xác định
đúng trọng tâm của đề sẽ giúp cho bài viết được thu hẹp nên các em có được ý
cụ thể, chính xác, tránh việc viết tràn lan, chung chung,...
2.3.4. Giúp học sinh nắm đặc điểm của từng kiểu bài miêu tả:
Giáo viên giúp học sinh biết dùng lời văn phù hợp với yêu cầu về nội dung
và thể loại cho trước, khi luyện tập. Giáo viên cũng cần lưu ý nhắc nhở các em
nắm vững các đặc điểm của mỗi thể loại, mỗi dạng bài và xác định đối tượng
miêu tả. Trong mỗi bài văn phải thể hiện cái mới cái hay, cái riêng và cảm xúc
của mình.
2.3.4.1 Kiểu bài tả cảnh

Khi làm văn miêu tả cần biết lựa chọn từ ngữ gợi tả, dùng hình ảnh so sánh
hoặc nhân hoá để làm nổi bật đặc điểm cảnh đang tả giúp người đọc như đang
đứng trước cảnh đó và cảm nhận được những tình cảm của người viết.
Ví dụ :
Sau đây xin trích một số câu trong bài văn tả cảnh: “Chiều tối” của Phạm
Đức (Sách Tiếng Việt 5- tập 1- trang 22): “Nắng bắt đầu rút lên những chòm cây
cao, rồi nhạt dần và như hoà lẫn với ánh sáng trắng nhợt cuối cùng.”
Ta thấy câu văn miêu tả sự chuyển hoá của ánh sáng từ “nhạt dần” rồi “hoà
lẫn” với “ánh sáng trắng nhợt”.
Tác giả cũng đã dùng mắt để quan sát sự biến đổi của ánh sáng và bóng tối,
đã dùng tai để nghe tiếng dế và dùng mũi để cảm nhận hương vườn và cũng đã
sử dụng nghệ thuật nhân hoá làm cho câu văn sinh động một cách rất tinh tế, khi
viết:
“Bóng tối như bức màn mỏng, như thứ bụi xốp, mờ đen phủ dần lên mọi
vật.”
“Một vài tiếng dế gáy sớm, vẻ thăm dò, chờ đợi.”
“ Trong im ắng, hương vườn thơm thoảng bắt đầu rón rén bước ra và tung
tăng trong ngọn gió nhẹ, nhảy trên cỏ, trườn theo những thân cành.”
2.3.4.2 Kiểu bài tả người
- Khi miêu tả người, yếu tố quan sát lại càng quan trọng. Nhìn chung, mọi
người đều có những đặc điểm giống nhau nhưng lại hoàn toàn khác nhau ở
những đặc điểm riêng, chỉ người đó mới có. Nhiệm vụ của giáo viên khi hướng
dẫn học sinh “miêu tả người” là giúp cho các em thấy rằng phải miêu tả ngắn
gọn mà chân thực, sinh động về hình ảnh và hoạt động của người mình tả.
Ví dụ:
Trong bài văn “Người thợ rèn” (SGK lớp 5- tập 1- trang 123). Tác giả miêu
tả người thợ rèn đang làm việc:
“Anh bắt lấy thỏi thép hồng như bắt lấy một con cá sống. Dưới những nhát
búa hăm hở của anh, con cá lửa ấy vùng vẫy, quằn quại, giãy lên đành đạch.”
Ta thấy tác giả quan sát rất kĩ và miêu tả sinh động làm nổi bật hình ảnh

học sinh phát hiện, cảm nhận được và biết tả hết các đặc điểm đó thì sẽ làm cho
bài văn miêu tả của các em sinh động, hồn nhiên đầy cảm xúc và người đọc dễ
chấp nhận hơn.
Ví dụ:
Trong bài văn tả “Cô Chấm” (sách Tiếng Việt 5- tập 1- trang 156) nhà văn
Đào Vũ đã viết: “Chấm không phải là cô con gái đẹp, nhưng là người mà ai đã
gặp thì không thể lẫn lộn với bất cứ một người nào khác.”
“Chấm cứ như một cây xương rồng. Cây xương rồng chặt ngang chặt dọc,
chỉ cần cắm nó xuống đất, đất cằn cũng được, nó sẽ sống và sẽ lớn lên. Chấm thì
cần cơm và lao động để sống .”
“Chấm mộc mạc như hòn đất. Hòn đất ấy bầu bạn với nắng với mưa để cho
cây lúa mọc lên hết vụ này qua vụ khác, hết năm này qua năm khác...”
2.3.5 Làm giàu vốn từ cho học sinh
a. Làm giàu vốn từ cho học sinh thông qua các phân môn Tiếng Việt:
Giáo viên cần có biện pháp làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh qua từng bài
học ở các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu . Các phân
môn nay đều có sự hỗ trợ, bổ sung tích cực cho nhau. Rõ ràng để học tốt môn
Tập làm văn giáo viên cũng cần phải giúp học sinh học tốt các phân môn trong
môn Tiếng Việt.
- Phân môn Tập đọc: Ngoài việc yêu cầu đọc đúng, đọc trôi chảy thì môn
Tập đọc lớp 5 còn yêu cầu bước đầu biết đọc diễn cảm sau khi tìm hiểu bài giúp
các em thấy được cái hay cái đẹp của đất nước, quê hương, con người ...qua
cách miêu tả, qua cách sử dụng biện pháp nghệ thuật vào miêu tả làm giàu thêm
ngữ liệu, vốn hiểu biết cho các em.
- Phân môn Luyện từ và câu: là môn có thể giúp học sinh làm giàu vốn từ
nhiều nhất qua các bài học, giúp các em hiểu nghĩa của từ, hiểu thế nào là từ
đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm, ...từ đó biết cách sử dụng vào viết văn,
vào giao tiếp.
Đặc biệt ở chính phân môn Tập làm văn, giáo viên có thể giúp học sinh
làm giàu vốn từ theo các đề tài nhỏ như:

Sau khi học sinh thảo luận thì đại diện nhóm sẽ trình bày, nhóm khác sẽ
nhận xét, bổ sung, sửa lỗi cho nhóm bạn (nếu sai ). Còn đối với dạng bài đặt câu,
viết đoạn văn hay làm một bài văn hoàn chỉnh thì tôi luôn mời nhiều em đọc
câu, đoạn, bài cho cả lớp nghe để các bạn nhận xét theo các tiêu chí cụ thể.
-Ví dụ : Em hãy tả người bạn thân của em ở trường.
Ở tiết trả bài tôi luôn cho nhiều học sinh đọc bài văn của mình trước lớp để
cả lớp lắng nghe và nhận xét theo các tiêu chí sau :
* Bạn đã viết đúng thể loại văn tả người chưa ?
* Bố cục có dủ 3 phần không?
* Miêu tả có đúng trình tự không?
* Các dùng từ, đặt câu thế nào?
* Bạn đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì trong bài?...
b2/. Tổ chức tương tác giữa thầy với trò:
Cách làm này được thể hiện trong quá trình giảng dạy, giáo viên dùng hệ
thống câu hỏi để học sinh trả lời, tương tác khi nhận xét, đánh giá, phỏng vấn
học sinh.
Ví dụ : Với bài văn tả cảnh một buổi sáng trên cánh đồng , giáo viên tương
tác với học sinh bằng hệ thống câu hỏi sau:
- Cánh đồng em tả ở đâu?
9


- Em quan sát cánh đồng vào thời gian nào?
- Cánh đồng em quan sát trồng lúa hay trồng hoa màu khác ( ngô, ...)? Cây
lúa đang phát triển ở giai đoạn nào?
- Khi bình minh lên cánh đồng đẹp như thế nào?
- Khi mặt trời lên cao, cánh đồng như thế nào?
- Có người đang làm việc ngoài đồng không? Họ đang làm gì? Có chim
chóc không? Chúng đang làm gì?
- Cảm nghĩ của em về cảnh vật và cuộc sống nơi đồng quê?

người mà tôi yêu quý nhất.
+ Thân bài :
*) Đối với văn tả cảnh thì học sinh cân tả bao quát đến từng bộ phận của
cảnh theo một trình tự hợp lí.
*) Đối với văn tả người : Học sinh cần tả được ngoại hình ( chú đến những
đặc điểm nổi bật ) và tả được tính tình của người cần tả .
10


+ Kết bài : Nêu nhận xét, cảm nghĩ của mình về sự vật vừa tả.( Kết bài mở
rộng hoặc kết bài không mở rộng )
- Về hình thức trình bày : 3 phần của bài văn được nhận biết qua các đoạn
văn. Dấu hiệu để nhận biết đoạn văn là phải viết lùi vào một ô và viết hoa đầu
câu.
*) Mở bài : là đoạn đầu tiên, vị trí của nó bao giờ cũng nằm ở đầu bài văn.
*)Đoạn cuối là kết bài.
*)Các đoạn ở giữa là thân bài ( Thân bài HS có thể trình bày dưới hình thức
một đoạn hay hai, ba đoạn).
2. 3.8 Giáo viên chấm bài và trả bài viết
Chương trình Tập làm văn lớp 5 có 3 tiết trả bài tả cảnh, 3 tiết trả bài tả
người, 4 tiết trả bài kể chuyện, đồ vật, cây cối, con vật. Ta nhận thấy rằng có
chấm bài chu đáo thì mới có tiết trả bài đạt hiệu quả.
a. Chấm bài:
Khi chấm bài Tập làm văn cho học sinh, mỗi bài tôi đọc qua một lượt để có
cái nhìn chung về bố cục, về diễn đạt, về trình tự miêt tả, về các dùng từ của học
sinh, về lỗi chính tả, về thểloại, nội dung và trọng tâm bài viết chưa. Tôi ghi ra
sổ chấm bài những chỗ hay, chưa hay hoặc sai những lỗi gì...của từng HS.
Khi chấm điểm xong cho cả lớp, tôi đánh giá chung kết quả bài làm của
học sinh và rút ra những tiến bộ cần phát huy, và những thiếu sót cần sửa chữa
bổ sung để chuẩn bị cho tiết trả bài sắp tới…..

cách bền vững, tức là cần có trọng tâm sửa lỗi cho từng tiết.
* Hoạt động 2 này tiến hành theo 3 bước :
Bước 1: Tham gia chữa lỗi chung cho cả lớp:
Ví dụ:
Tiết trả bài viết số 1(tả cảnh, tuần 5) : Trọng tâm sửa lỗi là luyện từ -câu và
thực trạng viết câu.
Bước 2: Học sinh đọc lại bài làm của mình, chú ý những chỗ mực đỏ ghi
lời khen, chê của cô giáo. ( Ví dụ : câu hay, đoạn hay, hoặc lỗi dùng từ, lỗi
viết câu, lỗi chính tả…)
Bước 3: Học sinh tự chữa bài vào vở tập làm văn.
+ Hoạt động 3:
Đọc tham khảo một số đoạn, hoặc vài bài văn hay của một số em cho cả
lớp nghe để học tập và rút kinh nghiệm.
2.3.9 Khơi gợi sự hứng thú, yêu thích học môn Tập làm văn cho học
sinh.
- Để có sự hứng thú thì trước hết giáo viên phải giúp các em phải hiểu và
làm đúng yêu cầu các bài tập làm văn trong chương trình học trên lớp. Sau đó
giáo viên giúp các em làm hay các bài văn đó theo cách riêng của các em.
Một bài văn hay thì ngoài việc đáp ứng được các tiêu chí của đề bài thì bài
viết đó phải có sự sáng tạo, có cái riêng, phải biết sử dụng các biện pháp nghệ
thuật ( so sánh, nhân hóa)... khi viết bài. Để thực hiện có hiệu quả mục đích trên
tôi đã đưa ra các cách sau.
2.3.9.1 Phát động phong trào đọc sách trong lớp.
Tôi gây dựng tủ sách, gây quỹ mua sách, cung cấp, hướng dẫn học sinh
đọc thêm sách, đặc biệt là các loại sách liên quan đến lứa tuổi các em như : Dế
Mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài, Búp sen xanh của Sơn Tùng, Góc sân và khoảng
trời của Trần Đăng Khoa, Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán, Kính vạn hoa của
Nhật Ánh, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam,...hay các tác phẩm văn học nước
ngoài như: Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên, Cuộc phiêu lưu của Alice ở xứ sở
thần tiên,... Không chỉ đọc cá nhân mà tôi còn tổ chức cho học sinh đọc trên lớp

- Đặt câu với từ một từ nào đó. Ví dụ từ “ khúc khích ”
- Đặt một câu tả màu xanh lá của cây bàng ngoài sân trường .
- Đặt một câu tả nụ cười của một bạn trong lớp.
- Tìm từ đồng nghĩa với từ “ đỏ” .
- Viết những câu văn có sử dụng biện pháp nghệ thuật để tả đôi mắt
người mẹ.
- ...
2.4. Hiệu quả
Qua những giải pháp tôi đã áp dụng được nêu ở trên, đến giữa học kì II
năm học 2017 – 2018 tôi thấy hầu hết các em đã nắm được kiến thức và kĩ năng
cần thiết làm bài Tập làm văn. Cả lớp đều ham thích môn học, không sợ sệt khi
đến tiết Tập làm văn như đầu năm học nữa. Bài làm của các em đa số đã có tiến
bộ, học sinh nắm được cách sắp xếp ý, bố cục chặt chẽ, dùng từ chính xác, viết
câu văn trôi chảy, mạch lạc, bước đầu có hình ảnh, cảm xúc, hiểu và vận dụng
khá tốt các biện pháp nghệ thuật trong các bài tập làm văn của mình. Nhiều bài
văn có chất lượng cao, tình trạng học sinh lạc đề, sai lỗi chính tả, dùng từ đặt
câu ... đã giảm rõ rệt. Các em đều rất tự tin khi đến tiết học Tập làm văn. Đây là
kết quả của một quá trình phấn đấu của cô giáo và học sinh lớp 5A5 trường Tiểu
học Trần Phú.

13


Chất lượng Tập làm văn qua các bài kiểm tra giữa kì và cuối kì
Thời điểm
Khảo sát đầu
năm
2017-2018
Giữa học kì I


12

16

Điểm
4 -3

Điểm 5 - 6

27 %

20 45,8 %

7

47,7%

8

40,9%

5

18 %
11,4%

0
0

36 %

nhận được sự đồng tình của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp.
3.2. Kiến nghị
Để dạy học có hiệu quả Tập làm văn ở Tiểu học (nhất là văn miêu tả ở lớp
5 ) tôi xin có mấy đề nghị sau :
a. Đối với nhà trường :
- Tổ chức cho học sinh được đi tham quan, dã ngoại, tham gia nhiều hơn
các hoạt động ngoại khóa ( có định hướng phù hợp với từng chủ điểm hay nội
dung bài học) để các em được chứng kiến, được quan sát, được trải nghiệm giúp
các em nhớ lâu, tích lũy thêm nhiều kiến thức và kĩ năng sẽ làm vốn từ của các
em phong phú hơn.
14


- Tổ chức được các buổi nói chuyện của các nhà văn, nhà thơ, nhà báo phù
hợp với lứa tuổi để các em giao lưu, để truyền cảm hứng cho các em.
-Tổ chức sân chơi môn Tiếng Việt dành cho học sinh khối 5 để tạo cơ hội
cho các em được vận dụng vốn kiến thức và kĩ năng , gây hứng thú, khơi gợi
niềm yêu thích học môn Tiếng Việt đồng, qua đó góp phần nâng cao chất lượng,
hiệu quả giảng dạy phân môn Tập làm văn nói chung và kiểu bài văn miêu tả nói
riêng.
b. Đối với đồng nghiệp.
- Các thầy, cô giáo cần tâm huyết với nghề dạy học đã chọn, phải yêu và
hiểu học sinh.
- Phải nắm vững về phương pháp, sử dụng linh hoạt các hình thức tổ chức
dạy - học cho mỗi giờ học phân môn Tập làm văn ( từng thể loại, từng dạng bài
cụ thể ) .
- Biết tổ chức, hướng dẫn, khích lệ, động viên, khơi gợi sự sáng tạo ở các
để từng bước giúp các em nắm vững kiến thức, chủ động nói lên những suy nghĩ
hồn nhiên của mình; nói đúng, nói hay, làm giàu thêm vốn từ ngữ và giữ gìn sự
trong sáng của Tiếng Việt .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status