ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
BAN CHẤP HÀNH HUYỆN ĐIỆN BÀN
----------
THÁNG 6/2008
Chuyên đề 1:
BỐI CẢNH TÁC ĐỘNG, THỜI CƠ, THÁCH THỨC, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
ĐỐI VỚI CÔNG TÁC ĐOÀN VÀ PHONG TRÀO THANH THIẾU NHI
TRONG TÌNH HÌNH MỚI
-------------------------Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan, là hệ quả tất yếu
của quá trình phát triển lực lượng sản xuất, của phân công lao động quốc tế và phát triển
của nền kinh tế thị trường. Đây cũng là sản phẩm tất yếu của văn minh nhân loại, mà không
một quốc gia nào đứng ngoài. Trong quá trình đó, mỗi quốc gia vừa có thời cơ, vừa có thách
thức; vừa thúc đẩy hợp tác, đồng thời có cả sức ép cạnh tranh, đòi hỏi phải chủ động trong
hội nhập, có lộ trình, bước đi thích hợp, phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội, truyền thống
văn hoá, an ninh – quốc phòng… của đất nước, của dân tộc mình trong quá trình phát triển.
I-BỐI CẢNH TÁC ĐỘNG, THỜI CƠ, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC
ĐOÀN VÀ PHONG TRÀO THANH THIẾU NHI TRONG TÌNH HÌNH MỚI
1- Bối cảnh quốc tế, trong nước tác động đến tình hình thanh niên, công tác Đoàn và
phong trào thanh thiếu nhi
1.1- Bối cảnh Quốc tế
* Thuận lợi
- Trong những năm tới, trên thế giới, hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn.
Trong những năm đầu thế kỷ XXI, mặc dù tình hình thế giới rất phức tạp, nhất là sau sự
kiện 11-9-2001 ở Mỹ, nhưng sự vận động của những mâu thuẫn chủ yếu của thời đại cho
thấy, không phải các thế lực thù địch muốn làm gì cũng được, đang gặp nhiều khó khăn và
buộc phải có sự điều chỉnh nhất định trong thực hiện chiến lược toàn cầu. Các nước lớn
đang tranh thủ thời cơ vươn lên mạnh mẽ. Lợi ích đan xen của các nước lớn tạo cục diện
vừa đấu tranh, vừa hợp tác.
- Quá trình toàn cầu hoá kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều
yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang
phát triển. Cạnh tranh kinh tế- thương mại, giành giật các nguồn tài nguyên, năng lượng thị
trường, nguồn vốn, công nghệ giữa các nước ngày càng gay gắt.
- Nhiều vấn đề toàn cầu, bức xúc đòi hỏi các quốc gia và các tổ chức quốc tế phối
hợp giải quyết: khoảng cách chênh lệch giữa các nhóm nước giàu và nước nghèo ngày càng
lớn; sự gia tăng dân số và các luồng dân di cư; tình trạng khan hiếm nguồn năng lượng, cạn
kiệt tài nguyên, môi trường tự nhiên bị hủy hoại; khí hậu diễn biến ngày càng xấu, kèm theo
những thiên tai khủng khiếp; các dịch bệnh lớn, các tội phạm xuyên quốc gia có chiều
hướng gia tăng.
- Khu vực châu Á- Thái Bình Dương và Đông Nam Á tiềm ẩn những yếu tố gây mất
ổn định, như tranh chấp về ảnh hưởng và quyền lực, về biên giới, lãnh thổ, biển đảo, tài
nguyên giữa các nước lớn. Một số nước có nguy cơ bất ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội.
1.2- Bối cảnh trong nước
* Thuận lợi
- Những thành quả của 20 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng làm cho
thế và lực nước ta lớn mạnh hơn nhiều so với trước. Tính thu nhập bình quân đầu người,
nước ta đã đạt mức của các nước đang phát triển có thu nhập thấp.
- Việc mở rộng quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, giữ
vững môi trường hòa bình tạo thêm nhiều thuận lợi cho nhân dân ta đổi mới, phát triển kinh
tế xã hội với tốc độ nhanh hơn. Đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 168 nước
trên thế giới; có quan hệ bình thường với tất cả các nước lớn và trung tâm kinh tế - chính trị
lớn trên thế giới, đưa các quan hệ trên vào xu thế ổn định lâu dài dựa trên các thoả thuận đã
được ký kết.
Việt Nam đã là thành viên và tích cực đóng góp vào hoạt động của các tổ chức quốc
tế, khu vực như: Uỷ viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, ASEAN,
APEC, ASEM, tham gia các cam kết xây dựng thị trường tự do khu vực ASEAN (AFTA);
trở thành viên Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
* Khó khăn, thách thức
- Bên cạnh những thành tựu đạt được, nước ta đang đứng trước nhiều thách thức lớn,
Bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước tác động cả tích cực và tiêu cực đan xen với
nhau tác động đến tình hình tư tưởng, đạo đức, lối sống của thanh niên, công tác tập hợp,
đoàn kết, giáo dục thanh thiếu nhi trong những năm tới.
2- Thời cơ đối với công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi trong tình hình
mới.
- Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đánh giá đúng vị trí, vai trò quan trọng của thanh
niên và công tác thanh niên trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Đảng xác định
thanh niên là người chủ hiện tại và tương lai của đất nước, là đội quân xung kích cách mạng
trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xuất phát từ quan điểm đó, Đảng, Nhà
nước, các cấp, các ngành và toàn xã hội luôn dành sự quan tâm, chăm lo đặc biệt đối với
thanh niên và tổ chức Đoàn, nhất là trong thời kỳ phát triển đất nước và hội nhập kinh tế
quốc tế. Theo chương trình làm việc của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá X), kỳ họp
thứ 7 (giữa năm 2008) sẽ bàn và ra Nghị quyết về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối
với công tác thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá".
Nhà nước tăng cường quản lý Nhà nước về công tác thanh niên thông qua việc triển
khai, thực hiện Luật thanh niên, Chiến lược phát triển thanh niên đến năm 2010 và nhiều
chính sách thích hợp khác nhằm bồi dưỡng, phát huy thanh niên và tạo điều kiện về cơ sở
vật chất, phương tiện cho công tác thanh niên; quá trình xã hội hóa công tác thanh niên ngày
càng được triển khai rộng rãi tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để bồi dưỡng và phát huy
thanh niên.
- Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, phấn
đấu đưa nước ta sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để Việt Nam cơ bản trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 là điều kiện, môi trường
thuận lợi để thanh niên thể hiện tài năng, sức trẻ, cống hiến cho đất nước. Với đường lối
đúng đắn của Đảng, đất nước tiếp tục ổn định, vị thế không ngừng tăng lên đã tạo cơ hội lớn
4
cho thanh niên học tập, tiếp cận văn minh nhân loại, nâng cao tri thức, nhất là những thành
tựu khoa học – công nghệ. Đồng thời, những thành tựu to lớn của đất nước đã đạt được qua
thanh niên tham gia các hoạt động gây mất ổn định tình hình an ninh chính trị đất nước.
Tình trạng thanh niên học sinh, sinh viên bị tác động, lôi kéo vào các hoạt động phức
tạp liên quan đến an ninh, trật tự tăng lên (năm 2007 diễn ra 89 vụ với hơn 1000 lượt sinh
viên tham gia gây rối trật tự công cộng bị xử lý); đáng chú ý là hoạt động tuyên truyền, phát
triển đạo Tin lành trái pháp luật trong học sinh, sinh viên gia tăng; có sinh viên tham gia vào
nhóm chống đối của các thế lực phản động trong nước. Công tác quản lý lưu học sinh Việt
Nam ở nước ngoài còn buông lỏng, các thế lực thù địch và bọn phản động lưu vong tìm
cách mua chuộc, khống chế sinh viên tham gia các hoạt động chống phát Việt Nam.
- Nền kinh tế đất nước vẫn trong tình trạng kém phát triển, sức cạnh tranh thấp, nguy cơ
tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Những vấn đề xã hội của thanh
niên về học tập, nghề nghiệp, việc làm, thu nhập, sức khỏe, nhu cầu vui chơi, giải trí, hôn nhân,
gia đình; những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân thực dụng, thờ ơ chính trị trong một bộ phận
thanh niên chậm được khắc phục. Sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế, sự phân hoá giàu nghèo
ngày càng gia tăng, những tiêu cực và tệ nạn xã hội, quá trình đẩy mạnh nền kinh tế thị trường
và hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo ra những thách thức đối với thanh niên về trình độ học vấn,
chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề, bản lĩnh và tác động sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm, lối sống
5
của thanh niên. Tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn ra ở nhiều lĩnh vực; tác động của mặt
trái công nghệ thông tin sẽ là lực cản ảnh hưởng đến sự phát triển của thế hệ trẻ.
- Cùng với sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu nền kinh tế theo hướng phát triển khu
vực công nghiệp, dịch vụ và thu hẹp khu vực nông nghiệp, kéo theo sự chuyển dịch lao
động trẻ, cơ cấu xã hội, nghề nghiệp của thanh niên. Số thanh niên từ nông thôn ra thành
phố, các khu công nghiệp, các trung tâm kinh tế; thanh niên lao động tự do, thanh niên thiếu
việc làm, thu nhập không ổn định vẫn ngày càng có chiều hướng gia tăng. Theo kết quả
điều tra lao động, việc làm của Tổng cục thống kê- Bộ Lao động Thương binh và xã hội
năm 2006, dân số thanh niên nước ta hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp là
53,4%; công nghiệp xây dựng 24,2%; dịch vụ 22,4% và dự báo xu hướng chuyển dịch cơ
cấu lao động trên sẽ tiếp tục tăng. Trong đó, số thanh niên làm việc trong các thành phần
chiếm 70% người nghiện có hồ sơ kiểm soát.
II- NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI CÔNG TÁC ĐOÀN VÀ PHONG
TRÀO THANH THIẾU NHI TRONG THỜI GIAN TỚI.
1- Hiệu quả giáo dục của Đoàn chưa cao. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng của
Đoàn chưa thật phù hợp với từng đối tượng thanh niên. Các hoạt động định hướng, giáo dục
đạo đức, lối sống chưa tác động có hiệu quả đến đối tượng thanh thiếu niên chậm tiến.
Phương thức giáo dục của Đoàn chậm đổi mới, chưa đáp ứng nhu cầu, tâm lý của đoàn
6
viên, thanh niên. Đoàn chưa thật sự tiếp cận để định hướng, hướng dẫn thanh niên trước
những xu hướng, trào lưu mới. Công tác tư tưởng và định hướng dư luận xã hội trong thanh
niên còn hạn chế; việc nắm bắt tình hình, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của thanh niên
niên công nhân trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, thanh niên địa bàn dân cư, trí
thức trẻ không chắc chắn.
Khắc phục những vấn đề trên, để Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thực sự là trường học xã
hội chủ nghĩa của thanh niên Việt Nam, là người trực tiếp giúp Đảng thực hiện nhiệm vụ
công tác thanh niên, phát động và tổ chức phong trào hành động cách mạng của thanh niên,
là cầu nối giữa thanh niên với Đảng, phụ trách Đội Thiếu niên tiền phong. Trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi phải “Xây dựng Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là đội hậu bị tin cậy của Đảng, là hạt
nhân chính trị của phong trào thanh niên”. Đồng thời, phải mở rộng và củng cố mặt trận
đoàn kết tập hợp thanh niên và xây dựng Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh vững
mạnh. Chức năng cơ bản phân biệt Đoàn với các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ
là trường học XHCN của thanh niên, đội hậu bị tin cậy của Đảng. Nhiệm vụ chính trị hàng
đầu của Đoàn là giáo dục lý tưởng cộng sản cho thanh niên, góp phần "bồi dưỡng thế hệ
cách mạng cho đời sau". Do vậy, trong mỗi hoạt động của Đoàn đều phải có mục tiêu và
biện pháp để góp phần nâng cao nhận thức chính trị của đoàn viên, thanh niên.
2- Vai trò của Đoàn trong bảo vệ quyền lợi, chăm lo lợi ích chính đáng của thanh
niên chưa đáp ứng yêu cầu đề ra, đòi hỏi Đoàn phải gắn bó và mở rộng ảnh hưởng hơn
khoa học, nghệ thuật. Đoàn phải chủ động khai thác, sử dụng các phương tiện hiện đại, như:
truyền hình, internet để giáo dục, định hướng hoạt động cho thanh thiếu nhi. Cần phải xác
định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cấp, đơn vị để các hoạt động của Đoàn không bị phân
tán, tập trung mọi nguồn lực thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Đoàn. Cán bộ Đoàn cần
nghiên cứu chuẩn bị tốt nội dung cho mỗi buổi sinh hoạt, mỗi hoạt động để đảm bảo sự hấp
dẫn và hiệu quả, phù hợp với đối tượng của mình. Cần tham khảo các tài liệu hướng dẫn,
các phương tiện thông tin đại chúng, tham khảo ý kiến của những người lớn tuổi tại địa
phương, đơn vị, phát huy được trí tuệ tập thể của đoàn viên, thanh niên trong quá trình
chuẩn bị và triển khai các hoạt động. Cần tìm hiểu, đánh giá được phản ứng, nhận xét của
thanh niên sau mỗi hoạt động để không ngừng cải tiến, nâng cao hiệu quả hoạt động. Để
làm được những việc đó, mỗi cấp bộ Đoàn cần phải có kế hoạch để nâng cao trình độ,
nghiệp vụ, năng lực cho đội ngũ cán bộ Đoàn.
4- Chất lượng tổ chức cơ sở Đoàn, chất lượng cán bộ Đoàn chưa đáp ứng yêu
cầu công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên. Khả năng tập hợp, thuyết phục, tuyên truyền
vận động thanh niên của nhiều cán bộ đoàn yếu kém; thiếu đức tính hy sinh, ngại tiếp xúc
với thanh niên; tính gương mẫu chưa cao; đòi hỏi nhiều hơn cống hiến; xuất hiện tình trạng
công chức hoá đội ngũ cán bộ đoàn. Cán bộ của Đoàn luôn trong tình trạng thiếu về số
lượng, yếu về chuyên môn, nghiệp vụ, nguyên do nhiều cấp bộ Đoàn tuyển dụng cán bộ đầu
vào không đủ tiêu chuẩn, còn nể nang trong tuyển dụng, chính sách đầu ra cho cán bộ đoàn
không được quan tâm đúng mức. Vai trò, vị trí và tính tiền phong gương mẫu của đoàn viên
trong thanh niên và trong xã hội chưa rõ, chưa được phát huy đầy đủ. Chất lượng sinh hoạt
Đoàn thiếu chiều sâu
Những vấn đề trên yêu cầu Đoàn phải tập trung củng cố tổ chức, đổi mới nội dung,
phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn. Khắc phục biểu hiện hành chính
hóa, quan liêu, phô trương hình thức trong Đoàn.Nhanh chóng khắc phục sự bất cập của đội
ngũ cán bộ Đoàn các cấp; xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn có trình độ, năng lực, có khả năng
vận động, tập hợp thanh niên trong giai đoạn mới. Đổi mới mạnh mẽ phong cách làm việc
và phương pháp công tác của cán bộ đoàn.
--------------------------
mạng, có bản lĩnh văn hoá con người Việt Nam với những phẩm chất cơ bản như sau:
- Giàu lòng yêu nước, biết xử lý hài hoà lợi ích của bản thân trong lợi ích chung của
tập thể, cộng đồng;
- Có lý tưởng cách mạng và bản lĩnh chính trị vững vàng;
- Có tri thức, chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng lao động giỏi;
- Có văn hóa và sống tình nghĩa;
- Có sức khỏe thể chất và tinh thần lành mạnh;
- Giàu nhiệt huyết sáng tạo và tinh thần tình nguyện.
2. Hướng tới mục tiêu ngày càng có nhiều những cán bộ quản lý trẻ giỏi, doanh
nhân trẻ giỏi, công nhân trẻ giỏi, nhà khoa học trẻ giỏi, chiến sỹ trẻ giỏi, văn nghệ sỹ
trẻ giỏi...tiêu biểu cho thế hệ thanh niên trong thời kỳ hội nhập.
II. Những nội dung cơ bản trong xây dựng hình mẫu thanh niên thời đại mới
1. Xây dựng lớp thanh niên giàu lòng yêu nước
1.1- Tổng kết toàn bộ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, chỉ rõ
nguyên nhân đầu tiên dẫn đến mọi thắng lợi của quá trình đó, Hồ Chí Minh viết: “Dân ta có
một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi
khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, kết thành một làn sóng vô cùng mạnh
mẽ, to lớn. Nó lướt qua mọi nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ
cướp nước”.
1.2- Phát huy truyền thống yêu nước, thương nòi của dân tộc: Suốt chiều dài lịch sử
dựng nước và giữ nước, cũng như quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, lớp lớp các thế hệ thanh niên Việt Nam không quản ngại khó khăn, gian khổ,
thậm chí phải xả thân quên mình vì Tổ quốc thân yêu. Truyền thống yêu nước đã nâng lên
và trở thành chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Việt Nam.
1.3- Chủ nghĩa yêu nước là điểm cốt lõi của bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam: Là
sợi dây bền chặt nhất gắn bó mỗi người dân Việt Nam trong mọi hoàn cảnh, tinh thần yêu
nước được coi là một thứ quý (lời Bác Hồ). Do đó, các cấp bộ Đoàn phải thường xuyên
tuyên truyền, giải thích cho đoàn viên, thanh thiếu nhi; làm cho tinh thần yêu nước phải trở
thành hành động cách mạng thiết thực của tuổi trẻ trong học tập, lao động, sinh hoạt và
công tác hằng ngày.
+ Lý tưởng thẩm mỹ: Quan niệm về cái đẹp, đánh giá cái đẹp, hướng tới cái đẹp cả
nội dung bên trong và hình thức biểu hiện bên ngoài.
Trong 4 lĩnh vực trên, lý tưởng chính trị - xã hội là quan trọng nhất.
- Lý tưởng chính trị - xã hội hiện nay của thanh niên cần rèn luyện, phấn đấu và vươn
tới chính là “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Đó là mục tiêu phấn đấu của cách mạng
Việt Nam, là trọng tâm công tác bồi dưỡng giáo dục tuổi trẻ, đối với Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh với chức năng là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên thì vấn đề này càng trở
nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết, nội dung cụ thể của giáo dục lý tưởng chính trị
- xã hội cho đoàn viên, thanh niên là:
+ ý thức độc lập tự chủ, tự lực tự cường, cần cù lao động, năng động, sáng tạo, quyết
tâm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
+ Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước âm mưu “Diễn biến hoà bình”, bạo
loạn lật đổ của các thế lực thù địch.
+ Quá trình hội nhập với quốc tế phải tích cực, chủ động tiếp thu tinh hoa văn hoá
nhân loại; phải giữ vững độc lập, tự chủ, tránh sự lệ thuộc vào bên ngoài.
2.3- Bồi dưỡng lý tưởng cách mạng và xây dựng lối sống đẹp trong thanh niên có
mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau.
- Mỗi thanh niên vừa có lý tưởng cách mạng, vừa có lối sống đẹp - Đó là những
người làm tròn trách nhiệm của mình đối với xã hội, là người con hiếu thảo trong gia đình,
là công dân tốt, là những người có hành động và nghĩa cử đẹp…
- Đoàn thanh niên các cấp cần tập trung làm tốt một số nội dung sau:
+ Tuyên truyền để thanh niên rèn luyện đạo đức cách mạng, đạo đức công dân, xây
dựng lối sống có văn hoá.
+ Động viên thanh niên tích cực học tập, lao động sáng tạo, chủ động vươn lên lập
thân, lập nghiệp và làm giàu chính đáng.
+ Nêu cao tinh thần xung phong tình nguyện, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt các
nhiệm vụ được giao.
10
luyện, vươn lên để trở thành người có văn hoá, làm những công việc ích nước, lợi dân và
phát triển bản thân.
- Khái niệm bản lĩnh văn hoá con người Việt Nam là một nét độc đáo dược khẳng
định trong trong đường lối phát triển văn hoá và xây dựng con người mới của Đảng ta được
thể hiện rõ nhất ở Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá VIII và Hội nghị Trung ương 10
khoá IX xủa Đảng và được tiếp tục trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: “Xây
dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc trong thời kỳ CNH-HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn
hoá trong thanh niên, học sinh sinh viên đặc biệt lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ,
đạo đức và bản lĩnh văn hoá con người Việt Nam”
3.2- Nền văn hoá nước ta đã có những đặc trưng của một nền văn hoá tiên tiến.
* Một nền văn hoá tiên tiến là:
- Tiên tiến về trình độ học vấn, về dân trí, về trình độ khoa học công nghệ.
- Tiên tiến về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống.
- Tiến tiến chính là sự kết hợp giữa hiện đại và truyền thống.
* Nền văn hoá nước ta hiện nay có đặc trưng của một nền văn hoá tiên tiến, đó là :
11
- Dân tộc ta có nền văn hoá lâu đời với mấy ngàn năm lịch sử, giàu tinh hoa, giàu tính
nhân văn và nhiều sáng tạo. Sức mạnh ấy được tôi luyện và phát huy trong lịch sử dựng
nước và giữ nước, cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
- Nền văn hoá Việt Nam tiên tiến là sự kết hợp truyền thống dân tộc với chủ nghĩa
Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tinh hoa văn hoá nhân loại.
- Mọi hoạt động giáo dục chính trị tư tưởng, truyền thụ lý tưởng cách mạng, văn hoá,
nghệ thuật của từng cá nhân, tập thể ở nước ta đều hướng vào xây dựng một nền văn hoá
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
* Tuy rất tự hào về truyền thống, khẳng định những giá trị văn hoá tốt đẹp của nước
nhà, thanh niên chúng ta cần phải nhận thức rõ một số điểm hạn chế sau:
+ Cán bộ và đoàn viên.
+ Đảng viên, cán bộ các đoàn thể nhân dân, cán bộ các lực lượng vũ trang...
+ Chính bản thân thanh niên: Họ vừa là khách thể nhận sự giáo dục và là chủ thể tự
rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu. Phải nhấn mạnh việc thanh niên tự giáo dục (biến quá trình
giáo dục thành quá trình tự giáo dục), tự rèn luyện, tự chịu trách nhiệm.
1.4- Đổi mới phương thức giáo dục của Đoàn:
- Đổi mới phương thức giáo dục của Đoàn là nhiệm vụ cần thiết.
12
- Cần đổi mới hình thức và phương pháp giáo dục phù hợp với địa phương, đơn vị,
đối tượng và nội dung.
- Phải khẳng định: Phương thức giáo dục của Đoàn là tổng thể các hoạt động của
Đoàn, Hội. Những hoạt động đó bao gồm: các hoạt động về tổ chức như: tập hợp, vận động,
đoàn kết thanh niên; xây dựng tổ chức Đoàn trong sạch, vững mạnh; tham gia xây dựng
Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân. Thông qua phong trào hành động cách mạng,
phong trào thi đua yêu nước để giáo dục, rèn luyện thanh niên.
2. Để thực hiện tốt các nội dung trên, từ nay đến hết nhiệm kỳ IX, các cấp bộ
Đoàn phải tập trung và làm tốt các nội dung sau
2.1- Tổ chức tốt việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội
Đoàn toàn quốc lần thứ IX: Coi đây là đợt sinh hoạt chính trị, học tập, quán triệt và tuyên
truyền Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX một cách sâu rộng, thiết thực trong
đoàn viên, thanh niên.
2.2- Tiếp tục triển khai thực hiện CVĐ “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời
Bác” với các nội dung cụ thể:
* Phương châm chỉ đạo thực hiện CVĐ trong thời gian tới là:
- Một là: Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng đạo đức cách
mạng của Bác thấm sâu và trở thành ý thức tự giác, thường trực trong mỗi đoàn viên và
TTN. Các cấp bộ Đoàn, đặc biệt là cán bộ chủ chốt các địa phương, đơn vị, phải luôn năng
động, sáng tạo xây dựng được nhiều nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục phù hợp với
+ Xây dựng tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, kỷ luật, trong lao động phấn đấu đạt
năng xuất và chất lượng cao; Chống chây lười, thụ động, ỷ lại, thiếu sáng tạo, vô kỷ luật
trong lao động.
+ Xây dựng ý thức công dân, ý thức cộng đồng, thói quen ứng xử văn hóa, tôn trọng
và bảo vệ lẽ phải, tích cực tham gia xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; Chống
tự do, tùy tiện, biểu hiện coi thường pháp luật cũng như các hành vi thiếu văn hóa trong đời
sống, các hành vi xâm hại đến lợi ích của nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân.
- Triển khai xây dựng tủ sách, sổ vàng thanh niên, nhật ký cá nhân “Học tập và làm
theo lời Bác”.
- Ban hành tiêu chí danh hiệu “Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác”. Tổ chức tuyên
dương “Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác” trong các đối tượng thanh niên, cấp tỉnh và
cấp toàn quốc 5 năm 2 lần.
- Phát hiện nhân rộng các điển hình tiên tiến coi đây là một phương thức giáo dục có
hiệu quả, nhiệm vụ thường xuyên của các cấp bộ Đoàn. Triển khai thực hiện Chương trình
“Thắp sáng ước mơ tuổi trẻ Việt Nam” trong thanh thiếu nhi cả nước: Tổ chức để các nhà
hoạt động xã hội, các nhà khoa học, các doanh nhân, văn nghệ sỹ nổi tiếng các điển hình
tiên tiến trong các lĩnh vực giao lưu, trao đổi với thanh thiếu nhi để định hướng lý tưởng, lối
sống, kỹ năng sống cho thanh thiếu nhi.
2.3- Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục của Đoàn:
* Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục chính trị cho đoàn viên, thanh niên:
- Phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương sửa đổi, bổ sung nội dung chương trình lý
luận chính trị cho ĐVTN theo hướng thiết thực, phù hợp với các đối tượng thanh niên.
- Thử nghiệm và mở rộng các hình thức thông tin, trao đổi trực tuyến thông qua mạng
internet, các diễn đàn trên truyền hình, phát thanh; đa dạng hoá các hình thức cung cấp
thông tin cho thanh niên.
- Xây dựng và phát triển đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên của
Đoàn.
* Tăng cường giáo dục truyền thống cho thanh thiếu nhi:
- Tổ chức thường xuyên “Hành trình đến với bảo tàng, đến với các địa danh lịch sử”.
địch. Định hướng và vận động ĐVTN sử dụng internet lành mạnh.
2.4- Phát huy các nguồn lực xã hội trong bồi dưỡng, giáo dục thanh thiếu nhi:
- Xã hội hóa các hoạt động của Đoàn, Hội, Đội. Vận động các tổ chức, doanh nghiệp,
tập thể, cá nhân hỗ trợ thanh thiếu nhi.
- Phối hợp với nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác chăm lo, bồi dưỡng, giáo
dục thanh thiếu nhi.
2.5- Nắm tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, tâm tư, nguyện vọng của thanh niên; giải
quyết các nhu cầu hợp pháp của thanh niên.
2.6- Lồng ghép các hoạt động giáo dục với các hoạt động trong hệ thống của Đoàn,
vớí các hoạt động của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân.
2.7- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá công tác giáo dục của Đoàn; có
hình thức khen đúng, kịp thời những cơ sở làm tốt.
C. Kết luận
Xây dựng hình mẫu thanh niên thời đại mới và đổi mới nội dung, phương thức giáo
dục của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là nội dung rất quan trọng của công tác Đoàn và
phong trào thanh thiếu nhi trong thời gian tới. Quan tâm và tập trung làm tốt, làm có hiệu
quả các nội dung trên sẽ giúp cho đoàn viên, thanh niên nâng cao ý thức chính trị, rèn luyện
tác phong, tu dưỡng đạo đức cách mạng, có phẩm chất trong sáng và lối sống cao đẹp, xứng
đáng là lớp người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “Hồng”, vừa “Chuyên” như Đảng
ta và Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn và tin tưởng ở thanh niên.
Chuyên đề 3:
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TRONG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC
VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
-------------
I. các cơ sở đề xuất phong trào hành động cách mạng của đoàn tncs hồ chí minh:
1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của thanh niên và công tác thanh
niên.
điểm thanh niên.
1.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò của thanh niên và
công tác thanh niên.
- Lấy chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hoạt
động của mình, trong suốt lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng ta, Đảng Cộng sản Việt
Nam luôn quan tâm tới thanh niên và công tác thanh niên, với các quan điểm cơ bản như
sau:
- Thanh niên và công tác thanh niên có vai trò, vị trí cực kỳ quan trọng trong sự
nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Đảng luôn xác định Đoàn thanh niên là “Đội quân
xung kích của cách mạng và là lực lượng hậu bị của Đảng", có thể đi bất cứ nơi đâu, làm
bất cứ nhiệm vụ gì mà Đảng yêu cầu. Từ vai trò chiến lược to lớn của thanh niên, Đảng ta
coi chính thanh niên giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con
người.
- Đảng luôn quan tâm chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện và tạo điều kiện thuận
lợi cho sự phát triển,trưởng thành của thanh niên: “Chăm lo giáo dục, bồi dưỡng và tạo điều
kiện thuận lợi cho thanh niên phấn đấu để hình thành một thế hệ con người mới có lý tưởng
cao đẹp, có ý thức trách nhiệm công dân, có tri thức, có sức khoẻ, lao động giỏi, sống có
văn hoá và nghĩa tình, giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính”.
- Đảng ta luôn coi trọng việc tổ chức, phát huy lực lượng và tiềm năng của thanh niên
với quan điểm thanh niên là lực lượng kế thừa cách mạng, là lực lượng xung kích cách
mạng: “ Đảng đặt niềm tin sâu sắc vào thanh niên, phát huy vai trò làm chủ và tiềm năng to
lớn của thanh niên để thanh niên thực hiện được sứ mệnh lịch sử, đi đầu trong cuộc đấu
tranh chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, xây dựng và bảo vệ đất nước giàu mạnh, xã hội văn
minh”.
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII nêu rõ
“Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ 21 có vị trí xứng
đáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên”.
- Trong giai đoạn cách mạng mới, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX xác
định cần “ Xây dựng tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh vững mạnh về chính trị, tư tưởng
16
của thanh niên, đồng thời tạo môi trường giáo dục, rèn luyện cho thanh niên, vì sự phát triển
của thanh niên, của cộng đồng và đất nước.
II. Nội dung, giải pháp phát huy vai trò của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa, nhiệm kỳ 2007 - 2012:
2.1. Xung kích lao động sáng tạo, phát triển kinh tế - xã hội.
2.1.1. Kết quả đạt được của nhiệm kỳ 2002 - 2007.
- Trong nhiệm kỳ qua, phong trào thi đua lập nghiệp, lao động sáng tạo trong các đối
tượng thanh niên đã đạt nhiều kết quả tốt đẹp. Nổi bật là phong trào "Sáng tạo trẻ " với
phương châm " Mỗi đoàn viên, thanh niên một ý tưởng sáng tạo, mỗi chi đoàn là một hộp
thư sáng kiến, mỗi cơ sở Đoàn là một vườn ươm sáng tạo". Trong thanh niên nông thôn là
phong trào " 4 mới " góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong thanh niên trường học là các hoạt động thi đua học tập, nghiên cứu khoa học với nội dung " Học tập tốt,
rèn luyện tốt". Tuy nhiên, việc cụ thể hoá các nội dung của phong trào"Sáng tạo trẻ"," Bốn
mới " chưa thực sự phù hợp trong từng đối tượng thanh niên; tính bền vững của phong trào
chưa cao; một số địa phương còn lúng túng hoặc mang tính hình thức trong chỉ đạo thực
hiện, chưa thực sự tạo được động lực để huy động thanh niên tham gia phong trào.
- Với mục tiêu phát huy tinh thần lao động sáng tạo và vai trò tiền phong gương mẫu
của thanh niên trong lao động với năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn và hiệu quả thiết
thực hơn. Động viên thanh niên tích cực tham gia các chương trình phát triển kinh tế- xã hội
của địa phương và cả nước, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX thống nhất triển khai trong
đoàn viên thanh niên cả nước nội dung Xung kích lao động sáng tạo, phát triển kinh tế - xã
hội.
2.1.2. Nội dung và biện pháp cụ thể.
* Nội dung: (Đề nghị nghiên cứu Văn kiện Đại hội Đoàn IX).
* Biện pháp.
- Triển khai rộng khắp phong trào " Tuổi trẻ sáng tạo "trong thanh thiếu nhi. Tổ chức
Festival tuổi trẻ sáng tạo cấp tỉnh và toàn quốc 5 năm 2 lần; cấp huyện tổ chức hàng năm
cho các khối đối tượng với mục tiêu ở đâu có đoàn viên và hoạt động Đoàn, ở đó có hoạt
động sáng tạo. Cụ thể:
2.2. Xung kích, tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng.
2.2.1. Kết quả đạt được của nhiệm kỳ 2002- 2007.
- Trong nhiệm kỳ qua, phong trào thanh niên tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng tập
trung hướng vào giải quyết những khó khăn, bức xúc của cộng đồng, hỗ trợ vùng sâu, vùng
xa, vùng khó khăn với đội hình đa dạng hơn, địa bàn hoạt động rộng rãi hơn, thời gian hoạt
động dài hơn. Coi trọng các hoạt động tình nguyện tại chỗ, tình nguyện chuyên sâu. Thời
gian qua đã có thanh niên tình nguyện nước ngoài tham gia hoạt động tại Việt Nam cũng
như một số địa phương đã tổ chức hoạt động tình nguyện tại nước bạn Lào, Cămpuchia.
Tuy nhiên, hoạt động tình nguyện vì cộng đồng ở một số nơi chưa thực sự phát huy hết khả
năng của thanh niên tình nguyện, cá biệt có nơi hoạt động và khả năng của lực lượng tình
nguyện chưa phù hợp với mong muốn của địa phương; còn nhiều khó khăn trong duy trì các
hoạt động tình nguyện với thời gian dài.
- Với mục tiêu phát triển phong trào "Thanh niên tình nguyện" theo hướng đa dạng về
nội dung, nâng cao về chất lượng, phù hợp với đối tượng, góp phần tập hợp, giáo dục thanh
niên và tham gia giải quyết những vấn đề bức xúc của cộng đồng, Đại hội Đoàn toàn quốc
lần thứ IX thống nhất triển khai trong đoàn viên, thanh niên cả nước nội dung Xung kích,
tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng.
2.2.2. Nội dung và biện pháp cụ thể:
* Nội dung (Đề nghị nghiên cứu Văn kiện Đại hội Đoàn IX ).
* Biện pháp:
- Xây dựng các chương trình và đội hình tình nguyện tập trung vào giải quyết những
vấn đề bức xúc của cộng đồng; vào công tác xoá đói, giảm nghèo, sức khoẻ cộng đồng,
nâng cao dân trí, tình nguyện chi viện các công trình trọng điểm quốc gia, tham gia bảo vệ
môi trường, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai.
+ Đa dạng hoá các hình thức tình nguyện: cấp cơ sở nên th ường xuyên tổ chức các
hoạt động tình nguyện tại chỗ, tình nguyện ngắn hạn. Cấp huyện trở lên có thể tổ chức các
hoạt động tình nguyện trung hạn và dài hạn, các đội hình chuyên. Trong đó hình thức tình
nguyện thường xuyên và các đội hình chuyên đóng vai trò chủ đạo.
+ Tổ chức các đội hình tình nguyện của HSSV thường xuyên tham gia xây dựng môi
trường giáo dục ở trong và ngoài nhà trường và tham gia các đội hình tình nguyện chuyên.
trình độ nghề nghiệp chuyên môn, rèn luyện đạo đức cách mạng của người cán bộ, công
chức trẻ góp phần đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính nhà nước. Tuy nhiên, các cấp
bộ Đoàn và cán bộ, công chức trẻ chưa thực sự quan tâm đúng mức tới cải cách hành chính;
vai trò của tổ chức Đoàn tham gia cải cáh hành chính chưa rõ nét, sự vào cuộc của đội ngũ
cán bộ công chức trẻ chưa cao, còn tư tưởng thụ động, chông chờ.
- Với mục tiêu phát huy vai trò của tổ chức Đoàn và cán bộ, công chức trẻ trong xây
dựng nền hành chính trong sạch, hiện đại, xây dựng người công chức trẻ giỏi, tận tụy với
nhân dân, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX thống nhất tiếp tục triển khai trong đoàn viên,
thanh niên cả nước nội dung Xung kích thực hiện cải cách hành chính.
2.4.2. Nội dung và biện pháp cụ thể.
* Nội dung (Đề nghị nghiên cứu Văn kiện Đại hội IX).
* Biện pháp:
21
- Tuyên truyền trong thanh niên và nhân dân chương trình tổng thể cải cách hành
chính. Tổ chức cuộc thi tìm hiểu trong cán bộ, công chức trẻ về nội dung cải cách hành
chính, xây dựng người cán bộ công chức trẻ “ Năng động, sáng tạo, giỏi nghề, tận tụy, cần
kiệm”.
- Các cấp bộ Đoàn cụ thể hoá và triển khai thực hiện phong trào phù hợp với điều
kiện thực tế tại địa phương, đơn vị. Tổ chức rộng rãi phong trào "3 trách nhiệm", gồm: trách
nhiệm với bản thân, trách nhiệm với cơ quan và trách nhiệm với nhân dân.
- Vận động đoàn viên, thanh niên học tập và ứng dụng công nghệ thông tin vào công
tác chuyên môn, đề xuất các giải pháp cải cách hành chính, các mô hình quản lý hành chính
và bộ máy hành chính tinh gọn, hiệu quả. Tạo điều kiện cho thanh niên và nhân dân có cơ
hội tiếp cận, tìm hiểu hệ thống hành chính nhà nước.
- Vận động công chức trẻ xung kích, sáng tạo trong xây dựng văn minh công sở, đề
xuất sáng kiến cải tiến quy trình quản lý và xử lý công việc, thực hành tiết kiệm, chống lãng
phí, tình nguyện làm thêm ngày, thêm giờ; tình nguyện tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ nhân dân
giải quyết các thủ tục hành chính.
được quan tâm đúng mức, mặt khác trình độ quản lý kinh tế, kiến thức ngoại ngữ, tay
nghề,... của thanh niên chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
22
- Với mục tiêu phát huy vai trò của thanh niên chủ động nắm bắt thông tin về hội
nhập kinh tế quốc tế, về chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng, về những cơ hội và
thách thức trong quá trình hội nhập, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX đã phát động trong
toàn Đoàn triển khai nội dung Xung kích trong hội nhập kinh tế quốc tế.
2.5.2. Nội dung và biện pháp cụ thể.
* Nội dung ( Đề nghị nghiên cứu Văn kiện Đại hội IX).
* Biện pháp:
- Các cấp bộ Đoàn động viên và tổ chức cho đoàn viên thanh niên tích cực học tập
nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ thuật, ngoại ngữ, tin học, luật pháp quốc tế, góp
phần giúp ĐVTN chủ động, tự tin, hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả.
- Tổ chức rộng khắp các hoạt động tuyên truyền, định hướng, hướng dẫn thanh niên
về kiến thức, kỹ năng, bản lĩnh chính trị, bản lĩnh văn hoá khi tham gia hội nhập.
- Tham mưu xây dựng các chính sách hỗ trợ, khuyến khích thanh niên tham gia hội
nhập kinh tế quốc tế; vận động, hỗ trợ các doanh nghiệp trẻ đi đầu trong hội nhập kinh tế
quốc tế; hỗ trợ xây dựng và quảng bá thương hiệu, sản phẩm của doanh nghiệp trẻ. Tổ chức
tốt các giải thưởng uy tín như Sao đỏ, Sao vàng Đất Việt..
- Cung cấp thông tin về hội nhập kinh tế quốc tế, về cơ hội và thách thức, kinh
nghiệm trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thông qua hệ thống báo chí của Đoàn,
thông qua sinh hoạt chuyên đề.
- Xây dựng và triển khai chương trình doanh nhân trẻ đi đầu trong hội nhập kinh tế
quốc tế thông qua các hoạt động hợp tác doanh nghiệp, xây dựng và quảng bá thương hiệu,
trao đổi thông tin thị trường.
- Tham mưu cho Đảng, Nhà nước chính sách hỗ trợ, khuyến khích thanh niên hội
nhập kinh tế quốc tế, chính sách thu hút và sử dụng tài năng trẻ trong và ngoài nước; chính
sách đào tạo lãnh đạo trẻ.
HIỆN NAY VÀ VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH
I. Cơ sở lý luận:
1. Khái niệm về nhu cầu và lợi ích:
- Khái niệm:
Theo từ điển Bách khoa toàn thư wikipedia, nhu cầu là mong muốn, đòi hỏi, nguyện
vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.
Lợi ích là điều có lợi, điều cần thiết. Lợi ích là mối quan hệ khách quan, không phụ
thuộc vào việc chủ thể có nhận thức được nó hay không.
- Tính chất, đặc điểm:
Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cơ thể
đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu của một cá nhân là đa dạng và vô
tận.
Nhu cầu mang tính sinh học, nhằm đáp ứng những đòi hỏi của sự phát triển sinh học
của con người, nhưng mặt khác, nhu cầu cũng mang tính xã hội, thể hiện ở chỗ: Những nhu
cầu giống nhau nhưng ở mỗi thời đại, mỗi xã hội lại đáp ứng chúng theo các cách khác
nhau, phù hợp với điều kiện lịch sử và mức độ phát triển xã hội đó. Marx đã từng nói: “Cái
đói là cái đói, nhưng cái đói được thoả mãn bằng thịt nấu, và ăn bằng dao, nĩa thì khác với
cái đói dùng bàn tay, móng và răng nuốt chửng thịt sống”. Bên cạnh đó, nhu cầu còn được
đáp ứng trong khuôn khổ của phong tục tập quán (văn hoá) của cộng đồng và được quy
định bởi văn hoá cộng đồng.
Nhu cầu là nguồn gốc mọi hành động của con người. Nhu cầu càng cấp bách thì khả
năng chi phối con người càng cao. Chính khi một nhu cầu xuất hiện, sẽ hình thành trong
con người một động cơ, thôi thúc hành động để thoả mãn nhu cầu đó.
Nhu cầu và lợi ích luôn gắn bó biện chứng với nhau. Đáp ứng nhu cầu để mang lại
những lợi ích cụ thể; đồng thời từ những lợi ích mà con người có thêm những nhu cầu mới,
tạo động lực để hành động và sáng tạo những giá trị mới.
- Phân loại nhu cầu:
Các loại nhu cầu khác nhau không tồn tại đơn lẻ, tách rời mà nằm trong mối quan hệ
ràng buộc, phụ thuộc và tương tác lẫn nhau. Chúng tạo thành một hệ thống nhu cầu. Hệ
thống nhu cầu được phân loại trên cơ sở của nhiều tiêu chí khác nhau:
- Thanh niên là lớp người trẻ tuổi, nhiều ước mơ, hoài bão vì vậy những nhu cầu và
lợi ích của thanh niên có sự thay đổi, biến động khá nhanh, đôi khi nó chịu ảnh hưởng trực
tiếp của những yếu tố bên ngoài, theo trình độ và mức độ phát triển của nền kinh tế, theo
những yếu tố riêng có về tâm lý lứa tuổi... Song chính sự biến động, thay đổi về nhu cầu và
lợi ích của thanh niên lại chính là nguồn gốc, động lực cho sự sáng tạo và phát triển của
chính thanh niên.
2.2. Đáp ứng nhu cầu, lợi ích của thanh niên vừa là mục tiêu vừa là động lực của tổ
chức Đoàn (hoạt động Đoàn và phong trào thanh niên):
- Trong Điều lệ Đoàn được thông qua tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX khẳng
định: “Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị-xã hội của thanh niên Việt Nam”,
“Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên, đại diện chăm lo
và bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của tuổi trẻ”. Vì vậy mục tiêu cao nhất của
Đoàn là tập hợp, đoàn kết, giáo dục và đáp ứng những nhu cầu, lợi ích chính đáng của đông
đảo đoàn viên thanh niên. Trong đó xác định phương pháp chủ đạo là thông qua nắm bắt,
đáp ứng những nhu cầu, lợi ích chính đáng, từ đó tập hợp, đoàn kết thanh niên vào tổ chức
và trong các phong trào hành động cách mạng.
- Có thể nói nhu cầu của con người nói chung, nhu cầu của thanh niên nói riêng là vô
cùng đa dạng, đồng thời trước mỗi nhu cầu khác nhau sẽ có rất nhiều cách tiếp cận, nhiều
sự lựa chọn, nhiều con đường đi khác nhau để đến đích. Vấn đề ở đây là vai trò của tổ chức
Đoàn phải làm gì, định hướng ra sao và tác động như thế nào để các bạn thanh niên có thể
thuận lợi, thành công với con đường mình đã lựa chọn. Đây chính là bài toán cần có một lời
giải đúng và phù hợp đối với tổ chức Đoàn trong việc đáp ứng những nhu cầu, lợi ích chính
đáng, thông qua đó tập hợp, đoàn kết và gắn bó thanh niên với tổ chức.
- Tổ chức Đoàn tạo môi trường, điều kiện thuận lợi và định hướng cho thanh niên
những lợi ích, nhất là lợi ích mới mà thanh niên có thể có được từ đó hình thành nên những
nhu cầu mới để đạt được những lợi ích chính đáng đó; đồng thời cũng góp phần định
hướng, hỗ trợ, tạo động lực khuyến khích thanh niên vươn lên thoả mãn những nhu cầu của
mình, góp phần phát triển cá nhân và xã hội.
25