Một số kinh nghiệm sử dụng tính tích hợp có hiệu quả khi dạy bài 3b ( tiết 2) chương trình VNEN - Pdf 53

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN YÊN ĐỊNH

TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỊNH LIÊN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ KINH NGHIỆM SỬ DỤNG TÍNH TÍCH
HỢP CÓ HIỆU QUẢ KHI DẠY BÀI 3B (TIẾT 2) –
CHƯƠNG TRÌNH VNEN

Người thực hiện: Nguyễn Thị Tâm
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường Tiểu học Định Liên
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
YÊN ĐỊNH NĂM 2018


MỤC LỤC
Mục
1
1.1
1.2
1.3
1.4
1.5
2
2.1
2.2
2.3

5
6
7
14
16
16
16
18

1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Tập làm văn là một phân môn quan trọng trong chương trình Tiếng Việt
ở bậc tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng. Dạy tốt phân môn này không
những rèn cả 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh (HS) mà còn giúp
học sinh có được kĩ năng làm văn, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, biết
cảm nhận yêu quý cái đẹp, yêu thiên nhiên đất nước, con người, hình thành
nhân cách của học sinh.

2


Như vậy ta có thể khẳng định: Tập làm văn là một môn học rất quan
trọng, đòi hỏi học sinh phải vận dụng toàn bộ kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng
Tiếng Việt cũng như tư tưởng tình cảm của mình vào bài làm. Chính vì vậy
Tập làm văn là một thước đo năng lực của học sinh.
Để giúp học sinh học tốt môn học không phải là đơn giản, và đặc biệt là
văn tả cảnh có thể nói là một thể loại văn khó đối với học sinh. Trong thực tế
giảng dạy tôi thường gặp những bài văn tả cảnh ý nghèo nàn, lời lẽ khô khan,
cứng nhắc thiếu sự lôi cuốn, ... nhiều em còn sao chép văn mẫu nội dung
không phù hợp với cảnh, thiếu tự nhiên, thiếu sáng tạo. Giờ học tập làm văn

1.3. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng dạy học văn tả cảnh lớp 5 chương trình VNEN.
Nghiên cứu nội dung và phương pháp dạy bài 3B (tiết 2) Tiếng Việt 5
(sách thử nghiệm) chương trình VNEN.

3


Nghiên cứu tính tích hợp trong dạy học Tiếng Việt 5 ở lớp 5B (lớp thực
nghiệm) và lớp 5C (lớp đối chứng), Trường Tiểu học Định Liên - Yên Định Thanh Hóa.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện SKKN này chủ yếu tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
a) Nhóm phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết
- Nghiên cứu các văn kiện, các công văn, văn bản hướng dẫn giảng dạy
môn Tiếng Việt, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo.
b) Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp khảo sát điều tra thực tế.
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp phân tích số liệu.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
1.5. Những điểm mới của SKKN
- Năm học 2013-2014 tôi đã nghiên cứu và ứng dụng SKKN này vào
dạy bài Luyện tập tả cảnh (tiết 5) - Tập làm văn 5 của chương trình hiện
hành tại lớp 5A Trường TH Yên Ninh.
- Năm học 2017 - 2018 tôi tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng SKKN này
vào dạy bài 3B (tiết 2) – Tiếng Việt 5 Chương trình VNEN tại lớp 5B Trường
Tiểu học Định Liên. Trong lần ứng dụng này tôi mạnh dạn đề xuất một số giải
pháp mới (chủ yếu là về hình thức dạy học) nhằm phù hợp với chương trình
của sách giáo khoa (SGK) và đối tượng học sinh lớp mình phụ trách và phù
hợp với mô hình trường học mới Việt Nam.

- Bài văn miêu tả phải có trọng tâm và chọn lọc được những nét tiêu
biểu.
- Bài văn miêu tả phải bộc lộ được cảm xúc chân thành của người viết.
- Bài văn miêu tả phải diễn đạt bằng lời văn sinh động, giàu hình ảnh.
c. Tìm hiểu về tính tích hợp
- Tích hợp là quan điểm mới trong chương trình giáo dục tiểu học nhằm
giải quyết quyết mâu thuẫn giữa lượng kiến thức ngày càng tăng do sự bùng
nổ thông tin với thời gian học tập và sức lực học tập có hạn của học sinh. Làm
cho người học nhận biết và ý thức được mối quan hệ giữa nội dung học tập ở
các môn học khác nhau và ở ngay trong một môn học đó là mối quan hệ giữa
các tri thức của các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội; giữa tri thức
với kĩ năng, với năng lực cải tạo cuộc sống của người học ngay trong một
môn học cụ thể.
d. Sách Hướng dẫn học Tiếng Việt 5 (sách thử nghiệm) xây dựng
theo quan điểm tích hợp
Các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn kĩ năng gắn bó chặt chẽ với
nhau. Sách được xây dựng theo hai trục: Trục chủ điểm và trục kĩ năng, trong
đó trục chủ điểm làm khung cho cả cuốn sách, còn kĩ năng được lấy làm
khung cho từng tuần học, từng đơn vị học.
Hệ văn bản đưa vào chương trình là các dạng văn bản thường gặp trong
cuộc sống như văn bản khoa học, văn bản thông tin truyền thông, văn bản
hành chính, pháp luật,... Hệ văn bản này cung cấp cho học sinh những tri thức
phong phú về khoa học, về các thông tin thuộc những vấn đề bức xúc của thời
đại, làm giàu vốn hiểu biết, vốn sống cho học sinh. Hệ văn bản này cũng góp
phần làm khuôn mẫu, làm ngữ liệu giúp các em học tốt, làm tốt các bài Tập
làm văn đồng dạng.
5


e. Dạy Tập làm văn là một quy trình tích hợp

khan, thiếu sáng tạo. Để đối phó với tình trạng học sinh làm bài kém, để đảm
bảo chất lượng nhiều thầy cô giáo cho học sinh học thuộc một số bài văn mẫu
khi gặp đề bài tương tự cứ thế mà chép. Vì vậy dẫn đến tình trạng cả thầy và
trò đều lệ thuộc vào văn mẫu. Nguyên nhân là do giáo viên chưa nhiệt tình
trong công tác đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích hợp, chưa quan
tâm lưu ý hướng dẫn học sinh tích hợp các nội dung, kiến thức, kĩ năng các
phân môn của môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác. Tổ chức các hình
thức dạy và học chưa phong phú và phù hợp với từng đối tượng học sinh. Do
vậy, chưa lôi cuốn được sự tập trung chú ý nghe giảng của học sinh. Từ đó
dẫn đến tình trạng dạy học chưa trọng tâm, kiến thức còn dàn trải.
c. Đối với gia đình
Do địa hình dân cư là vùng nông thôn điều kiện kinh tế còn gặp nhiều
khó khăn, thiếu thốn, bố mẹ thường đi làm ăn xa hoặc đi làm ở công ti cả
ngày do đó việc học hành của các em chưa được quan tâm nhiều. Vì thế, nó
6


ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của các em, ảnh hưởng đến trình độ tư
duy, nhận thức và vốn sống, khả năng giao tiếp của các em. Điều đó ảnh
hưởng đến xúc cảm, tình cảm của các em, ảnh hưởng đến chất lượng học tập
phân môn Tập làm văn nói chung và văn tả cảnh nói riêng.
* Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên
Kết quả khảo sát chất lượng văn miêu tả đầu năm học 2017 - 2018 Lớp
5B (lớp thực nghiệm) và lớp 5C (lớp đối chứng) Trường Tiểu học Định Liên
như sau:
Lớp

Sĩ số

5B

SL
5
3

%
18.5
10.7

Thực trạng về dạy học văn miêu tả như đã nêu trên đã ảnh hưởng trực
tiếp tới chất lượng dạy học phần Tập làm văn nói riêng và môn Tiếng Việt nói
chung của nhà trường. Vì vậy ngay từ đầu năm học tôi đã mạnh dạn đổi mới
phương pháp dạy học Tập làm văn nhằm khắc phục tình trạng như đã nêu ở
trên.
2.3. Các giải pháp thực hiện
2.3.1. Tìm hiểu nội dung bài 3B (tiết 2) - Hướng dẫn học Tiếng Việt
5 (Sách thử nghiệm) - Tập 1A
* Bài 1: Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi
Mưa rào
Một buổi có những đám mây bay về. Những đám mây lớn nặng và đặc
xịt lổm ngổm đầy trời. Mây tản ra từng nắm nhỏ rồi san đều trên một nền đen
xám xịt. Gió nam thổi giật mãi. Gió bỗng đổi mát lạnh, nhuốm hơi nước. Từ
phía nam bỗng nổi lên một hồi khua động dạt dào. Mưa đã xuống bên kia
sông: gió càng thêm mạnh, mặc sức điên đảo trên cành cây.
Mưa đến rồi, lẹt đẹt... lẹt đẹt... mưa giáo đầu. Những giọt nước lăn
xuống mái phên nứa: mưa thực rồi, mưa ù xuống khiến cho mọi người không
tưởng được là mưa lại kéo đến chóng thế . Lúc nãy là mấy giọt lách tách, bây
giờ bao nhiêu nước tuôn rào rào. Nước xiên xuống, lao xuống, lao vào trong
bụi cây. Lá đào, lá na, lá sói vẫy tay run rẩy. Con gà sống ướt lướt thướt ngật
ngưỡng tìm chỗ trú. Mưa xuống sầm sập, giọt ngã, giọt bay, bụi nước toả
trắng xoá. Trong nhà bỗng tối sầm, một mùi nồng ngai ngái, cái mùi xa lạ,

- Cơn mưa kết thúc thế nào? Cảnh vật và con người sau cơn mưa có
những biểu hiện gì thay đổi so với trước cơn mưa?
c) Kết bài
Cảm nghĩ: Cơn mưa đem lại cho em cảm giác thế nào (hoặc gợi cho em
những điều gì về cuộc sống xung quanh) ?
2.3.2. Một số biện pháp sử dụng tính tích hợp vào bài 3B (tiết 2) –
Hướng dẫn học Tiếng Việt 5 (Sách thử nghiệm) – Tập 1A
a. Sự kết hợp bài học với các nội dung trong môn Tiếng Việt
* Đối với nội dung Tập đọc
Dựa vào nội dung bài tập 1 được trình bày trong bài học, ta có thể thấy
ngay được là trước khi học sinh lập dàn ý cho một đề bài Tập làm văn tả cảnh
cụ thể thì có một bài văn (hoặc đoạn văn) có thể hiểu là một mẫu văn bản
tương ứng với thể loại văn mà học sinh được học. Như vậy, để khai thác bài
văn này thì có thể kèm theo một hệ thống câu hỏi gợi ý tìm hiểu, yêu cầu học
sinh phải huy động các kĩ năng của nội dung Tập đọc như: đọc thành tiếng,
đọc thầm, đọc lướt, đọc hiểu,... để trả lời các câu hỏi gợi ý. Từ đó giúp các em
dễ dàng nhận biết được cách viết một bài văn thuộc thể loại văn tả cảnh nói
chung và tả cơn mưa nói riêng đặc biệt là cách trình bày, diễn đạt, sử dụng từ
ngữ, hình ảnh,...
Chẳng hạn để học sinh thực hiện theo đúng yêu cầu của bài tập bằng
cách trả lời các câu hỏi thì giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện như sau:
- HS thảo luận nhóm lớn: cá nhân đọc thành tiếng, cả nhóm đọc thầm
toàn bài “Cơn mưa” của nhà văn Tô Hoài trong SGK.
- HS đọc thầm, đọc lướt suy nghĩ trao đổi thảo luận để trả lời các câu
hỏi a, b, c, d có trong bài đọc.
8


- Cách tiến hành ở phần này gần giống như cách khai thác tìm hiểu bài
ở nội dung Tập đọc. Vì thế, để học sinh làm được thì trước hết các em phải có

+ Những từ ngữ, hình ảnh; những biện pháp nghệ thuật như: so sánh,
nhân hoá, liên tưởng, điệp ngữ,... Học sinh đã được học ở phân môn Luyện từ
và câu. Vì vậy, học sinh cũng cần phải học tốt và nắm vững về đặc điểm, dấu
hiệu nhận biết, cách sử dụng chúng khi học ở phân môn này. Có như vậy thì
khi học nội dung Tập làm văn giáo viên chỉ việc dùng câu hỏi gợi mở giúp
học sinh nhớ lại và nhận biết ngay được từ đó có thể giúp cho dạy học Tập
làm văn đạt hiệu quả tốt.
* Đối với nội dung Tập làm văn
Như chúng ta đã biết, thể loại văn tả cảnh là tổng hợp nghiều thể loại
văn khác học sinh đã được học như: tả đồ vật, con vật, cây cối,... chính vì thế
mà có thể nói rằng văn tả cảnh là thể loại văn đã tích hợp gồm nhiều loại văn
học sinh đã được học trước đó. Ngay từ lớp hai học sinh đã được tìm các từ
ngữ, hình ảnh miêu tả, viết câu văn đoạn văn miêu tả. Ở lớp 3 học sinh được
9


làm quen với cách viết một đoạn văn tương đối hoàn chỉnh theo các chủ đề:
con người, đò vật, con vật, cây cối,... gần gũi xung quanh các em. Ở lớp 4,
học sinh được học và có kĩ năng viết một bài văn hoàn chỉnh (đủ ba phần: mở
bài, thân bài, kết bài) về thể loại kể chuyện, tả đồ vật, con vật, cây cối,... Lên
lớp 5, học sinh bắt đầu được học thể loại văn tả cảnh. Bài luyện tập tả cảnh
này là tiết thứ tư học sinh học thể loại văn tả cảnh. Trước tiết luyện tập này
học sinh đã được học về cấu tạo bài văn tả cảnh và có hai tiết luyện tập để tìm
hiểu sâu hơn về cấu tạo bài văn, cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh trong bài văn
miêu tả, cách lập dàn ý một bài văn tả cảnh. Do đó, ở tiết luyện tập này giáo
viên chỉ dùng câu hỏi gợi ý giúp học sinh nhắc nhanh lại các kiến thức đã học
có liên quan: Cấu tạo bài văn tả cảnh, cách mở bài, kết bài, cách lập dàn ý.
Chẳng hạn: + Ở bài tập 1, giáo viên có thể yêu cầu học sinh nêu:
- Bài văn “Mưa rào” gồm có mấy đoạn?
- Nêu cách mở bài, kết bài của bài văn này?

người đọc, người nghe không hiểu sai lệch văn bản mà người viết muốn trình
10


bày. Việc dạy tốt nội dung chính tả cho học sinh sẽ góp phần không nhỏ nâng
cao chất lượng dạy học Tập làm văn nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung.
b. Đối với các môn học khác
Đối với văn tả cảnh thì việc kết hợp với các môn học khác là điều rất
cần thiết giúp cho các em có hiểu biết sâu rộng về thiên nhiên, cây cỏ, sự vật,
hiện tượng, con người ... đang hiện hữu và diễn ra hằng ngày xung quanh các
em. Các em còn được biết những gì đã xảy ra trong quá khứ và những gì có
thể đến với các em trong tương lai gần. Từ đó, giúp các em có một vốn từ ngữ
thật phong phú, giúp các em có thể lựa chọn và sử dụng đúng, hay và chính
xác các từ ngữ, hình ảnh theo đúng yêu cầu của dạng bài văn tả cảnh.
Chẳng hạn: + Ở bài tập 1; 2: HS có nắm vững kiến thức của môn Tự
nhiên và Xã hội, Khoa học, phân môn Địa lí,... thì các em mới nhận biết được:
+ Các dấu hiệu báo cơn mưa sắp đến.
+ Các sự vật: con vật, cây cối, bầu trời, mây,...
+ Các hiện tượng: gió, mưa,...
+ Các giác quan sử dụng để quan sát sự vật hiện tượng: thị giác (mắt),
thính giác (tai), xúc giác (da), khứu giác (mũi),...
Khi dạy đến những kiến thức này, giáo viên có thể dùng câu hỏi gợi mở
giúp học sinh nhớ lại các kiến thức đã học có liên quan để các em nhận biết
và vận dụng được vào bài học.
Vì vậy, có thể nói rằng học sinh học tốt các môn học khác như Tự nhiên
và Xã hội, Khoa học, Lịch sử và Địa lí, Đạo đức,... cũng góp phần khong nhỏ
vào việc nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập làm văn.
c. Huy động vốn hiểu biết trong cuộc sống của học sinh
Để bài văn học sinh viết được một cách chân thực, giàu hình ảnh, giàu
cảm xúc,... thì việc huy động vốn hiểu biết từ cuộc sống xung quanh của các

b. Cách tiến hành
* Hoạt động 1: Bài tập 1
+ Mục tiêu: Qua phân tích bài “Mưa rào”, giúp học sinh hiểu thêm về
cách quan sát và chọn lọc chi tiết trong một bài văn tả cảnh.
+ Cách tiến hành
- Trước hết tôi yêu cầu học sinh thảo luận nhóm: cá nhân đọc toàn bộ
nội dung Bài tập 1. Cả nhóm theo dõi trong SGK, đọc thầm lại bài văn “Mưa
rào”.
- HS đọc thầm, đọc lướt trao đổi nhóm đôi, trả lời các câu hỏi:
a. Những dấu hiệu nào báo cơn mưa sắp đến?
b. Tìm những từ ngữ tả tiếng mưa và hạt mưa từ lúc bắt đầu đến lúc kết
thúc cơn mưa.
c. Những từ ngữ tả cây cối, con vật, bầu trời trong và sau cơn mưa.
d. Tác giả đã quan sát cơn mưa bằng những giác quan nào?
- Đại diện các nhóm lần lượt phát biểu ý kiến.
+ HS trả lời câu a, cả lớp và GV nhận xét, chốt lời giải:
Mây: nặng, đặc xịt, lổm ngổm đầy trời, tản ra từng nắm nhỏ rồi san đều
trên một nền đen xám xịt.
Gió: thổi giật, đổi mát lạnh, nhuốm hơi nước, khi mưa xuống, gió càng
mạnh, mặc sức điên đảo trên cành cây.
GV nêu thêm câu hỏi: Theo sự quan sát và kinh nghiệm trong thực tế
em thường thấy những dấu hiệu nào cho biết cơn mưa sắp đến?
+ HS trả lời câu b, cả lớp và GV nhận xét, chốt lời giải:
Tiếng mưa: Lúc đầu: lẹt đẹt ... lẹt đẹt, lách tách.
Về sau: mưa ù xuống, rào rào, sầm sập, đồm độp, đập bùng bùng vào
lòng lá chuối, giọt tranh đổ ồ ồ.
GV nêu thêm câu hỏi: Tìm các từ láy miêu tả tiếng mưa?
Ngoài ra, em có thể tìm thêm các từ ngữ nào nữa miêu tả tiếng mưa
rơi?
Hạt mưa: Những giọt nước lăn xuống mai phên nứa rồi tuôn rào rào

man mác của những trận mưa mới đầu mùa.
GV kết luận chung cho hoạt động: Tác giả đã quan sát cơn mưa rất tinh
tế bằng tất cả các giác quan. Quan sát cơn mưa từ lúc có dấu hiệu báo mưa
đến khi mưa tạnh, tác giả đã nhìn thấy, nghe thấy, ngửi và cảm thấy sự biến
đổi của cảnh vật, âm thanh, không khí, tiếng mưa, ... nhờ khả năng quan sát
tinh tế, cách dùng từ ngữ miêu tả chính xác và độc đáo, tác giả đã viết được
một bài văn miêu tả cơn mưa rào đầu mùa rất chân thực, thú vị.
* Hoạt dộng 2: Bài tập 2
+ Mục tiêu: Giúp HS biết chuyển điều quan sát được về một cơn mưa
thành một dàn ý thể hiện sự quan sát của riêng mình; biết trình bày dàn ý
trước các bạn rõ ràng, tự nhiên.
+ Cách tiến hành: HS đọc yêu cầu của bài tập.
- Gv kiểm tra sự chuẩn bị cho tiết học đã dặn và giao việc về nhà ở tiết
trước: Quan sát và ghi lại kết quả quan sát một cơn mưa.
- HS nhớ lại một số kiến thức đã học để lập dàn ý:
Bài văn thường có cấu tạo mấy phần? Đó là những phần nào? (3 phần:
mở bài, thân bài, kết bài).
Người ta thường mở bài theo kiểu nào? (trực tiếp hoặc gián tiếp).
Có những cách kết bài nào? (mở rộng, không mở rộng, một cách tự
nhiên)
Phần thân bài, cảnh có thể được miêu tả theo trình tự nào? (thời gian,
không gian, từng bộ phận cảnh).
- Dựa trên kết quả quan sát, mỗi HS tự lập dàn ý vào vở bài tập. Gv
phát giấy khổ to và bút dạ cho 2 HS giỏi.

13


- GV gọi lần lượt 5 HS dựa vào dàn ý đã viết) tiếp nối nhau trình bày.
cả lớp và GV nhận xét. GV nhận xét, đánh giá.


Điểm 9-10

Điểm 7-8

Điểm 5-6 Điểm dưới 5

SL
5
3

%
SL
%
SL %
SL
%
5B
27
18.5
8
29.6 14 51.9
0
0
5C
28
10.7
7
25
17 60.8

(thang điểm 10)
- Nhận thấy hiệu quả lớn của việc vận dụng tính tích hợp vào trong việc
dạy phân môn Tập làm văn nói chung, các bài văn tả cảnh nói riêng, tôi tiếp
tục vận dụng một cách tích cực các biện pháp đó và nó đã đem lại kết quả khả
quan cho môn Tiếng Việt. Cụ thể, kết quả tổng hợp sau khi kiểm tra giữa kì II
của phân môn Tập Làm văn là:
Điểm 9-10

Điểm 7-8

Điểm 5-6 Điểm dưới 5

14


5B
5C

27
28

SL
10
6

%
SL
%
37
11 40.8

Trong quá trình nghiên cứu thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này tôi
thấy:
Để việc dạy học Tập làm văn tốt quả không phải dễ mà nó đòi hỏi sự
đầu tư nghiên cứu, nhiệt tình của người thầy qua đó giờ Tập làm văn trở nên
nhẹ nhàng, gây hứng thú với học sinh từ đó mới giúp các em sản sinh ra
những bài văn hay, chân thực, giàu cảm xúc. Muốn vậy chúng ta cần sử nhiều

15


phương pháp dạy học sao cho phù hợp với đối tượng HS của mình, trong đó
sử dụng tính tích hợp khi dạy học phân môn này mang tính khả quan hơn cả.
Bởi phân môn Tập làm văn là phân môn được tích hợp các kiến thức và kĩ
năng của các phân môn khác trong môn Tiếng Việt. Chính vì vậy, để phân
môn Tập làm văn đạt hiệu quả cao thì việc dạy học các phân môn trong Tiếng
Việt đều phải đạt kết quả tốt. Người dạy phải biết liên kết xâu chuỗi các kiến
thức, kĩ năng có liên quan với nhau. Giúp người học biết vận dụng kiến thức,
kĩ năng đã học vào hoạt động thực hành. Trong quá trình dạy học, người dạy
phải biết bao quát toàn bộ nội dung chương trình môn học, nắm vững cấu trúc
và mục tiêu của chương trình, mục tiêu của từng chủ đề, từng đơn vị học và
từng bài học cụ thể. Tìm hiểu sự liên kết các kiến thức kĩ năng theo chủ đề,
theo cấu trúc nội dung chương trình để từ đó lập được những kế hoạch bài học
tốt nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học.
* Bài học kinh nghiệm
Qua thực tế áp dụng biện pháp tích hợp vào dạy học Tập làm văn, bản
thân tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
- Giáo viên cần nghiên cứu lựa chọn phương pháp dạy học tốt nhất phù
hợp với đối tượng HS của mình.
- Cần dạy học tốt tất cả các phân môn trong Tiếng Việt có như vậy mới
hỗ trợ học sinh học Tập làm văn một cách tốt nhất.

mong được sự đóng góp ý kiến quý báu của cấp trên và của đồng nghiệp để
SKKN của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG Yên Định, ngày 6 tháng 4 năm 2018
ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người viết

Nguyễn Thị Tâm

TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT
1
2

TÊN TÀI LIỆU
Hướng dẫn học Tiếng Việt 5, Tập 1A
(Sách thử nghiệm) – NXB Giáo dục
Việt Nam (năm 2014)
Tiếng Việt 5, tập 1, tập 2 – NXB Giáo
dục. (năm 2006)

TÁC GIẢ
Vụ Giáo dục Tiểu học –
Dự án mô hình Trường học
mới Việt Nam
Nguyễn Minh Thuyết (Chủ
biên)

DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ
CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Tâm
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên - Trường Tiểu học Định Liên
18


Cấp đánh
Kết quả
giá xếp
đánh giá
loại
TT
Tên đề tài SKKN
xếp loại
(Phòng,
(A, B,
Sở,
hoặc C)
Tỉnh...)
1.
Một số kinh nghiệm về việc Phòng GD
B
chuẩn bị của GV cho bài lên lớp
môn Toán lớp 5
2.
Kinh nghiệm rèn kĩ năng viết Phòng GD
C

Sở GD
C
tích hợp có hiệu quả khi dạy bài
luyện tập tả cảnh –Tiết 5-TLV 5
10.
Một số kinh nghiệm giúp học
B
sinh phân biệt nghĩa gốc và Phòng GD
nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa
khi dạy bài 6C, 7C, 8C Tiếng
Việt 5 chương trình VNEN

Năm học
đánh giá
xếp loại
1996
1997
1999
2002
2004
2008

2009
2013
2014
2017

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status