Trường THCS Mỹ Lợi Sáng kiến kinh nghiệm
Tên đề tài :
MỘT SỐ KINH NGHIỆM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG VÀ SÁNG
TẠO CỦA HỌC SINH TRONG MỘT GIỜ GIẢNG VĂN Ở TRƯỜNG THCS.
Tác giả: Trần Thị Cẩm
A.MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề:
1. Mơ tả thực trạng vấn đề:
Thực tiễn của việc áp dụng phương pháp lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần
hợp tác; tạo niềm tin niềm vui, hứng thú trong học tập; học sinh tìm tòi, khám phá, phát
hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thơng tin, tự hình thành tri thức, có năng lực và phẩm
chất của con người mới: tự tin, năng động, sáng tạo trong cuộc sống, để đáp ứng những
u cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai. Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản
thân học sinh và sự phát triển xã hội. Giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, tổ
chức cho học sinh hoạt động. Tuy nhiên thực tế đã diễn ra tại trường THCS Mỹ Lợi nói
riêng, một số nơi khó khăn, vùng sâu, vùng xa nói chung như thế nào?
Qua điều tra, tìm hiểu, tơi tiến hành tổng hợp kết quả về sự hứng thú của học sinh khi
học mơn Ngữ văn, kết quả đạt được như sau:
Thời
Gian
Lớp
Tổng
số
HS
Thường xun phát biểu Thỉnh thoảng có phát biểu Hầu như khơng phát biểu
K-G TB Y-K K-G TB Y-K K-G TB Y-K
SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL
Giữa
HKI
9A3 32 5 15.6 2 6.2 / / 4 12.6 7 21.9 2 6.2 / / 5 15.6 7 21.9
sách bài soạn trong khi chương trình thì thay đổi. Ví dụ: Trong chương trình giảm tải ở
đầu năm học 2011-2012, chúng ta khơng dạy văn bản: “Mã Giám Sinh mua Kiều”, thế mà
khi kiểm tra vở soạn bài của học sinh vẫn có trường hợp soạn trước bài này. Thứ hai là
học sinh soạn bài một cách máy móc, soạn bài theo cảm tính khơng cần đọc trước văn bản,
nghiên cứu nội dung bài học, khơng đọc u cầu của bài tập mà cứ soạn được bài, cứ làm
được bài tập. Và có trường hợp dẫn đến chép sai đầu đề, ví dụ: Bài" Các phương châm
hội thoại'', viết thành: "Các phương châm hội họa". Ba là học sinh khơng chịu đọc chú
thích về tác giả, tác phẩm, các từ khó khi giáo viên u cầu trình bày thì các em khơng trả
lời được (nếu khơng cho các em xem sách trên lớp).Thậm chí có một số ít học sinh đi học
khơng có sách giáo khoa, khơng chép bài, khơng soạn bài, khi giáo viên gọi kiểm tra bài
cũ liền mượn vở bạn để đối phó (tất nhiên là giáo viên phát hiện ra)…
- Đối với việc học bài cũ ở nhà: Học sinh có thói quen học đối phó: chỉ học nội dung
đầu hoặc nội dung cuối (nếu bài học gồm nhiều nội dung); học sinh học bài theo lối thuộc
lòng mà dân gian thường gọi là học vẹt; học sinh còn học bài theo lối học chay: học nội
dung mà giáo viên cho ghi ở lớp khơng buồn mở sách giáo khoa để xem dẫn chứng…
Lối học bài đối phó trên dẫn đến một số biểu hiện đáng buồn sau: khi giáo viên nêu câu
hỏi các em khơng xác định được nội dung để trả lời các em đọc lung tung, thậm chí trả lời
ln nội dung mà khơng u cầu, ví dụ: Nêu giá trị nghệ thuật đặc sắc của văn bản? học
sinh trình bày cả phần nội dung văn bản; hoặc học sinh khơng nhớ từ đầu tiên và nhờ giáo
viên nhắc hộ chữ đầu; hoặc học sinh chỉ trả lời được vài ý khơng biết cách phân tích nội
dung, dẫn chứng…
- Học sinh quen lối học thụ động: nhiều học sinh rất sợ giáo viên gọi đến tên mình khi
u cầu trả lời câu hỏi, u cầu đọc bài ( do kĩ năng đọc bài kém) ; một số học sinh sợ trả
lời sai thầy giáo và các bạn cười (do tính nhút nhát); thậm chí có một số em có khả năng
trả lời được câu hỏi nhưng khơng tự giác giơ tay vì sợ các bạn trêu là do xem sách giải;
hoặc chỉ giơ tay khi chờ một số bạn khác giơ tay trước hoặc chờ giáo viên gọi đến tên
mình mới chịu giơ tay.
GVTH: Trần Thò Cẩm Trang 2
Trường THCS Mỹ Lợi Sáng kiến kinh nghiệm
1.1.2. Học sinh chưa có phương pháp học tập phù hợp.
- Giáo viên chưa thật sự chú trọng bài tập khó cuối phần luyện tập, chưa chú trọng
quan tâm phần đọc thêm. Nhưng đây là phần có tác dụng bổ sung, mở rộng, nâng cao kiến
thức cho học sinh nhất là học sinh giỏi. Từ đó học sinh giỏi cũng khơng quan tâm đến
phần này.
1.2.3. Giáo viên chưa thật sự quan tâm đến việc kiểm tra học sinh.
- Đến lớp giáo viên ít chú trọng khâu kiểm tra nhất là những bài tập khó, những câu
hỏi khó dành cho học sinh khá giỏi.
- Học sinh khá giỏi nhiều lần tự giác làm bài tập khó, tự trả lời những câu hỏi nâng
cao trong sách giáo khoa nhưng khơng được giáo viên kiểm tra, phát huy tun dương. Từ
GVTH: Trần Thò Cẩm Trang 3
Trường THCS Mỹ Lợi Sáng kiến kinh nghiệm
đó học sinh khơng chịu tìm tòi, khơng chịu tự giác làm bài với những bài tập khó, do vậy
đến lớp khơng trả lời được những câu hỏi khó.
1.2.4.Hệ thống câu hỏi của một tiết dạy chưa thật phù hợp.
-Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trên thực tế chưa
thực sự được chú trọng đúng mức , vẫn còn tình trạng đọc- chép và diễn giảng, truyền thụ
một chiều mang tính áp đặt do giáo viên ngại khó, chưa thật sự đầu tư thời gian, cơng sức
vào hệ thống câu hỏi .
-Câu hỏi trong giờ dạy văn để dẫn dắt định hướng gợi mở cho học sinh còn chưa thật
phong phú, thiếu tính hệ thống, chưa phù hợp với các loại đối tượng học sinh. Các câu hỏi
chủ yếu nặng về câu hỏi phát hiện, còn thiếu loại câu hỏi nâng cao, câu hỏi giảng bình,
chưa sử dụng một cách linh hoạt, chính xác các loại câu hỏi cho phù hợp với nội dung
khác nhau của bài giảng.
-Có tình trạng rơi vào hỏi đáp liên miên, giờ dạy chỉ còn hỏi và đáp với những câu hỏi
q vụn vặt, phá vỡ hệ thống lơgíc của bài giảng khiến cho q trình tiếp thu tri thức của
học sinh khơng có một định hướng rõ rệt .
Tất cả những điều đó đã tạo nên những quan niệm, những cách làm ngược xi khơng
giống nhau, thành thử việc đổi mới phương pháp dạy - học theo hướng tích cực đã bộc lộ
nhiều hạn chế. Với thực trạng đó xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học văn là một vấn
đề bức xúc đặt ra với mỗi giáo viên đứng lớp.
lớp giáo viên khơng quan tâm, khơng kiểm tra nên các em khơng chú trọng mặt này .
1.2.6. Chưa quan tâm đúng mức đến các đối tượng học sinh
- Đa số giáo viên khi lên lớp đều có tâm lí sợ khơng đủ giờ nên khi tổ chức cho học
sinh đọc bài cứ gọi học sinh giỏi đọc, nêu câu hỏi cứ gọi học sinh khá-giỏi trả lời, thậm
chí khi kiểm tra bài cũ vẫn cứ phải chọn học sinh khá –giỏi (nhất là khi có người dự giờ)
nên học sinh trung bình trở xuống khơng được quan tâm, lâu ngày dẫn đến thói quen thụ
động. Khi tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm những học sinh này khơng thèm chú ý
tham gia thảo luận. Khi cần giáo viên hỏi đến thì học sinh khơng trả lời được.
- Giáo viên chưa phát huy hết tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh;
chưa thực sự quan tâm sâu sắc đến đặc điểm từng lớp học, đặc thù của bộ mơn Ngữ văn.
Chính vì vậy, việc bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức
vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh còn
hạn chế.
1.2.7. Giáo viên chưa quan tâm thích đáng đến việc đánh giá năng lực của học sinh
-Về vấn đề kiểm tra, đánh giá năng lực của học sinh sau mỗi đơn vị kiến thức ( mỗi
bài, chủ đề, chủ điểm…) chưa tốt. Giáo viên còn ngại khó, làm việc rập khn máy móc,
chưa có cái tâm sâu sắc đối với cái nghề của mình. Hãy ghi nhớ một câu nói nổi tiếng sau:
“Giáo dục tốt một người đàn ơng thì được một người, giáo dục tốt một người phụ nữ thì
được một gia đình, giáo dục tốt một người thầy giáo thì được cả một thế hệ”.
Ví dụ điển hình: Hiện nay, việc sử dụng cơng nghệ thơng tin khá phổ biến, nên giáo viên
cũng khơng cần phải đầu tư suy nghĩ, khi kiểm tra 15’hoặc 45’, thi HK lại coppy ngay một
đề trên mạng, thậm chí in ngay đề kiểm tra của năm học trước ( có sẵn trong giáo án) mà
khơng cần phải chỉnh sửa gì thêm. Khơng cần biết tình hình thực tế của lớp học; của xu
hướng giáo dục hiện nay như thế nào. Và học sinh thì cũng khơng cần học nhiều cũng như
tìm hiểu kiến thức ở các lĩnh vực khác để làm gì, chỉ cần mượn đề của anh chị năm trước
là làm bài được ngay. Vì thế mà thực tế cho thấy giáo viên ra đề kiểm tra có nội dung kiến
thức nằm ngay trong chương trình giảm tải của Bộ GD-ĐT, đây là một hiện tượng đáng
buồn.
1.2.8. Một số giáo viên khơng kiềm chế được cảm xúc bực dọc khi đứng lớp.
Khi học sinh trả lời câu hỏi sai, giáo viên có thái độ cau có, nạt nộ tỏ ý khơng hài lòng.
- Đối tượng: Học sinh lớp 9A
3
, 9A
4
và lớp 8A
2
, 8A
3
Trường THCS Mỹ Lợi.
- Nội dung: Phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong
một giờ giảng văn ở trường THCS.
II. Phương pháp tiến hành:
1. Cơ sở lí luận và thực tiễn:
* Cơ sở lí luận:
Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học bộ mơn Ngữ văn
ln được các nhà khoa học, nhà giáo quan tâm, nghiên cứu. Nhiều phương pháp, biện
pháp mới liên tục được đưa ra dù có khác nhau nhưng đều thống nhất khẳng định vai trò
của người học khơng phải là những bình chứa thụ động mà là những chủ thể nhận thức
tích cực trong q trình học tập. Như vậy dạy Văn là dạy cách tư duy, dạy cách đi tìm và
sự tự chiếm lĩnh lấy kiến thức cho học sinh. Đó là một định hướng giáo dục quan trọng
hiện nay. Tuy nhiên, để giúp học sinh có cách tư duy tốt và tự chiếm lĩnh tri thức khơng
phải là một việc đơn giản. Chính vì vậy việc tìm giải pháp để phát huy tính tích cực của
học sinh là một vấn đề quan trọng trong việc học Ngữ văn.
GVTH: Trần Thò Cẩm Trang 6
Trường THCS Mỹ Lợi Sáng kiến kinh nghiệm
* Cơ sở thực tiễn:
Bộ mơn Ngữ văn trong nhà trường là một trong những bộ mơn có dung lượng kiến
thức và có số tiết dạy nhiều nhất. Đây là mơn học có vai trò quan trọng trong việc hình
thành nhân cách học sinh, góp phần giúp các em nhận ra cái tốt cái đẹp của cuộc sống để
từ đó sống tốt hơn, đẹp hơn. Thế nhưng qua thực tế, chúng ta thấy rằng ở nhiều địa
8A2 làm đối chứng những kinh nghiệm trong q trình dạy học. Thực hiện đề tài này, bản
thân tơi có một mong muốn tìm ra những kinh nghiệm phát huy tác dụng của phương pháp
dạy học mới, lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo, rèn
luyện phương pháp tự học của học sinh trong một giờ giảng văn.
*.Phương pháp điều tra:
GVTH: Trần Thò Cẩm Trang 7
Trường THCS Mỹ Lợi Sáng kiến kinh nghiệm
Sau khi thực hiện một số tiết dạy ở các lớp: 8A2, 8A3, 9A3, 9A4, chúng tơi tiến hành
phát phiếu đến từng học sinh trong lớp để cá nhân học sinh lớp điền những thơng tin mà
tơi cần, mục đích để thẩm định thực tế. (Học sinh đánh chéo vào cột mà bản thân cho là
phù hợp)
Trong học tập:
Họ và tên Lớp Thường xun phát biểu Thỉnh thoảng có phát biểu Hầu như khơng phát biểu
*. Phương pháp phân tích, tổng hợp:
Sau khi điều tra xong trên phiếu, tơi tiến hành thu hồi phiếu và tiến hành phân tích,
tổng hợp kết quả.
*. Phương pháp quan sát:
Qua q trình giảng dạy và dự giờ đồng nghiệp mà tơi phân tích thực tế đã diễn ra
như thế nào, thầy sử dụng phương pháp dạy học ra sao, thực tế học sinh học tập như thế
nào? Từ đó đối chiếu với u cầu phương pháp dạy học mới mà phân tích mặt đúng-sai ,
mặt tích cực- mặt hạn chế…
*. Phương pháp thực nghiệm
Sau khi thống nhất một số kinh nghiệm chúng tơi tiến hành chọn lớp 9A3,9A4 để
thực nghiêm nhằm thẩm định lại phiếu tự đánh giá của học sinh (có sự chứng kiến của
giáo viên tổ văn) và đến giai đoạn cuối học kì I cũng chọn lớp này thực nghiệm để làm đối
chứng. Sau đó thống kê tỉ lệ phần trăm đối chiếu với lần trước để đi đến kết luận.
a. Thời gian tạo ra giải pháp:
*Thời gian tiến hành: 03 năm
-Định hướng khái qt vấn đề cần nghiên cứu: Từ 9/2009 đến tháng 10/2011.
tự học của mỗi học sinh. Nhu cầu và niềm tin tự học có ý nghĩa quan trọng đối với nhu
cầu tự học nói chung và rèn luyện kĩ năng tự học nói riêng của mỗi học sinh. Học sinh
khơng thể tự học, và càng khơng thể rèn luyện kĩ năng tự học nếu như ở các em thiếu đi sự
mong muốn, khát vọng tự mình chiếm lĩnh, mở rộng đào sâu kiến thức ở bản thân, thiếu đi
niềm tin vào chính mình.
Vì thế giáo viên cần giúp cho học sinh thấy vai trò to lớn của việc tự học. Thường xun
giao cho các em nhiệm vụ học tập và giúp các em tự giải quyết các nhiệm vụ đó.
1.1.2. Hướng dẫn cho học sinh tự chuẩn bị bài ở nhà:
- Giáo viên phải dành một khoảng thời gian thỏa đáng cho khâu hướng dẫn học sinh
tự chuẩn bị bài ở nhà (từ 3-5 phút). Khắc phục tình trạng hướng dẫn qua loa, sơ sài thường
là do khơng chủ động thời gian trên lớp. Cần dặn dò học sinh một cách chi tiết từ việc đọc
văn bản, đến việc đọc chú thích (tác giả, tác phẩm, những từ khó cần chú ý) soạn bài theo
những câu hỏi nào, câu hỏi nào là câu hỏi khó cần đặc biệt lưu ý. Đối với học sinh khá-
giỏi lưu ý cho các em tự giác làm bài tập khó, câu hỏi khó sau khi đã được hướng dẫn trên
lớp.
- Ngồi ra cần lưu ý cho các em về cách trình bày vở soạn bài và chữ viết. Mặt này
giáo viên bộ mơn thường ít quan tâm mà chỉ dừng lại ở việc nhắc học sinh soạn đúng bài
theo phân phối chương trình.
- Rèn luyện phương pháp tự học và tích cực học tập mơn Ngữ văn của học sinh:
giúp học sinh sử dụng SGK, SBT và các tư liệu tham khảo một cách có ý thức và hiệu
quả.
- Cách kiểm tra vở soạn bài trên lớp: Việc kiểm tra vở soạn được thực hiện bằng
nhiều hình thức, nhiều nội dung khác nhau: kiểm tra vở bài soạn kết hợp với kiểm tra bài
cũ, kiểm tra độc lập vở bài soạn, thu vở bài soạn về nhà,… Khi kiểm tra cũng cần phải chú
GVTH: Trần Thò Cẩm Trang 9
Trường THCS Mỹ Lợi Sáng kiến kinh nghiệm
ý từng đối tượng học sinh. Đối với học sinh yếu- kém kiểm tra xem các em có chép bài
khơng, có soạn bài khơng, việc trình bày vở bài soạn như thế nào, soạn đến mức độ nào?
Đối với học sinh khá-giỏi, ngồi u cầu chung kiểm tra xem các em có tự trả lời được
những câu hỏi khó hay khơng, mức độ tự giải quyết các câu hỏi khó, các bài tập khó ra
Để từ đó hình thành cho HS có thói quen cảm thụ, suy ngẫm thơ.
+ Hình thành thói quen liên tưởng, liên hệ với những vấn đề, những tác phẩm khác
có liên quan đến những giá trị cơ bản trong tác phẩm đang học.Ví dụ khi dạy bài: Bài thơ
về tiểu đội xe khơng kính-Phạm Tiến Duật, HS sẽ liên tưởngđến hình ảnh người lính cụ
Hồ trong kháng chiến chống Mỹ qua bài thơ Đồng chí-Chính Hữu.
GVTH: Trần Thò Cẩm Trang 10
Trường THCS Mỹ Lợi Sáng kiến kinh nghiệm
+ Cảm nhận tác phẩm theo nhiều chiều, nhiều khía cạnh khơng máy móc thụ động,
phải tập trung suy nghĩ những điều mới lạ ở tác phẩm khi cảm nhận nó qua sự dẫn dắt, gợi
ý của thầy cơ; nghĩa là phải có sự cảm nhận của riêng mình.
+ Cảm nhận tác phẩm theo đặc trưng thể loại-kiểu văn bản, đặc trưng thi pháp.
- Rèn luyện tích tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh ở giờ giảng văn khơng
chỉ dừng lại ở việc thực hiện các thao tác trên mà nó còn đòi hỏi ở cả giáo viên lẫn học
sinh một cách hoc, cách dạy hợp lí, khoa học, linh hoạt, khơng phải bài nào cũng dùng
các phương pháp dạy học như nhau theo kiểu rập khn máy móc. Phải tùy thuộc vào tác
phẩm cụ thể, hồn cảnh sáng tác, thể loại, đặc trưng thi pháp của tác phẩm.
-Để giúp học sinh có được sự sáng tạo trong một giờ giảng văn, giáo viên nên
hướng dẫn học sinh đi theo con đường thi pháp học ( thuật ngữ “thi pháp” được hiểu theo
nghĩa rộng, đó là những đặc điểm về nội dung, nghệ thuật, cách lựa chọn đề tài, cách biểu
hiện chủ đề, tư tưởng, phương pháp, phong cách nghệ thuật…của một tác phẩm văn học
hoặc của một tác giả; từ đó thấy rõ sự khác biệt giữa tác phẩm này với tác phẩm kia. Ví dụ
thi pháp Truyện Kiều, thi pháp thơ Đường…). Điều này giúp học sinh hiểu đúng, nhanh
chóng phát hiện ra những điểm sáng thẩm mỹ ở tác phẩm.Muốn vậy, người thầy phải nắm
và vận dụng linh hoạt, vững vàng lí luận thi pháp trong q trình giảng văn.
Ví dụ: Khi phân tích thơ, nên đi từ mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình hoặc hình
tượng trữ tình trong tác phẩm. Chẳng hạn khi tìm hiểu bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe
khơng kính”-Phạm Tiến Duật, ta có thể phân tích hình tượng những chiếc xe khơng kính
và hình tượng những chiến sĩ lái xe. Khi tìm hiểu bài thơ “ Sang thu”-Hữu Thỉnh ta phân
tích theo mạch trữ tình –chính luận của nhân vật trữ tình trong bài thơ.
Với văn xi, có tác phẩm giảng bằng thi pháp nhân vật. Ví dụ : Khi dạy văn bản
Vì vậy, để nâng cao hiệu quả của một giờ giảng văn, giáo viên cần phải thiết kế hệ
thống câu hỏi đảm bảo các u cầu sau:
Các câu hỏi phải đảm bảo nội dung kiến thức u cầu của bài học. Hệ thống câu hỏi
phải bám sát mục đích u cầu và kiến thức trọng tâm bài học. Nếu bám sát mục đích u
cầu và kiến thức trọng tâm thì hệ thống câu hỏi thiết kế sẽ đúng hướng, vận hành một giờ
văn sẽ có hiệu quả. Xa rời u cầu của bài học, hệ thống câu hỏi sẽ thừa thải, chơng
chênh, vơ nghĩa dẫn học sinh xa rời tác phẩm.
Câu hỏi phải có tính hệ thống , các câu hỏi trong bài dạy học văn phải đảm bảo trình
tự hợp lý khoa học. Cả bài học là một hệ thống khơng rời rạc, chắp vá, gặp đâu hỏi đó.
Muốn làm tốt được việc này, giáo viên phải xác định được bố cục bài giảng một cách rõ
ràng, các câu hỏi sẽ đi theo bố cục ấy. Nhìn vào hệ thống câu hỏi người ta có thể hình
dung được nội dung tác phẩm, kiến thức trọng tâm , con đường cảm thụ văn chương của
thầy và trò như thế nào? Cần tránh những câu hỏi q vụn vặt, q chi tiết sẽ phá vỡ tính
hệ thống. Các câu hỏi chỉ phát huy được ý nghĩa, sức mạnh khi được đặt trong hệ thống .
Câu hỏi phải có vấn đề. Câu hỏi cần phải được hiểu là một loại bài tập để tạo dựng
những tình huống có vấn đề buộc học sinh phải suy nghĩ, động não để chủ động trong
việc tiếp thu tri thức. Các câu hỏi phải lần lượt bóc tách từng phần nội dung kiến thức của
bài học. Tránh những câu hỏi lan man, vơ nghĩa, hỏi mà khơng có vấn đề, khơng có tình
huống để giải quyết.
Câu hỏi phải phong phú phù hợp với đối tượng học sinh. Các câu hỏi phải đa dạng
đầy đủ chủng loại: có câu hỏi khó, có câu hỏi dễ, có câu hỏi cụ thể chi tiết, có câu hỏi tổng
hợp khái qt … để đối tượng học sinh nào cũng có cơ hội được làm việc, được trả lời.
Tránh tình trạng chỉ dồn vào một số em học sinh khá giỏi. Trong giờ văn để học sinh làm
việc có hiệu quả, giáo viên phải lường trước được các tình huống xảy ra. Nếu học sinh
khơng trả lời được, hoặc trả lời khơng đúng hướng thì giáo viên phải sử dụng một loạt câu
hỏi phụ để gợi mở. Loại câu hỏi gợi mở này tuỳ thuộc vào bản lĩnh ứng xử của giáo viên
trong từng tình huống cụ thể.Với loại câu hỏi này giáo viên phải hết sức chủ động linh
hoạt, phải nắm vững vấn đề và xử lý nhanh, nhạy.
1.2. Kinh nghiệm giảng dạy trên lớp:
1.2.1. Kiểm tra sự chuẩn bị bài ở nhà của học sinh:
cũng như ở lứa tuổi HS THCS giáo viên đưa ra những u cầu với mức độ đơn giản hơn.
Ví dụ: Khi dạy bài xong bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh giáo viên hỏi. Em có ý kiến
như thế nào về nhận xét: Hữu Thỉnh thật khác với các nhà thơ khác.
Có rất nhiều HS đưa ra nhiều ý kiến khác nhau:
1.Có lẽ mùa thu của Hữu Thỉnh vào lúc giao mùa. Trong làng thơ dân tộc, đã và sẽ
có nhiều bài thơ hay, nhưng sẽ chẳng ai biết mà lại qn được một chớm thu sang của
Hữu Thỉnh-một mùa thu nhẹ nhàng, nữ tính trơng qua như một cơ thơn nữ mộc mạc mà
sao lại đằm thắm khó qn đến thế! Vì thế mà ta có thể khẳng định: Hữu Thỉnh thật khác
với các nhà thơ khác
2.Bài thơ mang hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền q nhỏ. Tín hiệu đầu
tiên để tác giả nhận ra mùa thu là hương ổi mùi hương q mộc mạc phả trong gió thoảng
bay trong khơng gian …Khơng phải là sắc mơ phai hay hình ảnh con nai vàng ngơ ngác
GVTH: Trần Thò Cẩm Trang 13
Trường THCS Mỹ Lợi Sáng kiến kinh nghiệm
mà là hương ổi thân quen nơi vườn mẹ đã đánh thức những giác quan tinh tế của nhà
thơ…Đó cùng chính là nét riêng của nhà thơ.
Hoặc khi dạy phần thơ mới chương trình Ngữ văn 8 GV có thể hỏi: Em hiểu như
thế nào là thơ mới?
1.Có những câu thơ gần như lời nói bình thường, khơng giống thi pháp thơ Đường
2.Thơ mới hình ảnh táo bạo, chữ dùng trừu tượng, có sức mạnh gợi hình, gợi cảm
để diễn đạt nhừng cảm giác tinh vi, nhừng tình ý nồng nàn của tác giả….
Sau khi học sinh đưa ra các ý kiến GV khẳng định từng ý kiến một, tun dương
tinh thần ham hiểu biết của các em, đồng thời nhận xét, sửa chữa, bổ sung.
- Phương pháp thảo luận nhóm: Hoạt động nhóm giúp cho học sinh hiểu sâu sắc
thấu đáo giá trị của tác phẩm, có cách tiếp cận độc đáo, sáng tạo, đảm bảo mỗi học sinh
đều được đối thoại, được tơn trọng, bình đẳng trước tác phẩm nhằm phát triển tư duy sáng
tạo của học sinh. Trong thảo luận nhóm giáo viên có thể linh hoạt theo nhiều mơ hình ví
dụ như : Làm việc theo cặp hoặc làm việc theo nhóm 6-8 học sinh, bố trí mỗi nhóm hai
bàn kề nhau trong một dãy. Mỗi nhóm cử hai em làm nhóm trưởng và nhóm phó. Hai em
này phải có năng lực học tập cũng như năng lực điều hành để được cả nhóm tin cậy. Sau
(Ứng với mỗi câu hỏi là một nhánh trên BĐTD)
4. Nhận xét về nhân vật?
Sơ đồ minh họa
Sau khi HS vẽ xong BĐTD vào vở, GV cho một số em ( nên gọi HS trung bình, yếu)
nhìn BĐTD trình bày nội dung bài học trước lớp và các em HS khác bổ sung. GV nhận
xét, sửa chữa, kết luận qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng,
tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của HS.
Ví dụ: Dùng BĐTD để củng cố kiến thức sau tiết học
Tiết 36 : Truyện Kiều của Nguyễn Du
( NV9-Tập 1)
Khi dạy xong bài học, GV cho cá nhân HS ( hoặc nhóm HS) vẽ BĐTD để tổng kết nội
dung kiến thức. Sau khi HS vẽ xong sẽ cho một HS khác, nhóm khác nhận xét, bổ sung
….Có thể cho HS vẽ thêm các đường nhánh khác và ghi thêm các chú thích rồi thảo
luận chung trước lớp để hồn thiện, nâng cao kĩ năng vẽ BĐTD cho các em.
GVTH: Trần Thò Cẩm Trang 15
Trường THCS Mỹ Lợi Sáng kiến kinh nghiệm
Tuy nhiên trong q trình áp dụng phương pháp dạy học mới này người giáo viên gặp
phải khơng ít khó khăn:
-Khi vẽ BĐTD gồm nhiều nhánh trên bảng đơi lúc chữ viết nhỏ, rẽ theo nhiều hướng
học sinh sẽ khó quan sát .
-Chỉ tập trung vẽ BĐTD để khai thác một đơn vị kiến thức mới về nội dung, chưa chú
trọng khai thác một đơn vị kiến thức mới về nghệ thuật.
-Đối với học sinh yếu, kém các em thiếu năng lực trình bày cũng như khái qt bài học,
nên khi trả lời bài cũ dựa vào BĐTD các em sẽ trình bày khơng được sn sẽ, thiếu logic,
khơng dẫn chứng, thậm chí khơng trả lời được.
Vậy để sử dụng thành cơng phương pháp này , giáo viên cần chú trọng đến các nội dung
sau:
-GV khơng nên coi BĐTD là một cơng cụ vạn năng, cẩn trọng khi áp dụng BĐTD vào
dạy bài mới, bởi những bài có nội dung dài và khó, nếu u cầu HS vẽ BĐTD tại lớp thì
sẽ khơng phù hợp.
lệ học sinh thường xun phát biểu xây dựng bài (nhất là học sinh từ trung bình trở
xuống). Nếu học sinh có tiến bộ vượt bậc có thể u cầu giáo viên chủ nhiệm đề nghị nhà
trường tun dương trước cờ , thơng báo trong chương trình phát thanh măng non, khen
ngợi trong cuộc họp phụ huynh.
2. Khả năng áp dụng:
-Thời gian tiến hành: 03 năm
-Khả năng áp dụng:
Sau khi áp dụng kinh nghiệm nêu trên chúng tơi tiến hành phát phiếu điều tra thẩm
định, cho thấy kết quả khả quan hơn - tích cực, chủ động học tập của học sinh đã được
phát huy rõ rệt thể hiện qua bảng so sánh sau:
*Ở các lớp khơng thực nghiệm:
Thời
Gian
Lớp
Tổng
số HS
Thường xun phát biểu Thỉnh thoảng có phát biểu Hầu như khơng phát biểu
K-G TB Y-K K-G TB Y-K K-G TB Y-K
SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL
8A2 42 10 23.8 5 11.9 / / 9 21.4 12 28.6 / / / / 2 4.8 4 9.5
GVTH: Trần Thò Cẩm Trang 17
Trường THCS Mỹ Lợi Sáng kiến kinh nghiệm
Thời
Gian
Lớp
Tổng
số HS
Thường xun phát biểu Thỉnh thoảng có phát biểu Hầu như khơng phát biểu
K-G TB Y-K K-G TB Y-K K-G TB Y-K
SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL
Tb↑ : Khối 9 tăng 6,1% Tb↑. Có 32 học sinh đạt học sinh giỏi cấp trường (HKI) và 02
học sinh đạt học sinh giỏi cấp huyện lớp 9 ( 01 giải 3 và 01 giải khuyến khích).
Đồng thời, một số kĩ năng như nghe, nói, đọc, viết ở học sinh trung bình, yếu có sự
chuyển biến rõ rệt: HS biết lắng nghe tiếp thu kiến thức; nhìn BĐTD có thể diễn đạt được
nội dung bài học; đọc trơi chảy hơn và chữ viết cũng rõ ràng hơn.
C. KẾT LUẬN
1. Những điều kiện, kinh nghiệm áp dụng, sử dụng giải pháp.
GVTH: Trần Thò Cẩm Trang 18
Trường THCS Mỹ Lợi Sáng kiến kinh nghiệm
Qua chương trình giáo dục phổ thơng ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ-
BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bơ trưởng BGDĐT đã nêu: “ Phải phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ đơng, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng mơn học, đặc điểm đối tượng
học sinh, điều kiện của lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng
hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem
lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm của học sinh” , được sự chỉ đạo trực tiếp của BGH
nhà trường, Phòng GD, tập thể GV Ngữ văn Trường THCS Mỹ Lợi đã đầu tư nghiên cứu
phương pháp dạy học mới nhằm phục vụ tốt hơn nữa cho việc tổ chức dạy và học.
2. Những triển vọng trong việc vận dụng và phát triển giải pháp
Qua thực nghiệm chúng tơi nhận thấy ý thức tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của
học sinh đã được phát huy, có hiệu quả. Học sinh có hứng thú trong học bộ mơn Ngữ văn
mà cụ thể là giờ giảng văn. Việc chuẩn bị bài cũ cũng như bài mới được tiến hành thường
xun, liên tục, thể hiện qua việc kiểm tra bài cũ; qua khơng khí lớp học ở tiết thao giảng
cũng như các tiết học khác và đặc biêt là qua các tiết thao giảng, hội giảng.
Cách tổ chức phương pháp dạy học mới của giáo viên linh hoạt, phù hợp hơn. Học sinh
thích thú hơn khi học phân mơn này. Các em thảo luận nhóm tích cực, hạn chế ồn ào, học
sinh yếu cũng trả lời đảm bảo nội dung, u cầu của vấn đề. Các em tích cực giơ tay phát
biểu xây dựng bài, giờ học sơi nổi hơn, giáo viên phấn khởi và tích cực hơn.
Đặc biệt học sinh rất thích thú khi vận dụng phương pháp vẽ BĐTD vào bài học, các
em biết cách sử dụng từ khóa khái qt nội dung vấn đề. Học sinh trung bình, yếu hầu như
đều thuộc bài cũ vì thơng qua BĐTD các em cảm thấy nội dung bài ngắn, hình ảnh, màu
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUN MƠN
…………………………………………
…………………………………………
………………………………………….
…………………………………………
THẨM ĐỊNH CỦA NHÀ TRƯỜNG
……… ………………………………………
… ……………………………………………
……………………………………………………
……………………………………………………
\
GVTH: Trần Thò Cẩm Trang 21
Trường THCS Mỹ Lợi Sáng kiến kinh nghiệm
MỤC LỤC
NỘI DUNG TRANG
A.MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
1.Mơ tả thực trạng vấn đề
2.Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới
3.Phạm vi nghiên cứu của đề tài
II.Phương pháp tiên hành
1.Cơ sở lí luận và thực tiễn
2.Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp
1
6
6
6