SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUAN HOÁ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP KỸ THUẬT DẠY HỌC THEO NGHIÊN
CỨU BÀI HỌC Ở MÔN NGỮ VĂN TRƯỜNG THCS TRUNG SƠN
Người thực hiện: Lưu Tuấn Anh
Chức vụ: Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường THCS Trung Sơn
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ Văn
THANH HOÁ NĂM 2018
MỤC LỤC
TT
Mục
1
1
2
Nội dung
Trang
Mở đầu
2
6
1.4.1. Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết
2
7
1.4.2. Phương pháp kết hợp nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm
2
8
1.4.3
Phương pháp điều tra, khảo sát
3
9
2
Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
3
5
14
2.3
Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
5
15
2.3.1
Các bước thực hiện dạy học theo nghiên cứu bài học
5
16
2.3.2
Các kỹ thuật dạy học theo nghiên cứu bài học
7
17
2.4
những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của
học sinh. Và trước hết muốn làm được điều đó phải chú ý đến đổi mới phương
pháp dạy học.
Tuy nhiên trong những năm qua, những thay đổi trong cách dạy học của
người giáo viên ở nước ta vẫn diễn ra chậm chạp với nhiều khó khăn. Nhiều nước
châu Á và nhiều nước đang phát triển đều có chung tình trạng như vậy. Có một lý
do là các giáo viên sẽ rất khó thay đổi cách dạy học đã trở thành thói quen của họ
nếu họ không thực sự hiểu được các vấn đề: Tại sao cần phải đổi mới phương pháp
dạy học và đổi mới theo cách nào…
Những câu hỏi trên đây thực sự đã được đề cập đến ở rất nhiều tài liệu, nhiều
cuộc hội thảo, các lớp chuyên đề song những vấn đề đó đem tác dụng vào các tiết
dạy thực sự trên lớp quả không dễ dàng chút nào đối với người dạy. Đối với môn
Ngữ văn ở cấp trung học cơ sở, việc đổi mới phương pháp, vận dụng các kĩ thuật
dạy học tích cực cũng đã được bàn đến rất nhiều trong các lớp chuyên đề ở huyện,
ở tỉnh trong những năm qua. Song hầu như nó chưa được áp dụng rộng rãi trong
các tiết dạy đại trà mà chỉ được ứng dụng trong các tiết dạy mẫu, các tiết thao
giảng vì thế học sinh chưa được học tập lĩnh hội kiến thức theo đúng tinh thần tích
cực và yêu cầu đổi mới giáo dục đã đặt ra. Vì thế việc đổi mới phương pháp dạy
học cần phải được thực hiện đồng bộ đại trà ở mọi lớp, mọi tiết dạy, mọi đối tượng
học sinh thì mới mong đạt được kết quả tốt.
Vấn để đổi mới chúng ta cần có cuộc cách mạng về tư duy: Thay đổi kiểu tư
duy đơn tuyến đó là kiểu tư duy coi phương pháp là các hệ thống nguyên tắc, điều
chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động cách tạo thực tiễn; chuyển kiến thức của
thầy sang tr ò theo một chiều .Tư duy đơn tuyến là tư duy dễ cả tin, cần phải khắc
phục. Tư duy đa tuyến là tư duy đặt phương pháp vào hệ thống hoạt động gồm
nhiều thành tố ,là tư duy theo hệ hình thái tương tác, bao quát tổng thể mỗi sự vật,
từ đó nắm được bản chất cụ thể và sâu xa của sự vật.
3
cứu bài học môn Ngữ văn THCS” tôi sẽ tạo được niềm say mê, khám phá và hứng
thú cho các em trong mỗi giờ lên lớp.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Chương trình Ngữ văn cấp THCS Trung Sơn, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.4.1. Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết
Cá nhân: Thực hiện các tiết soạn bài theo nghiên cứu bài học.
Tổ chuyên môn: Xây dựng, góp ý giáo án.
1.4.2. Phương pháp kết hợp nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm
Tổ chuyên môn: Dự giờ đánh giá mức độ thành công, hạn chế của việc áp
dụng giáo án trong quá trình lên lớp.
Cá nhân: Rút kinh nghiệm sau mỗi lần góp ý của tổ chuyên môn.
4
Đúc kết thành sáng kiến kinh nghiệm sau một năm thực hiện được sự góp ý
của tổ chuyên môn và đồng nghiệp.
1.4.3. Phương pháp điều tra và khảo sát
Trước khi thực hiện đề tài tôi thấy:
Khối
6(48)
7(41)
8(56)
9(40)
Số HS thích học văn
13 = 27.08%
17 = 41.46%
20 = 35.71%
18 = 45%
tục tập trung thực hiện thắng lợi nghị quyết số 29-NQ/TW của ban chấp hành trung
ương Đảng, Nghị quyết số 44/NQ-CP của chính phủ về đổi mới căn bản toàn diện
về giáo dục và đào tạo.Nghị quyết số 88/2014 QH 13 của quốc hội,quyết định số
404/QĐ/TTG của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới chương trình sách giáo khoa
giáo dục phổ thông, các Nghị quyết của Đảng, quốc hội ,Chính phủ và chỉ đạo của
Thủ tướng Chính phủ về việc đổi mới toàn diện giáo dục trong tư thế hội nhập và
phát triển trong đó có đổi mới phương pháp giảng dạy hướng đến người học, lấy
học sinh làm trung tâm, tạo điều kiện để học sinh được phát huy hết sức khả năng
sáng tạo của mình. Và ngành giáo dục và Đào tạo Quan Hóa nói riêng năm học
2017-2018 thực hiện theo Nghị Quyết số 08-NQ/HU ngày 23 tháng 3 năm 2017
của Ban Chấp hành Đảng Bộ huyện Quan Hóa về nâng cao chất lượng giáo dục và
đào tạo giai đoạn 2017-2020; định hướng đến năm 2025 và kế hoạch số 77/ KHUBND ngày 22/5/2017 của UBND huyện về kế hoạch hành động thực hiện Nghị
Quyết số 08-NQ/HU ngày 23 tháng 3 năm 2017 của Ban Chấp hành Đảng Bộ
huyện Quan Hóa về nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2017-2020;
định hướng đến năm 2025;Chính điều đó đã thôi thúc mỗi người giáo viên phải
thay đổi thói quen phương pháp giảng dạy, tạo điều kiện để học sinh được học tập
trong một môi trường hoàn toàn chủ động và tích cực để hội nhập quốc tế.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Về phía giáo viên
Như đã nói ở trên việc thay đổi cách dạy học đã trở thành đường mòn thành
thói quen nhiễm vào máu thịt của người dạy là vô cùng khó khăn .Bên cạnh đó
hiện cũng không phải 100% giáo viên dạy Ngữ văn ở bậc trung học cơ sở đã được
tiếp cận với các kĩ thuật dạy học mới. Bởi tôi được biết trong những năm qua Sở
giáo dục đã triển khai nhiều lớp chuyên đề có ý nghĩa thực tiễn: như giáo dục bảo
5
vệ môi trường trong môn ngữ văn giáo dục kĩ năng sống qua môn Ngữ Văn... hay
vận dụng các kĩ thuật dạy học mới trong môn Ngữ Văn... Những vấn đề này đã
được các phòng giáo dục đặc biệt là phòng giáo dục huyện Quan Hóa cùng với các
lực hơn. Nhiều giáo viên dạy xa nhà, tư tưởng tâm huyết nghề nghiệp chưa cao,
quan điểm “ tối ngày đầy công” hết tiết hết bài là được vẫn còn phổ biến cho nên
tinh thần học tập, thay đổi, vận dụng kĩ thuật dạy học mới đối với một số giáo viên
này là rất khó. Họ chỉ làm khi có kiểm tra thanh tra, khi có giờ thao giảng ở trường
hay đi tham gia dự thao giảng cấp huyện. Số giáo viên nhiều người có năng lực
nghề nghiệp, có tâm huyết, nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số bộ phận bằng lòng
với cái vốn có của mình bao năm qua miễn là không ai đụng chạm đến bản thân
mình là được. Chính vì suy nghĩ đó cho nên ý thức phấn đấu cho chuyên môn còn
hạn chế.
Việc đầu tư vận dụng các kĩ thuật dạy học mới trong các giờ Ngữ văn tốn
nhiều thời gian, công sức của người dạy bởi cần phải có sự chuẩn bị dầu tư chu đáo
6
mới thực hiện được. Vì thế không phải ai cũng sẵn sàng bắt tay để áp dụng các
kiểu dạy này. Trong khi đó kiểu dạy học truyền thống lại vô cùng đơn giản cô cứ
dạy và nói theo giáo án là xong. Đó là thực trạng và những khó khăn trong việc áp
dụng phương pháp dạy học mới hiện nay ở địa bàn huyện ta nói riêng và hầu như
trong toàn tỉnh nói chung.
2.2.2. Về phía học sinh
Khi áp dụng các kĩ thuật dạy học mới không chỉ gặp khó khăn về phía giáo
viên mà đối với chủ thể (người học) đó là học sinh chúng ta cũng gặp phải rất
nhiều khó khăn. Lâu nay các em quen tiếp cận kiến thức một cách thụ dộng theo
kiểu truyền thống, thầy giảng trò ghi, thầy đọc trò chép, thầy hỏi trò trả lời, nếu
không trả lời thì được thầy giải đáp luôn nay buộc các em phải tư duy dộng não,
phải đưa ra ý kiến hoặc hợp tác với bạn để cùng ý kiến thống nhất ý kiến đó thì đó
thực sự là một vấn đề khó khăn với các em.
Một thực trạng nữa mà chúng ta thấy rõ trong quá trình giảng dạy về phía học
sinh đó là: Thực hiện chủ trương chính sách xóa bỏ các lớp chọn trong các nhà
trường phổ thông (cấp I, II) nên trình độ học sinh trong một lớp không đồng đều.
dụng kiến thức đã học để giải quyết tình huống thực tiễn…
Dự kiến những thuận lợi, khó khăn của học sinh khi tham gia các hoạt động
học tập và các tình huống xảy ra và cách xử lý (nếu có)…
Bước 2. Tiến hành bài giảng minh họa (BGMH) và dự giờ
Sau khi hoàn thành giáo án của bài học nghiên cứu chi tiết, một giáo viên sẽ
dạy minh họa bài học nghiên cứu (BGMH) ở một lớp học cụ thể, các GV còn lại
trong nhóm tiến hành dự giờ và ghi chép thu thập dữ kiện về bài học.
Giáo viên dự giờ phải đảm bảo nguyên tắc: Không làm ảnh hưởng đến việc
học tập của học sinh; không gây khó khăn cho giáo viên dạy minh họa; khi dự giờ
phải tập trung vào việc học của học sinh, cách phản ứng của học sinh trong giờ
học, cách làm việc nhóm học sinh, những khó khăn vướng mắc, thái độ tình cảm
của học sinh… Quan sát tất cả đối tượng học sinh, không được “bỏ rơi” một học
sinh nào.
Giaó viên cần từ bỏ thói quen đánh giá giờ qua hoạt động của giáo viên dạy,
người dự cần học tập, hiểu và thông cảm với khó khăn của người dạy. Đặt mình vào
vị trí của người dạy để phát hiện những khó khăn trong việc học của HS để tìm cách
giải quyết.
Luyện tập cách quan sát và suy nghĩ về việc học của học sinh trong giờ học,
có khả năng phán đoán nhanh nhạy, chính xác để điều chỉnh việc dạy phù hợp, việc
học của học sinh.
Thay đổi cách nhìn, cách nghĩ và cảm nhận của giáo viên về học sinh trong
từng hoàn cảnh khác nhau.
Hình thành thói quen lắng nghe lẫn nhau; rèn luyện cách chia sẻ ý kiến, từ đó
hoàn thành mối quan hệ đồng nghiệp thân thiện, cộng tác và học tập lẫn nhau.
Để thực hiện thành công hoạt động này giáo viên cần thực hiện các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1. Định hướng học tập
Giáo viên giới thiệu trước cả lớp về nội dung cơ bản của chủ đề học tập. Tổ
chức học sinh học tập theo nhóm (4 đến 6 học sinh), phổ biến, quán triệt tinh thần
học tập nhóm để học sinh năm và làm việc hiệu quả.
Giai đoạn 2. Tổ chức nghiên cứu bài học
Trong một giờ dạy giáo viên có thể sử dụng một hay nhiều kĩ thuật dạy học
mới miễn làm sao phù hợp với nội dung bài dạy, đem lại hứng thú, sự say mê, phát
huy tính tối đa, tính tích cực của học sinh.
Kỹ thuật huy động tư duy (động não tập thể)
Đây là một hình thức học có thể áp dụng cho bất kỳ một tiết dạy nào. Huy
động tư duy là một kỹ thuật nhằm huy động những ý tưởng mới những kiến thức
cần sự phối hợp nhiều người trong lớp. Các thành viên được cổ vũ tham gia một
cách tích cực thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể.
Kỹ thuật huy động tư duy thường được cụ thể bằng hoạt động nhóm. Đây là
cách tổ chức giờ học không chỉ giúp học sinh củng cố, phát huy kiến thức mà còn
nhằm phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kỉ luật, tính tập thể, tinh thần tương trợ,
hợp tác, ý thức cộng đồng, tạo không khí, niềm vui trong học tập.
Học tập theo nhóm làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết
những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để
hoàn thành nhiệm vụ chung. Hiện nay trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện
như cầu hợp tác xuyên quốc gia, năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo
dục mà giáo viên phải hình thành được cho học sinh trong các giờ học.
Tôi đã áp dụng kĩ thuật dạy học theo nhóm trong nhiều giờ dạy kể cả phần
đọc hiểu văn bản, Tập làm văn và Tiếng Việt đặc biệt của nhất là đối với các bài
tập Tiếng Việt hay phần ôn tập thì học theo nhóm là vô cùng cần thiết.
Ví dụ 1: Khi dạy tiết 47: “Luyện tập xây dựng bài tự sự - kể chuyện đời
thường” [3].
Phần lập dàn bài cho một đề văn tự sự: giáo viên ra cùng một đề bài như
nhau, giáo viên có thể chia lớp thành 3 nhóm để các em cùng lập một dàn bài. Sau
đó đối chiếu, so sánh kết quả, chắt lọc các ý tốt của mỗi nhóm để hình thành một
dàn bài hoàn chỉnh.
9
Hoặc cho 3 đề khác nhau, mỗi nhóm lập dàn bài cho một đề. Sau đó các nhóm
Qua cách tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh tôi nhận thấy rằng dạy học
theo nhóm nghiên cứu bài học không chỉ thu được kết quả về mặt kiến thức mà còn
xây dựng cho học sinh các kỹ năng cần thiết. Bằng cách nói ra những điều đang
nghĩ mỗi người có thể hiểu nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề hay bài
tập đưa ra, nhận thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học sẽ trở thành quá
trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ đông từ giáo viên. Do
đó hoạt động nhóm thực sự cần thiết trong các giờ học nói chung và giờ học Ngữ
văn nói riêng.
Kỹ thuật phòng tranh
Đây là một kỹ thuật dạy học tuyệt vời đối với môn Ngữ Văn. Kỹ thuật phòng
tranh sẽ tích hợp được với rất nhiều các môn học theo như môn Mĩ thuật, môn toán
học …
10
Kỹ thuật phòng tranh không chỉ đơn giản là những bức tranh ảnh được trưng
bày mà cả các sơ đồ, lược đồ, các ý kiến, ý tưởng của người học được đưa lên.
Kỹ thuật phòng tranh giúp thu thập, phát triển ý tưởng chủ kiến về một chủ đề
một nội dung quan tâm của các học sinh trong lớp kỹ thuật phòng tranh có thể kết
hợp với hoạt động nhóm các thành viên sẽ phác họa những ý kiến, ý tưởng của
mình về một chủ đề, một nội dung quan tâm của các học sinh trên lớp.
Kỹ thuật phòng tranh có thể kết hợp với kỹ thuật hoạt động nhóm.Các thành
viên sẽ phác họa những ý kiến ý tưởng của mình về vấn đề lên từ bìa, tờ giấy rồi
dính lên bàn, lên tường lên bảng như một triển lãm tranh.
Sau khi triển lãm tranh, các thành viên sẽ vận dụng khả năng thuyết trình để
trình bày ý tưởng của nhóm mình.
Trong giai đoạn đánh giá tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và
lựa chọn đưa ra phương án tối ưu.
Một số ví dụ về các lý giải sử dụng kỹ thuật phòng tranh:
Ví dụ 1: Trở lại tiết 53, 54 “ Bài ôn tập truyện dân gian ” [3] ngoài kỹ thuật
Việc sử dụng kỹ thuật phòng tranh không chỉ tạo hứng thú cho các em học
sinh lớp 6 mà đối với các em học sinh khối lớp trên cũng rất say mê.
Ví dụ 3: Khi dạy bài “Bạn Đến Chơi Nhà” của Nguyễn Khuyến [5] tôi đã đề
nghị các em vẽ khu vườn của Nguyễn Khuyến. Các em đã vẽ được một khu vườn
tràn đầy sự sống với đủ cả cà, cải, bầu, mướp, một chiếc ao xinh xắn có cả bóng cá
quẫy đuôi. Cảnh hai người bạn già thong dong nắm tay nhau dạo trong vườn thật
là đẹp. Một phòng tranh được trưng bày với những lời bình sâu sắc khiến cho giờ
học văn tràn đầy khí thế.
Kỹ thuật phòng tranh còn được sử dụng kiểu khai thác tranh giống như một
đồ dùng trực quan trong dạy học. Cách dạy này tiện dụng, dễ dàng, có thể vận
dụng cho nhiều tiết học khác nhau.
Ví dụ 4: Khi dạy tiết 78 - 79 “Quan sát tưởng tượng, nhận xét so sánh trong
văn miêu tả ” [3] giáo viên có thể sử dụng các bức tranh sau đây để treo lên cho
học sinh quan sát và phát hiện.
Tranh 1: Cảnh sông nước Cà Mau.
Tranh 2: Cảnh dượng Hương Thư vượt thác.
Tranh 3: Cảnh chú bé Lượm đi liên lạc trong bài thơ Lượm của Tố Hữu.
Tranh 4: Cảnh đảo Cô Tô (trong văn bản Cô Tô của Nguyễn Tuân).
Từ các bức tranh trên học sinh sẽ hình thành một cách dễ dàng kỹ năng quan sát,
tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả. Chắc chắn kiểu dạy này sẽ giúp
học sinh tiếp cận kiến thức dễ hơn các dữ liệu trừu tượng trong sách giáo khoa.
Như vậy kỹ thuật phòng tranh nếu được sử dụng phù hợp sẽ đem lại hiệu quả
cao cho giờ dạy của giáo viên. Học sinh sẽ phát huy được sở trường năng lực được
bộc lộ quan điểm ý kiến quan điểm của mình bằng hình ảnh hoặc thông qua hình
ảnh cụ thể. Đây chỉ là một dạng nhỏ trong việc sử dụng kỹ thuật phòng tranh mà
tôi muốn nói đến. Trên thực tế bản thân tôi và các đồng chí trong tổ chức chuyên
môn của nhà trường đã áp dụng kĩ thuật dạy học này rất thành công.
Kĩ thuật các mảnh ghép
Đây cũng là kĩ thuật dạy học mới được đưa ra trong mấy năm gần đây. Một
kỹ thuật dạy học tạo được sự liên kết, hợp tác chặt chẽ giữa các thành viên trong
+ Mình vì mọi người mọi người vì mình...
Sau đó giáo viên tổng hợp các ý kiến của học sinh (mỗi ý kiến chính là một
mảnh ghép nhỏ) để tạo nên sự hoàn chỉnh cho nội dung bài học.
Khi vận dụng kỹ thuật các mảnh ghép giáo viên cần phải có sự khéo léo trong
dẫn dắt, khích lệ học sinh đưa ra ý kiến của mình. Học sinh đưa càng nhiều ý kiến
càng tốt (nhưng nhất thiết phải phù hợp với nội dung và thời gian cho phép của giờ
học). Cuối cùng giáo viên phải biết chắt lọc và khái quát phân tích, kết luận để học
sinh thấy được sự đúng sai trong ý kiến của mình.
Khi sử dụng các mảnh ghép giáo viên cũng có thể phân học sinh thành các
nhóm thảo luận tìm hiểu sâu về một vấn đề của bài học. Chẳng hạn nhóm 1 thảo
luận vấn đề A, nhóm 2 thảo luận vấn đề B, nhóm 3 thảo luận vấn đề C, nhóm 4
thảo luân vấn đề D.
Giáo viên điều khiển học sinh thảo luận nhóm về vấn đề đã được phân công.
Sau đó, mỗi thành viên của nhóm này sẽ tập hợp thành các nhóm mới. Như vậy
trong nhóm mới sẽ có đủ các “chuyên gia” về vấn đề A, B, C, D... Và mỗi “chuyên
gia” về từng vấn đề sẽ có trách nhiệm trao đổi lại với cả nhóm về vấn đề mà em đã
có cơ hội tìm hiểu sâu ở nhóm cũ.
Ví dụ 3: Khi dạy “Truyện Kiều” của Nguyễn Du [6], tôi chia lớp thành 4 nhóm:
Nhóm 1: Tìm hiểu về tác giả Nguyễn Du.
Nhóm 2: Tìm hiểu chung về Truyện Kiều (nguồn gốc, xuất xứ. độ dài. thể
loại, tên gọi của truyện, so sánh điểm khác biệt giữa Truyện Kiều của Nguyễn Du
và Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm tài nhân Trung Quốc).
Nhóm 3: Tóm tắt Truyện Kiều.
Nhóm 4: Tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của Truyện Kiều.
Sau đó sẽ chia lại nhóm: Một học sinh ít nhất sẽ được tìm hiểu hai nội dung và
sẽ là “chuyên gia” cho nhóm mới về vấn đề mà em đã được tìm hiểu ở nhóm trước
13
đó (ví dụ: Em Dụ lúc đầu ở nhóm 1, sau em sang nhóm 4 em sẽ tư vấn cho các bạn
- Vẻ đẹp của phong cách Hồ Chí Minh là sự kết hợp giữa cái bình thường
giản dị với cái vĩ đại.
- Đó là một phong cách sống bình thường nhưng không tầm thường, giản dị
nhưng không giản đơn, thể hiện bởi sự giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc hòa quện
với văn hóa tinh hoa của thời đại trong thời kỳ hội nhập và phát triển.
Học tập về đạo đức, lối sống, phong cách Hồ Chí Minh mỗi người tự suy nghĩ
và điều chỉnh lối sống của mình (từ cách ăn, mặc, sử dụng vật chất, năng lực phấn
đấu vươn lên trong cuộc sống tinh thần, vượt qua gian khổ khó khăn chiến thắng
hoàn cảnh của chính là bản thân mình.
14
Ví dụ 2: Khi dạy bài “ Mùa Xuân Nho Nhỏ ” của Thanh [6] giáo viên cũng có
thể sử dụng kỹ thuật động não, giáo viên bắt đầu dẫn dắt học sinh từ khát vọng
được cống hiến, được hòa nhập của nhà thơ để yêu cầu cá nhân các học sinh trong
lớp động não bộc lộ ý kiến cá nhân thể hiện suy nghĩ về những gì cần làm để góp
phần nhỏ bé có ý nghĩa vào cuộc sống.
Rất nhiều ý kiến được đưa ra sau khi yêu cầu học sinh động não. Trong đó có
những ý kiến gắn liền với các yêu cầu cuộc sống thực tiễn hiện nay:
- Giúp đỡ những bạn có hoàn cảnh khó khăn trong lớp.
- Tham gia bảo vệ môi trường.
- Tuyên truyền phòng chống các tệ nạn xã hội.
- Sẵn sàng bảo vệ biển, đảo quê hương (Trường Sa, Hoàng Sa).
Như vậy kỹ thuật động não cũng là một kỹ thuật dạy học hết sức tích cực. Nó
đơn giản hơn so với các kĩ thuật dạy học khác bởi không phải thảo luận, không phải
chuẩn bị nhiều đồ dùng. Và kỹ thuật này cũng thu được kết quả khả quan trong quá
trình học tập. Giáo viên và học sinh sẽ gần gũi nhau, hiểu nhau nhiều hơn.
Trên đây là một trong rất nhiều kĩ thuật dạy học mới được đưa ra và đã được
áp dụng trong những năm gần đây. Tùy theo kiến thức giờ học, năng lực của giáo
Qua kết quả học tập của các em học sinh trường THCS Trung Sơn - nơi cao
nhất của vùng cao huyện Quan hóa tôi nhận thấy thông qua nghiên cứu bài học
họa sinh cảm thấy tập trung hơn vào bài học và tăng sự thích thú trong việc học
Ngữ văn của mình và các giáo viên mình quản lý. Các em hiểu sâu hơn về nội
dung kiến thức của bài học. Việc vận dụng phương pháp này có tác động tới kết
quả học tập và quá trình học tập, kỹ năng của học sinh trong môn Ngữ văn.
Trên đây là một sáng kiến nhỏ của riêng bản thân tôi. Tôi muốn đưa ra để các
bạn động nghiệp cùng xây dựng và góp ý. Tôi rất mong được sự góp ý của cấp trên
và các bạn đồng nghiệp để có thể nâng cao được chất lượng môn Ngữ văn bằng
phương pháp dạy học theo nghiện cứu bài học.
Tôi xin cam đoan sáng kiến này do tự tôi viết bằng tâm huyết và sự trải
nghiệm của bản thân.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG
Quan Hóa, ngày 02 tháng 4 năm 2018
KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình viết, không sao chép nội
dung của người khác.
Người viết
Lưu Tuấn Anh
16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nghị quyết số số 29-NQ/TW
[3] Tài liệu tập huấn sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học của Thanh Hóa.