Mục lục
Mở đầu:
1.1. Lí do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
1.5. Những điểm mới của SKKN
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải
quyết vấn đề.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
2
2
3
3
3
3
3
3
4
7
16
17
Đối với học sinh, Tiếng Việt có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình
nhận thức và sự phát triển của bản thân các em. Hầu hết các môn học đều cần
đọc hiểu. Nếu không thông thạo Tiếng Việt, quá trình nắm bắt tri thức của các
em sẽ gặp trở ngại lớn, bởi các em không có đủ vốn từ vựng cần thiết để có thể
hiểu được nội dung các môn học.Tác dụng của việc học Tiếng việt là đem đến
cho bản thân người học một thứ công cụ sắc bén để chiếm lĩnh tất cả những tri
thức của nhân loại, nói sát với thực tế là nắm bắt được Tiếng Việt ngay vào đầu
cấp thì trẻ lớp Một sẽ rất nhẹ nhàng trong việc học tất cả các môn khác. Còn
những trẻ ít được tiếp xúc hoặc không được tiếp xúc với Tiếng Việt bao giờ thì
đây quả là một vấn đề rất khó khăn cho cả thầy và trò. Lý do này chính là
nguyên nhân làm cho trẻ tự ti, nhút nhát, ngại đến lớp, dẫn đến làm giảm khả
năng tiếp thu bài, chất lượng học tập kém, giảm sút trầm trọng.
Thực tế hiện nay ở trường tôi có trên 90% học sinh là người dân tộc
thiểu số (Mông, Thái, Dao, Khơ mú, Mường), tôi nhận thấy rằng: Hầu hết học
sinh luôn có thói quen nói tiếng mẹ đẻ và phát triển khả năng tư duy của các em
cũng bằng chính ngôn ngữ đó; điều kiện sử dụng giao tiếp bằng Tiếng Việt trong
cuộc sống hàng ngày còn hạn chế; bản thân các em và phụ huynh chưa nhận
thức được tầm quan trọng của việc nắm vững Tiếng Việt. Với kinh nghiệm gần
30 năm giảng dạy và quản lý tại huyện Quan hóa (cũ) và Mường Lát hiện tại.
Tôi luôn trăn trở và tìm mọi giải pháp trong lĩnh vực tăng cường Tiếng Việt cho
học sinh.
2
Khi các em có được vốn tiếng Việt đủ để nghe, hiểu thì việc giao tiếp
hàng ngày đặc biệt là quá trình tiếp thu bài của các em sẽ trở nên dễ dàng hơn.
Thực tế cho thấy, những em học sinh người dân tộc thiểu số có được vốn tiếng
Việt cơ bản khi đến lớp thì lực học của các em này không kém nhiều so với
những em học sinh người Kinh thậm chí học lực ngang bằng hoặc hơn. Với tầm
quan trọng và cần thiết của việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu
Đưa ra nhiều phương pháp đa dạng khác nhau, nhưng bắt đầu bằng việc
“Nghe - Quan sát - Làm theo” (Phương pháp học ngôn ngữ qua hành động).
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Cùng với lịch sử dân tộc Tiếng Việt đã trải qua hàng ngàn năm tồn tại và
phát triển. Nếu không có nó, làm sao có được thứ tài sản vô giá như Quốc âm thi
tập của Nguyễn Trãi, bài thơ hùng hồn Nam Quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt
3
cùng với hàng trăm truyện nôm khuyết danh, thơ Hồ Xuân Hương…và cả
Truyện Kiều… “ Họ đã gởi hết cả vào Tiếng Việt. Họ yêu vô cùng thứ tiếng
trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê
hương trong tình yêu tiếng Việt, họ nghĩ, là tấm lụa đã hứng vong hồn những thế
hệ
đã
qua…”
( Hoài Thanh – Hoài Chân – “ Thi nhân Việt Nam”)
Tiếng Việt có vị trí hàng đầu ở trường phổ thông, đặc biệt là ở cấp Tiểu
học và Trung học cơ sở. Sự khẳng định này dựa trên thực tế giáo dục phổ thông
và vai trò của Tiếng Việt trong nhà trường.Tiếng Việt vừa là một môn học độc
lập, lại vừa là một thứ công cụ hỗ trợ cho khả năng diễn đạt và tư duy tất cả các
môn học khác, Tiếng Việt thể hiện tính liên quan dạy - học với các môn học
khác.
Học tốt môn Tiếng Việt trở thành điều kiện thuận lợi cho việc học các
môn học khác. Do đó, ngay từ khi bước vào ngưỡng cửa của lớp Một, việc hình
thành nên một tư duy ngôn ngữ cho các em là hết sức cần thiết. Tiếng Việt là
tiền đề cho quá trình học tập của các em sau này.
Công văn số 3767/BGD ĐT –GDDT ngày 17 thánh 8 năm 2017 của về
việc hướng dẫn thực hiên nhiệm vụ năm học 2017 – 2018 đối với giáo dục dân
học sinh ham học, ham tìm hiểu.
Vì đối tượng các em còn nhỏ nên thường nhận được sự quan tâm nhất
định của gia đình, Ưu tiên lựa chọn giáo viên có năng lực, nhiệt tình để dạy
khối lớp 1.
Lãnh đạo nhà trường luôn tạo điều kiện cho giáo viên được tham gia tập
huấn, dự giờ thường xuyên, từ đó giúp giáo viên nắm được các mục tiêu cần
thiết trong phần luyện nói cho học sinh.
Sự hỗ trợ của nhà nước cho học sinh trong vùng đặc biệt khó khăn, tạo
điều kiện để các em được nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao chất lượng
giáo dục.
Sử dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy đưa một số hình ảnh đẹp, sinh
động vào minh họa cho tiết học nên các em hứng thú học tập đã nâng cao được
hiệu quả.
2.2.2.Khó khăn
Trường tiểu học Pù Nhi là một trường nằm ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc
biệt khó khăn của huyện Mường Lát. Địa bàn của trường rất rộng đường xá đi
lại gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là vào mùa mưa, phải qua nhiều đèo dốc,
sông suối. Nhà trường có 7 điểm trường lẻ và 1 điểm trường chính trải dài trên
11 thôn, bản đồng. Có 6 dân tộc anh em chung sống trên địa bàn xã (Thái,
Mường, Mông, Khơ mú, Dao, Kinh. nhiều nhất là người H'Mông. Ít nhất là
người Kinh.
Hầu hết trình độ dân trí còn thấp, cuộc sống của người dân còn gặp rất
nhiều khó khăn, do đó quá trình quan tâm của một số phụ huynh đến việc học
của con cái còn nhiều hạn chế.
Bất đồng ngôn ngữ, ảnh hưởng đến việc việc lĩnh hội kiến thức của học
sinh
2.2.3.Thực trạng về học sinh.
Trong những năm học vừa qua, nhà trường đã cố gắng tìm nhiều giải pháp
để nâng cao chất lượng giáo dục như đổi mới phương pháp dạy học; tăng thời
Hơ Dính Pó
Hơ Văn Va
Trình độ
Đại học
Cao đẳng
Đại học
Cao đẳng
Cao đẳng
Cao đẳng
Cao đẳng
Dân tộc
Mường
Thái
Kinh
Mông
Mông
Mông
Mông
Học sinh DT trong lớp.
Mường, Dao, H'Mông, Thái
Dao, H'Mông, Thái, Khơ mú
H'Mông,
H'Mông,
H'Mông,
H'Mông,
H'Mông,
áp dụng một cách khoa học, phù hợp tại đơn vị chắc chắn chất lượng giáo dục
học sinh dân tộc thiểu số sẽ được nâng lên
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
2.3.1. Mục tiêu của giải pháp
Tìm ra được những phương pháp dạy học mới, sáng tạo, dễ hiểu, phù hợp
với khả năng tiếp thu của học sinh lớp Một.
Tăng cường tiếng Việt cho học sinh lớp Một, giúp các em tiếp thu các
môn học khác có hiệu quả.
Thúc đẩy tinh thần tự học và tìm kiếm tri thức, góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục.
Có được những phương pháp dạy học mới, nhẹ nhàng, phù hợp với đối
tượng học sinh dân tộc thiểu số nhằm tăng cường tiếng Việt một cách hiệu quả
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, giảm thiểu tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ
học.
2.3.2. Nhóm giải pháp:
Giải pháp 1: Chú trọng vấn đề chuyên môn và cách đổi mới PPDH có hiệu
quả.
Giải pháp 2: Áp dụng khoa học công nghệ vào quá trình giảng dạy.
Giải pháp 3. Tạo không khí thi đua và niềm đam mê học tập mônTiếng Việt.
Giải pháp 4. Phương pháp luyện viết tiếng Việt:(Tập viết, Chính tả …)
Giải pháp 5:Tạo thói quen sử dụng tiếng phổ thông ở gia đình và cộng đồng.
Giải pháp 6: Tăng cường tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
2.3.3. Nội dung và cách thức thực hiện những giải pháp
Giải pháp 1: Chú trọng vấn đề chuyên môn và cách đổi mới PPDH có hiệu quả:
7
Dạy cho học sinh cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc,viết là mục tiêu của môn
Tiếng Việt.Trong sách giáo khoa của chương trình Tiểu học mới, kỹ năng nghe
xuất hiện dưới dạng yêu cầu nghe và kể lại nội dung một đoạn truyện hay một
âm một âm một vần nào đó.
Rèn kỹ năng đọc: Đọc là một quá trình mắt tiếp nhận thông tin và não
vận hành để tìm hiểu ý nghĩa của thông tin. Học sinh chỉ hiểu được bài đọc khi
hiểu nghĩa tất cả các từ trong bài. Mục tiêu của hoạt động này là làm cho học
sinh muốn đọc bài, khơi gợi sự hứng thú của học sinh với bài đọc, giúp học sinh
hiểu bài dễ hơn do có những liên hệ cụ thể đến những gì học sinh biết.
Rèn kỹ năng viết: Kỹ năng khi dạy viết chữ cùng một lúc nhiều bộ phận
đều hoạt động. Tư thế ngồi, cột sống, phổi, lưng, cách cần bút, ngón tay, cổ tay.
Hình dáng chữ có liên quan đến mặt, mồm, ánh sáng, đầu hơi cúi…Nếu không
đúng tư thế sẽ bị các bệnh cong vẹo cột sống, gù lưng, cận thị.
Kết hợp đồng bộ cả 4 yếu tố Nghe – Nói – Đọc – Viết, tôi đã vận dụng
vào bài dạy của tiết dạy đầu tiên như sau:
Một số nét cơ bản vận dụng viết và đọc chữ cái :
Nhóm 1
Nét sổ thẳng
Viết dấu chấm than
Nét gạch ngang
Lời nói nhân vật
Nét xiên phải , trái
Dùng trong toán học dấu lớn dấu bé…
Nhóm 2
Nét móc trên
Nét móc dưới
Nét móc hai đầu
Dùng viết chữ m , n , …
Dùng viết chữ i , a ,…
Dùng viết chữ h
Nhóm 3
đúng các âm, dấu một cách vững vàng . Khi học sinh nắm vững các nét cơ bản,
tiếp tục tiến hành dạy từng âm. Phần này là phần cực kì quan trọng yêu cầu các
em cần phải nắm vững đâu là nguyên âm và đâu là phụ âm để tạo thành tiếng.
Khi học âm nào giáo viên cần phải nhắc lại gợi ý thật kĩ càng những nét cơ bản
nào cấu thành âm đó để học sinh nhớ và khắc sâu kiến thức cũ và mới.
VD1 : Âm h và âm d
+ Âm h gồm 2 nét : 1 nét sổ thẳng và 1 nét móc 2 đầu nằm ở bên phải ,
đọc là “hờ” viết là “h”
+ Âm d : gồm 2 nét : 1 nét sổ thẳng và 1 nét cong hở nằm ở bên trái , đọc
là “dờ” viết là “d”
VD2: Bài 11-Ôn tập (trang24)
b
v
l
h
c
e
be
ve
le
he
ê
bê
vê
lê
hê
o
vo ……………. ………….. …………..…………………………
Lấy con chữ b ở cột dọc và ghép với con chữ e ở dòng ngang thì sẽ được
tiếng gì? GV ghi bảng be.
Gọi HS tiếp tục ghép con chữ b với các con chữ còn lại ở dòng ngang và
đọc các tiếng vừa ghép được. Cứ tiếp tục ghép hết bảng và ghi nhớ con chữ c
không ghép được với con chữ e, ê.
Các tiếng vừa ghép được các em nhận thấy con chữ ở cột dọc luôn đứng ở
vị trí nào? Con chữ ở dòng ngang đứng ở vị trí nào?
Tiếng bê ở cột dọc ghép với dấu huyền ta được tiếng gì?...( tương tự các
tiếng khác ghép dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng... để được các tiếng có
nghĩa
VD:3 Nhận diện, phân biệt và khắc sâu các âm ghép:
- Liệt kê những âm ghép m,à em biết: tr, ch ,ng, ngh , gh , nh, ph ,th ,kh.
- Chỉ ra sự giống và khác nhau giữa các âm ghép:
Giống: các âm: ch ,ng, ngh , gh , nh, ph ,th ,kh. Đều có âm h đứng sau
10
Khác: Âm đầu khác nhau
Ngoài ra còn có âm ghép khác: tr,
- HS tìm vần ghép với âm ghép tạo thành tiếng có nghĩ (Nghĩa mà các em hạn
chế về tiếng việt có thể hiểu được).
Giải pháp 2: Áp dụng khoa học công nghệ vào quá trình giảng dạy:
Để gây thay đổi không khí học tập cho các em, giáo viên đã tăng cường
các tiết dạy trình chiếu, các tiết học trải nghiệm… trong một số buổi học Tiếng
Việt, từ đó các em cảm thấy vui vẻ, có thêm nhiều kiến thức mới, hình ảnh
phong phú giúp các em nhớ mặt chữ tốt hơn.
Giải pháp 3. Tạo không khí thi đua và niềm đam mê học tập mônTiếng Việt:
Các em là học sinh lớp Một nên nhiều khi còn rụt rè, lo lắng. Nhiều em
khi thầy cô gọi đứng dậy trả lời chỉ đứng và im lặng hoặc là không hiểu được
làm cho tất cả học sinh được hoạt động, tạo không khí lớp học sôi động, hấp
11
dẫn, các em tiếp thu bài cũng dễ dàng hơn, đặc biệt tạo điều kiện để các em bổ
sung vốn Tiếng Việt một cách tốt nhất.
Với những kết quả đạt được trong quá trình sử dụng phương pháp thảo
luận nhóm trong những năm vừa qua mà đội ngũ giáo viên nhà trường đã áp
dụng, nhiều em học sinh dân tộc thiểu số ở đây đã trở nên mạnh dạn, tự tin, vốn
tiếng Việt của các em đã được cải thiện rất đáng kể. Các em đã có khả năng tự
đặt ra những câu hỏi, đưa ra những ý kiến của mình. Việc giao tiếp của các em
cũng dễ dàng hơn. Do vậy, bản thân tôi luôn khuyến khích đội ngũ giáo viên sử
dụng phương pháp này vào giảng dạy nhằm làm cho tất cả học sinh được hoạt
động, tạo không khí lớp học sôi động, hấp dẫn, các em tiếp thu bài cũng dễ dàng
hơn, đặc biệt tạo điều kiện để các em bổ sung vốn tiếng Việt một cách hiệu quả.
Giải pháp 4. Phương pháp luyện viết tiếng Việt:
Ngoài biện pháp rèn nghe, nói, đọc thì phương pháp luyện chữ viết cũng
rất quan trọng, để cho các em có kỹ năng nghe,nói, đọc,viết thành thạo khi học
xong chương trình tiếng Việt lớp 1. Vì vậy phương pháp dạy viết tiếng Việt tôi
rất chú trọng và tuân theo các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc1: Đảm bảo sự phối hợp thống nhất các bộ phận trong cơ thể
khi tham gia viết chữ: Khi viết chữ cùng một lúc nhiều bộ phận đều hoạt động.
Tư thế ngồi, cột sống, phổi, lưng, cách cần bút, ngón tay, cổ tay. Hình dáng chữ
có liên quan đến mặt, mồm, ánh sáng, đầu hơi cúi…Nếu không đúng tư thế sẽ bị
các bệnh cong vẹo cốt sống, gù lưng, cận thị…Vì vậy việc phối hợp đồng bộ của
cơ
thể
là
rất
quan
hoạt thôn (buôn) quan tâm đến việc bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết của dân
tộc mình và tầm quan trọng của tiếng Việt trong việc tiếp thu kiến thức của học
sinh. Từ đó có thói quen sử dụng tiếng phổ thông trong sinh hoạt hàng ngày.
Trước hết, mỗi giáo viên cần quan tâm, gần gũi hơn với học sinh, quan
tâm đến điều kiện hoàn cảnh từng gia đình để có những giải pháp hữu hiệu.
Bản thân tôi là một giáo viên trên 20 năm đứng lớp và làm quản lý, tôi
hiểu được tầm quan trọng của việc nắm bắt tâm tư tình cảm của học sinh để
nâng cao chất lượng giảng dạy. Khi một người giáo viên quan tâm, gần gũi với
những học trò của mình, bản thân các em sẽ cảm thấy yêu quý giáo viên hơn, có
trách nhiệm hơn trong học tập, cảm thấy việc học không còn là sự ép buộc.
Ngôn ngữ từ giáo viên phát ra cũng từ đó mà đi vào tư duy các em, được các em
đón
nhận
và
tiếp
thu
hiệu
quả.
13
Một số giáo viên của trường đã có được vốn tiếng dân tộc cơ bản cần thiết và
việc giao tiếp với học sinh trở nên gần gũi hơn, tạo điều kiện để giải thích cho
các em hiểu được những tiếng, từ, câu khó, hướng dẫn cho các em phát âm tiếng
Việt
một
cách
chính
xác.
+ Tạo thói quen sử dụng tiếng phổ thông ở gia đình và cộng đồng
trường tiểu học Pù Nhi tổ chức hàng năm như:
- Tổ chức trò chơi
*Ví dụ 1: Thử tài suy luận đoán chữ
Câu 1:
Nét tròn em đọc chữ o
Đội thêm cái mũ cho ta chữ gì?
( Đáp án chữ ô)
Câu 2:
Không dấu gọi cả hè về
Thêm vào dấu ngã bức tranh tuyệt vời. ( Đáp án: ve, vẽ)
* Ví dụ 2 : Rèn luyện phản ứng nhanh nhẹn:
Giáo viên chuẩn bị một số câu hỏi , cho học sinh đoán và ghi đúng tiếng, từ giáo
viên yêu cầu vào bảng con:
Câu 1: Tìm từ có vần uê và có thanh nặng. Nghĩa từ này là loài hoa màu trắng,
thơm , thường được cắm bình đặt ở bàn thờ.
(Đáp án hoa huệ)
Câu 2: Từ có 2 tiếng : Từ có vần uân và không có dấu thanh. Nghĩa của từ là
mùa đầu năm:
(Đáp án: Mùa xuân)
Câu 3: Từ có 2 tiếng : tiếng thứ nhất có 2 chữ cái, có âm ê thanh hỏi. tiếng thứ
2 có 5 chữ cái có vần uyên và thanh nặng. Nghĩa của từ là dùng cử chỉ, hành
động làm cho người khác nghe một câu chuyện.
( Đáp án: Kể chuyện)
Hình ảnh tổ chức trò chơi cho học sinh điểm trường Pha Đén
Khi tham gia trò chơi, trong tất cả các trò chơi đều bắt buộc học sinh sử
dụng ngôn ngữ tiếng phổ thông, từ đó các em sẽ đón nhận kiến thức một cách hồ
hởi, nhớ bài lâu hơn và yêu quý, thích học Tiếng Việt hơn.
- Sinh hoạt Đội- Sao Nhi đồng
15
sự tuyên truyền của chúng tôi nên cũng đã có ý thức hay sử dụng Tiếng Việt
trong giao tiếp hàng ngày với con em nên có nhiều em đã sử dụng vốn Tiếng
Việt tương đối thành thạo; năm nay số em học sinh lớp một cũng đã biết giao
tiếp
ngay
từ
đầu
năm
tăng
lên
nhiều
hơn
trước.
16
Bảng số liệu điều tra từ tháng 9 năm 2017 đến thời điểm tháng 4 năm
2018
Nhìn vào bảng số liệu, đã thể hiện được tính hiệu quả của các nhóm giải
pháp mà tôi đã áp dụng cho khối lớp 1 trường Tiểu học Pù Nhi.
Qua hơn 2 năm, áp dụng những giải pháp nêu trên vào quá trình giảng dạy
nhằm tăng cường tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số góp phần nâng
cao chất lượng dạy và học, giảm thiểu số lượng học sinh lưu ban, bỏ học. Kết
quả, nhiều giáo viên đã thấy được hiệu quả của việc tăng cường tiếng Việt trong
quá trình nâng cao chất lượng giáo dục nên đã hưởng ứng nhiệt tình và đang tìm
thêm những giải pháp mới có hiệu quả để áp dụng vào giảng dạy. Nhiều gia đình
cũng đã có ý thức sử dụng một phần tiếng Việt trong giao tiếp hàng ngày với trẻ
nên đã có nhiều em có được vốn tiếng Việt tương đối khi vào lớp; chất lượng
học sinh đã tăng;.
3.2. Kiến nghị
Là một trường có địa bàn rộng, nhiều điểm trường, số lớp và số học sinh
đông, tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao nên cấp trên sớm bổ nhiệm thêm Phó
Hiệu trưởng, tuyển bổ sung đủ số lượng giáo viên , để việc quản lý thuận lợi hơn
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Huy động trẻ trong độ tuổi hàng năm ra
lớp Mẫu giáo đạt tỷ lệ cao tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc và làm quen với tiếng
Việt, chuẩn bị tốt tiếng Việt để các em bước vào lớp Một.
Cần có chính sách thỏa đáng và quan tâm hơn nữa đối với những cán bộ,
giáo viên, nhân viên công tác ở các trường có điều kiện đặc biệt khó khăn để
những giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy học sinh dân tộc tình
nguyện và yên tâm công tác lâu dài ở trường; khuyến khích và có chế độ thỏa
đáng đối với giáo viên tự học tiếng dân tộc thiểu số để nhiều người hưởng ứng
tham gia.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 06 tháng 4 năm
2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Ngô Thị Lan
18
Tài liệu tham khảo
1. Tài liệu chuẩn kỹ năng kiến thức
2. Công văn số 3767/BGD ĐT –GDDT ngày 17 thánh 8 năm 2017 của về việc