Lựa chọn một số bài tập phát triển sức bền tốc độ trong chạy cự ly ngắn nhằm nâng cao thành tích cho nam học sinh lớp 9 trường THCS - Pdf 53

MỤC LỤC
1.Mở đầu.
1.1. Lý do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
1. 4. Phương pháp nghiên cứu.
1.4.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu.
1.4. 2. Phương pháp phỏng vấn toạ đàm.
1.4.3. Phương pháp quan sát sư phạm.
1.4.4. Phương pháp kiểmtra sư phạm.
1.4.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
1.4.6. Phương pháp toán học thống kê.
1.5. Những điểm mới của SKKN.
1.5.1.Thời gian nghiên cứu.
1.5.2.Đối tượng nghiên cứu.
1.5.3.Địa điểm nghiên cứu.
1.5.4. Mục đích của đề tài.
2.Nội dung.
2.1.Cơ sở lý luận.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN
2.2.1. Thực trạng trong giảng dạy chạy cự ly ngắn.
2.2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến thành tích chạy cự ly ngắn.
2.2.3. Đánh gái thực trạng công tác giảng dạy sức bền tốc độ.
2.2.4. Thực trạng các bài tập phát triển sức bền tốc độ.
2.3. Các giải pháp biện pháp, biện pháp các bài tập sức bền, tốc độ trong chạy cự
li ngắn.
2.4. Đánh giá hiệu quả các bài tập phát triển sức bền, tốc độ cho nam học sinh
lớp 9 trường THCS Quảng Hưng.
3. Kết luận và kiến nghị:
3.1.Kết luận.
3.2. Kiến nghị


ngắn.
Hiện nay, không những cuộc thi đấu tầm cỡ thế giới mà những cuộc thi
đấu ở nước ta cũng vậy, đặc biệt là chạy cự ly ngắn, các VĐV tranh đua dành
thứ hạng cao diễn ra trong từng 1/1000 giây. Chính vì vậy, chạy cự ly ngắn luôn
là đối tượng để các nhà khoa học, các giáo viên, huấn luyện viên quan tâm.
nghiên cúu.
Trong môn Điền kinh nói chung và cự ly ngắn nói riêng phụ thuộc rất
nhiều vào yếu tố như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng mềm dẻo, khéo
léo và mức độ hoàn thiện kỹ thuật. Để đạt được thành tích cao trong chạy ngắn
thì yếu tố sức bền tốc độ đóng vai trò quyết định. Cụ thể là qua tập luyện sức
bền tốc độ giúp cho người tập phát triển tốt hơn về thể chất, nâng cao khả năng
chịu đựng lượng vận động cao, tạo điều kiện cho việc phát triển thành tích. Mặt
khác, phát triển sức bền tốc độ thì tăng lượng máu tuần hoàn, máu lưu thông tốt
hơn (bình thường giảm nhịp đập, làm tăng sự phì đại của tim, tăng khả năng
thích ứng của cơ thể với môi trường…).
2


Hơn thế nữa, sức bền tốc độ không những nâng cao được thành tích tập
luyện và thi đấu cự ly ngắn mà còn tạo điều kiện cho các môn khác trong Điền
kinh phát triển. Bởi vậy việc nâng cao sức bền tốc độ trong chạy ngắn là hết sức
quan trọng. Trong những năm gần đây, thành tích của đội tuyển điền kinh nước
ta đã gặt hải được nhiều thành công trên các đấu trường khu vực cũng như ...
Qua theo dõi các cuộc thi chạy cự ly ngắn ở các giải thi đấu như: Hội khoẻ phù
đổng và các giải điền kinh học sinh tỉnh, toàn quốc thì ta có thể dễ dàng nhận
thấy: Các nam học sinh của trường có tốc độ chạy sau xuất phát tương đối đồng
đều nhưng càng về cuối cự ly càng bị lùi về phía sau nhiều hơn, đặc biệt trong
chạy cự ly ngắn. Một câu hỏi đặt ra: Vì sao chúng ta không duy trì được tốc độ
như ban đầu trên toàn cự ly ? Tham khảo các tài liệu cũng như qua trả lời của
giáo viên, HLV có kinh nghiệm họ đều cho rằng: "Để đạt được thành tích cao

- Dụng cụ: Đồng hồ bấm giờ, bàn đạp, người ra hiệu, cờ hiệu.
- Với mục đích: kiểm tra năng lực, sức bền tốc độ.
1.4.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Phương pháp thực nghiệm sư phạm là một phương pháp được sử dụng
rộng rãi trong nghiên cứu lĩnh vực giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao.
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm để kiểm
tra, đánh giá hiệu quả đích thực của các bài tập trên đối tượng nghiên cứu.
Chúng tôi tiến hành thực nghiệm các bài tập lựa chọn trên đối tượng với 20 nam
học sinh. Được chia làm 2 nhóm:
* Nhóm 1: Nhóm thực nghiệm gồm 10 em tập luyện theo các bài tập mà
tôi đưa ra.
* Nhóm 2: Nhóm đối chứng gồm 10 em tập luyện theo các bài tập của
giáo viên.
1.4.6. Phương pháp toán học thống kê.
Phương pháp toán học thống kê được sử dụng trong việc xử lý số liệu thu
thập qua điều tra quan sát sư phạm và thực nghiệm sư phạm. Các công thức sử
dụng bao gồm:
4


- Hệ số tương quan:

∑ ( x − x)( y − y)
∑ ( x − x) ( y − y )
i

r=

i



A

− x A ) 2 + ∑ (xB − x B ) 2
n A + nB − 2

(n < 30)

Độ lệch chuẩn:
δ = δ2
1.5. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA SKKN.
1.5.1. Thời gian nghiên cứu.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu từ tháng 09 năm 2017 đến tháng 04 năm
2018, chia làm 3 giai đoạn.
- Giai đoạn 1: Từ tháng 01/09/2017 đến tháng 15/09/2017
+ Lựa chọn đề tài.
+ Xây dựng đề cương tổng hợp từ tài liệu nghiên cứu.
- Giai đoạn 2: Từ tháng 16/09/2017 đến tháng 15/11/2017
+ Đọc và tham khảo tài liệu.
+ Thu thập và xử lý số liệu.
+ Giải quyết nhiệm vụ 1.
- Giai đoạn 3: Từ tháng 16/11/2017 đến tháng 15/01/2018
+ Giải quyết nhiệm vụ 2.
- Giai đoạn 4: Từ tháng 16/01/2018 đến tháng 15/04/2018
+ Hoàn thiện đề tài nghiên cứu.
1.5.2. Đối tượng nghiên cứu.
- Gồm 20 nam học sinh lớp 9 chạy cự ly 100m tuyển điền kinh trường
THCS Quảng Hưng – Thành Phố Thanh Hóa.
1.5.3. Địa điểm nghiên cứu.
- Tại Trường THCS Quảng Hưng – Thành Phố Thanh Hóa.

(Nga), Phùng Thiếu Phạm (Trung Quốc), các ông cho rằng sức bền tốc độ bị chi
phối bởi bốn yếu tố sau:
- Trình độ phát triển chung của cơ thể học sinh, các hệ thống cơ quan của
cơ thể đặc biệt là hệ thống thần kinh, tim mạch, hô hấp có mối quan hệ chặt chẽ
với sức bền tốc độ.
- Phẩm chất, ý chí của học sinh.
- Năng lực hoạt động của nhóm cơ lớn và các nhóm cơ chủ yếu tham gia
vào các động tác hay còn gọi là mức độ hoàn thiện kỹ thuật.
- Sự hoàn thiện về năng lực sức bền tốc độ được hình thành và phát triển
về trình độ tập luyện.
- Trình độ tập luyện của học sinh càng cao thì sức bền chuyên môn càng
cao. Song ở cùng một trình độ thì các học sinh lại có sự khác nhau. Chính vì
vậy, đánh giá chính xác mức độ phát triển sức bền tốc độ cho từng học sinh sẽ
giúp ta nắm vững và thực hiện được việc điều chỉnh, huấn luyện, từ đó nâng cao
được hiệu quả tuyển chọn và đào tạo học sinh.
2.2.1.Thực trạng trong giảng dạy nội dung chạy cự ly ngắn:
Chạy ngắn được chia thành 4 giai đoạn: Xuất phát, chạy lao sau xuất phát,
chạy giữa quãng và về đích.
* Xuất phát:
Xuất phát trong chạy ngắn nhằm giúp học sinh rời nhanh ra khỏi bàn đạp,
thực hiện các bước chạy sau đó và mau chóng chuyển sang giai đoạn chạy lao
sau xuất phát để bắt đầu quá trình tăng tốc. Xuất phát trong chạy ngắn người ta
sử dụng xuất phát thấp bằng bàn đạp nhằm tận dụng điểm tỳ và mau chóng đưa
cơ thể hướng nhanh về phía trước.
6


* Chạy lao sau xuất phát:
Chạy lao sau xuất phát là giai đoạn học sinh thực hiện tăng tốc. Tốc độ
chạy lao sau xuất phát được tăng lên chủ yếu do tăng độ dài bước. Việc tăng độ

Muốn đạt được thành tích tốt trong toàn cự ly chúng ta cần sử dụng và lựa
chọn những bài tập nhằm phát triển sức bền tốc độ, đặc biệt là trong giai đoạn
chạy về đích.
Trong chạy cự ly ngắn thì tốc độ phản ứng, tốc độ động tác và tần số động
tác có ảnh hưởng trong việc phát triển tốc độ. Để duy trì tốc độ được lâu dài trên
cự ly chạy thì phải phát triển đến sức bền tốc độ.
Sức bền tốc độ có được phải dựa vào các yếu tố: sức bền yếm khí, sức
mạnh bền.
7


Tần số động tác cũng là một biểu hiện quan trọng của tố chất tốc độ. Tần
số động tác được quyết định bởi tốc độ chuyển đổi giữa ức chế và hưng phấn
của trung ương thần kinh vận động, tức là tính linh hoạt của quá trình thần kinh.
Do tập luyện tốc độ thường có thời gian ngắn nên tái tổng hợp ATP cung
cấp năng lượng cho cơ bắp làm việc chủ yếu dựa vào nguồn năng lượng yếm khí
mà chủ yếu là glucôphân và photphogen.
Để lựa chọn được các bài tập sức bền tốc độ chúng ta phải dựa trên cơ sở
sinh lý học của sức bền và tốc độ.
2.2.2.Những yếu tố ảnh hưởng đến thành tích chạy cự ly ngắn :
- Trong quá trình thực hiện các bài tập thể lực đã diễn ra những biến đổi
về tâm lý, sinh lý, sinh hoá trong cơ thể. Thông qua quá trình biến đổi đó giúp
cho cơ thể thích ứng cao dần với LVĐ chuyên môn.
- Trong quá trình nghiên cứu tổng hợp các tài liệu liên quan đến mục đích
nghiên cứu của đề tài, chúng tôi thấy rằng:
- Các tố chất vận động (tố chất thể lực) là một trong những yếu tố quan
trọng quyết định đến thành tích thể thao nói chung và chạy ngắn nói riêng và
thường được chia thành 5 loại cơ bản: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng
phối hợp vận động và mềm dẻo khéo léo, mỗi tố chất trên đều có đặc điểm riêng
nhưng chúng có mối quan hệ rất mật thiết với nhau trong việc cấu thành các

qua việc thu thập, tổng hợp, phân tích những nguồn tư liệu khác nhau ( Sách,
báo, các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu ) đã tạo ra những tiền đề giúp
nâng cao nhận thức sâu sắc và toàn diện về lý luận và thực tiễn, cũng như tạo
điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết những nhiệm vụ cụ thể của đề tài. Trong
đó những quan điểm, khái niệm, xu hướng huấn luyện, cơ sở sinh lý của sức bền
chính là cơ sở lý luận để hiểu sâu về đối tượng của đề tài đã được giải quyết
thuận lợi. Từ những công việc này sẽ dẫn dắt thực hiện các bước tiếp theo để
hoàn thành đề tài.
2.2.3.Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy sức bền tốc độ:
Giáo dục thể chất là một quá trình sư phạm có tác dụng trực tiếp lên con
người thông qua việc sử dụng các phương tiện giáo dục thể chất, đặc biệt là các bài
tập thể chất cho học sinh khác nhau. Kết quả của nó là tạo ra các biến đổi sâu sắc
trong cơ thể người tập về mặt hình thái chức năng mà biểu hiện ở đây là các tố chất
thể lực phát triển tương đối mạnh.
Trong quá trình huấn luyện điền kinh, việc nâng cao thể lực, phát triển sức
bền tốc độ của học sinh là đặc biệt quan trọng. Nhờ vào việc nâng cao các tố chất
thể lực giáo viên có thể nắm được những thông tin về tình trạng sức khoẻ và trạng
thái chuẩn bị thể lực của học sinh trong quá trình huấn luyện. Kỹ năng kỹ xảo sự
phát triển sức bền tốc độ để đạt đến một trình độ mà qua đó học sinh có thể rút ra
những bài học, những kinh nghiệm. Qua đó giúp giáo viên điều chỉnh kịp thời nội
dung chương trình cũng như kế hoạch tập luyện cho học sinh.
Sức bền tốc độ qua quan sát và theo dõi, chúng ta dẽ dàng nhận thấy học
sinh có tốc độ xuất phát đồng đều nhưng càng về cuối cự ly càng bị lùi về phía sau
nhiều hơn. Thường càng về cuối cự ly thì tốc độ của các học sinh càng giảm (Qua
theo dõi và kiểm tra là 5 – 9%). Do vậy việc nâng cao sức bền tốc độ sẽ giúp cho
học sinh thu nhận được những kiến thức về bản thân mình từ đó học sinh có ý thức
chuẩn bị tập luyện và phát triển cho bản thân. Qua tham khảo tài liệu cũng như trả
lời của giáo viên, họ cho rằng vấn đề đặt ra ở đây là quá trình giảng dạy, muốn đạt
được thành tích thì yếu tố quyết định là trình độ chuẩn bị thể lực chuyên môn. Vì
vậy, muốn duy trì được tốc độ trên toàn cự ly thì cần phải có mức độ hoàn thiện kỹ

5 30m XPT (s)
4’’3 – 4’’2
4’’3
6 BXTC (m)
2,50 – 2,65
2,52
7 BX3B (m)
7,4 – 7,8
7,5
8 Hệ số sức bền K
0,3 – 0,2
1,1
Qua bảng 1 chúng tôi thấy các chỉ tiêu: 30m TĐC, 30m XPT, BXTC và
BX3B đạt được chỉ tiêu đề ra. Điều đó chứng tỏ các giáo án trong năm qua đã có
tác dụng phát triển các tố chất sức mạnh tốc độ và tốc độ, còn các chỉ tiêu chạy
200m và chạy 150m thành tích còn kém rất nhiều so với chỉ tiêu đề ra, nguyên
nhân chính là do quá trình huấn luyện chưa chú ý đến việc áp dụng các bài tập
nâng cao sức bền tốc độ cho học sinh. Hệ số sức bền K đạt được cũng cao hơn
nhiều so với chỉ tiêu đề ra. Đây cũng chính là nguyên nhân không đạt chỉ tiêu đề
ra của nội dung chạycự ly ngắn. Vì vậy để có được thành tích tốt chúng ta cần
hoàn thiện nâng cao sức bền tốc độ cho các nam học sinh.
TT

Nội dung

Bảng 2: Vai trò của các tố chất thể lực trong môn chạy cự ly ngắn(n = 25)
Kết quả
TT Tố chất thể lực

Không quan trọng

19
76
- Qua bảng 2 Chúng ta có thể nhận thấy vai trò của 3 tố chất: Sức
mạnh tốc độ, tốc độ, sức bền tốc độ đều được các chuyên gia, giáo viên,
HLV đánh giá là rất quan trọng và ảnh hưởng lớn đến thành tích chạy 100m.
Cụ thể: Đối với tốc độ là 21/25 người tán thành chiếm 84%, sức mạnh tốc độ
là 20/25 người tán thành chiếm 80%, sức bền tốc độ là 19/25 người tán
thành chiếm 76%.Khi nghiên cứu thực trạng trình độ thể lực chuyên môn của
nam học sinh chạy cự ly ngắn, qua 2 giai đoạn giảng dạy và theo dõi các chỉ số
đánh giá: Bật xa tại chỗ, thời gian chạy 20m cuối, chạy 60m, chạy 150m XPC,
chạy 100m XPT. Kết quả thu được trình bày ở bảng 3.

10


2.3. CÁC GIẢI PHÁP BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CÁC BÀI TẬP
PHÁT TRIỂN SỨC BỀN TỐC ĐỘ TRONG CHẠY CỰ LY NGẮN.
- Từ thực trạng việc sử dụng bài tập phát triển sức bền tốc độ và dựa trên
cơ sở các tài liệu tham khảo và qua phân tích các yếu tố thể lực chuyên môn có
ảnh hưởng từ đó chúng tôi đã đưa ra một số bài tập nhằm nâng cao sức bền tốc
độ trong cự ly chạy ngắn (Cụ thể các bài tập như sau:)
* Bài tập 1: Chạy 60m tốc độ cao.
- Yêu cầu: 6 - 8 lần với cường độ tối đa, nghỉ giữa 1 phút.
* Bài tập 2: Chạy 80m, 20m cuối chạy tốc độ tối đa.
- Yêu cầu: 3 - 5 lần, nghỉ giữa 2 - 3 phút.
* Bài tập 3: Chạy 60m XPT.
- Yêu cầu: 6 - 8 lần với cường độ tối đa (T), nghỉ giữa 2 phút.
* Bài tập 4: Chạy 120m XPC.
- Yêu cầu: 3 - 5 lần với cường độ 95% sức, nghỉ giữa 3 phút.
* Bài tập 5: Chạy 150m XPC.

Bảng 3: Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập phát triển sức bền tốc độ
trong chạy cự ly ngắn (n = 25).
Số ý kiến
TT Bài tập
Tỷ lệ %
đồng ý
1 Chạy 60m tốc độ cao
22
88
1
2 Chạy 80m, 20m cuối chạy Vmax
25
100
3 Chạy 60m XPT
12
48
4 Chạy 120m XPC
23
92
5 Chạy 150m XPC
25
100
6 Chạy 300m XPC
22
88
7 Bài tập hỗn hợp (300m + 200m + 100m)
25
100
8 Chạy biến tốc 50m nhanh, 50m chậm
24

sức bền thể dục thể thao.
- Các Test lựa chọn phải mang tính thông báo và đủ độ tin cậy.
- Các Test đánh giá phải phù hợp với đối tượng nghiên cứu, thực tiễn
giảng dạy và huấn luyện.
- Các Test dùng để đánh giá sức bền tốc độ thường được sử dụng trong
giảng dạy, huấn luyện đối với học sinh chạy cự ly ngắn.
Qua tham khảo các tài liệu chuyên môn điền kinh cũng như trao đổi với
các giáo viên, giảng viên, HLV có kinh nghiệm trong giảng dạy, huấn luyện chạy
12


ngắn để thu thập các Test đánh giá năng lực sức bền tốc độ cho học sinh chạy cự
ly ngắn.
Bước 1: chúng tôi thu thập được các Test như sau:
Chạy 80m XPC (s)
Chạy 150m XPC (s)
Chạy 200m XPC (s)
Chạy 100m XPT (s)
Chạy 120m XPC (s)
Hiệu số tốc độ ở giữa cự ly và cuối cự ly
Thời gian chạy 20m cuối (s)
Bước 2: Sau khi lựa chọn được các Test đánh giá sức bền tốc độ cho học
sinh chạy cự ly ngắn, chúng tôi tiến hành phỏng vấn và thu được kết quả bảng 4
Bảng 4: Kết qủa phỏng vấn sử dụng Test đánh giá sức bền tốc độ
trong chạy cự ly ngắn (n = 25).
Kết quả
TT
Test
Số người đồng ý
%

Bảng 5: So sánh mối tương quan giữa thành tích các Test với thành
tích chạy cự ly ngắn (n = 10).
TT
Test
r
P
1
Chạy 150m XPC (s)
0,92
0,05
2
Thời gian chạy 20m cuối (s)
0,83
Trên cơ sở phỏng vấn và so sánh mối tương quan chúng tôi xác định được
các Test đánh giá sức bền tốc độ trong chạy cự ly ngắn:
- Chạy 150m XPC (s).
- Chạy 100m XPT (s).
- Thời gian chạy 20m cuối (s).
13


2.4. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC BÀI TẬP PHÁT TRIỂN SỨC BỀN
TỐC ĐỘ CHO NAM HỌC SINH LỚP 9 TRƯỜNG THCS QUẢNG HƯNG
+ Tiến hành thực nghiệm:
Để đánh giá hiệu quả các bài tập nhằm phát triển sức bền tốc độ cho nam
hạy cự ly ngắn của nam học sinh trường THCS Quảng Hưng Chúng tôi đã tiến
hành thực nghiệm với tổng thời gian là 10 tuần, mỗi tuần 2 tiết, mỗi tiết 45 phút.
Chúng tôi tiến hành thực nghiệm theo phương pháp so sánh trên 20 học
sinh chia làm 2 nhóm:
+ Nhóm thực nghiệm: Gồm 10 nam học sinh (nhóm A). Các bài tập lựa

chứng
nghiệm chứng
x

±δ
ttính
tbảng
P

2,73
0.41

2,71
0.40
0.359

12,30
0.21

12,28
0.19
1.03

20,54
0.27

20,56
0.26
1.249


Đối
chứng

Thực
nghiệm

Đối
chứng

2,51
2,62
12,05
12,20
19,32
20,10
±δ
0.35
0.31
0.18
0.21
0.31
0.29
ttính
2.525
2.514
2.536
tbảng
2.26
P
< 0,05

- Hiệu quả của việc nâng cao sức bền tốc độ đã ảnh hưởng trực tiếp đến
việc nâng cao thành tích chạycự ly ngắn. Để thấy rõ ràng hơn thành tích của các
Test trước và sau thực nghiệm chúng tôi biểu diễn bằng biểu đồ.
.

Biểu đồ 1: Biểu đồ biểu diễn kết quả Test thời gian chạy 20m cuối (s)
15


( x giây)

T

Thời điểm
Nhóm thực ngiệm
Nhóm đối chứng

Biểu đồ 2: Biểu đồ biểu diễn kết quả Test chạy 150m XPC (s)
( x giây)
T
Thời điểm
Nhóm thực ngiệm
Nhóm đối chứng

Biểu đồ 3: Biểu đồ biểu diễn kết quả Test chạy 100m XPT (s)
( x giây)
T
Thời điểm
Nhóm thực ngiệm
Nhóm đối chứng

0,05.
3.2. KIẾN NGHỊ:
Qua thời gian nghiên cứu chúng tôi có những kiến nghị sau:
- Kết quả nghiên cứu được chứng minh bằng thực tiễn do vậy có thể vận
dụng các bài tập này vào phát triển sức bền tốc độ trong chạy cự ly ngắn cho học
sinh.
- Kết quả của đề tài mới chỉ là bước đầu, trên đối tượng là học sinh chúng
tôi mong các đồng nghiệp tiếp tục nghiên cứu trên các đối tượng khác, thời gian
cũng như số lượng buổi tập khác nhau để vấn đề nghiên cứu được rộng hơn, sâu
hơn, đây là những suy nghĩ về việc làm trong qúa trình giảng dạy tôi thấy do do
điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường không đáp ứng nội dung chương trình
học tập cũng như đồ dùng dạy học chưa đáp ứng được so với chương trình học
tập của thầy và trò theo phân phối chương trình của Bộ giáo dục và đào tạo, thời
gian nghiên cứu có hạn , nên sáng kiến kinh nghiệm của tôi mới thực nghiệm ở
20 học sinh nam khối lớp 9 tôi mong được nghiên cứu một cách lâu và sâu rộng
hơn.
17


- Để đạt được kết qủa cao trong lựa chọn một số bài tập sức bền tốc độ là
sự quan tâm nhiều của các cấp lãnh đạo, vì sự rèn luyện nghiệp vụ với lòng say
mê nghề nghiệp của nghiệp giáo viên với sự giúp đỡ cộng tác của đồng nghiệp,
với kinh nghiệm còn ít ỏi, rất mong được sự đóng góp xây dựng của các cấp bộ
lãnh đạo, của anh chị em đồng nghiệp để đề tài của tôi phong phú hơn, có chất
lượng, nhằm rút ra kinh nghiệm cho những đề tài sau tốt hơn, hoàn hảo hơn.
Xin chân thành cảm ơn./
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 16 tháng 04 năm

11. Sách Thể dục giáo viên lớp 8,9 Bộ giáo dục đào tạo.
12. Bùi Tử Liêm - Phạm Xuân Tâm (1978) "Các tố chất thể lực VĐV"
(NXB TDTT Hà Nội)
13. A.D Novicop - LP Matveep (Nguyễn Văn Hiếu - Đoàn Thao dịch)
(1979) "Lý luận phương pháp giáo dục thể chất tập 1" (NXB TDTT Hà Nội)
14. Nguyễn Đức Văn (1987) "Phương pháp thống kê" (NXB TDTT)




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status