Phân tích khái niệm, đặc điểm của tội mua bán người theo pháp luật quốc tế và việt nam phân tích nội dung cơ bản trong quy định của pháp luật quốc tế - Pdf 53

MỤC LỤC

1. Phân tích khái niệm, đặc điểm của tội mua bán người theo pháp luật
quốc tế và Việt Nam?...................................................................................................1
1.1. Khái niệm tội mua bán người................................................................1
1.2. Đặc điểm của tội mua bán người...........................................................3
2. Phân tích nội dung cơ bản trong quy định của pháp luật quốc tế về tội
phạm rửa tiền?.............................................................................................................5
2.1. Tội phạm nguồn......................................................................................6
2.2. Các quy định về tội phạm.......................................................................6
2.3. Các quy định về hình phạt......................................................................9
2.4. Hợp tác quốc tế về chống tội phạm rửa tiền........................................10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................11

0


1. Phân tích khái niệm, đặc điểm của tội mua bán người theo pháp luật quốc
tế và Việt Nam?
Trước khi đi vào phân tích khái niệm, đặc điểm của tội mua bán người theo pháp
luật quốc tế và Việt Nam, bài viết xin được đưa ra một số văn bản pháp luật quốc tế cũng
như văn bản pháp luật Việt Nam quy định về loại tội này.
Tội mua bán người được quy định trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế như
Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Công ước
Palermo năm 2000), Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị buôn bán người,
đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (bổ sung Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có
tổ chức xuyên quốc gia) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 15/11/2000,
có hiệu lực kể từ ngày 25/12/2003.
Ngoài hai văn bản chủ yếu trên, tội mua bán người còn được quy định trong các
văn bản pháp luật quốc tế khác như Nghị định thư về chống đưa người di cư trái phép
bằng đường bộ, đường biển và đường không, bổ sung cho công ước của Liên hợp quốc

em). Theo đó, Điều 119 quy định:
“1. Người nào mua bán người thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm
đến hai mươi năm: a) Vì mục đích mại dâm; b) Có tổ chức; c) Có tính chất chuyên
nghiệp; d) Để đưa ra nước ngoài; đ) Đối với nhiều người; e) Phạm tội nhiều lần;
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu
đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm”.
Luật phòng, chống mua bán người năm 2011 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2012) không nêu ra khái niệm về buôn bán người mà chỉ quy định các
hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 3, theo đó quy định các hành vi bi nghiêm cấm bao gồm:
“1. Mua bán người theo quy định tại Điều 119 và Điều 120 của Bộ luật hình sự.
2. Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy
các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác.
3. Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao
động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác hoặc để thực hiện hành
vi quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Cưỡng bức người khác thực hiện một trong các hành vi quy định tại các khoản
1, 2 và 3 Điều này.
5. Môi giới để người khác thực hiện một trong các hành vi quy định tại các khoản
1, 2 và 3 Điều này.
...”.
Như vậy, có thể thấy, các văn bản pháp luật Việt Nam ít sử dụng khái niệm buôn
bán người. Bộ luật Hình sự không quy định tội buôn bán người mà chỉ có tội “mua bán
người”. Theo báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tư pháp, hành vi buôn bán người thực chất
cũng là hành vi mua bán người nhưng có quy mô lớn và được tổ chức chặt chẽ, có tính
chuyên nghiệp cao. Khái niệm mua bán người rộng hơn khái niệm buôn bán người, theo
đó khái niệm mua bán người bao gồm cả hành vi buôn bán người có tổ chức, xuyên quốc
gia và các hành vi mua bán người đơn lẻ 1. Thuật ngữ buôn bán phụ nữ, trẻ em tuy được
dùng khá phổ biến trong các văn bản pháp luật, tuy nhiên chưa có một định nghĩa chính
thức thế nào là buôn bán phụ nữ, trẻ em mà các khái niệm này hoặc chưa được giải thích

Có thể thấy, tội mua bán người là loại tội phạm sự câu kết hoặc tụ hợp của những
người cùng tham gia vào hoạt động buôn bán người có tính chất xuyên biên giới mà mục
đích đầu tiên là thu lợi nhuận. Tính chất xuyên quốc gia của buôn bán người không phải
lúc nào cũng là hoạt động xuyên biên giới quốc gia mà nó có thể diễn ra không phụ
thuộc và việc các nạn nhân có bị đưa đi một nước khác hay không hoặc chỉ là đưa từ nơi
này sang nơi khác ở trên cùng một quốc gia.
Hai là, về chủ thể của tội phạm. Căn cứ vào Điều 1 về quan hệ giữa Nghị định thư
và Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Điều 4
về phạm vi áp dụng của Nghị định thư thì chủ thể của tội phạm buôn bán người là các cá
nhân tham gia vào một nhóm tội phạm có tổ chức, các cá nhân này có thể là người trực
tiếp phạm tội hoặc chuẩn bị phạm tội, đồng phạm hoặc là người tổ chức hoặc chỉ huy
người khác thực hiện tội phạm (Điều 5).
Ba là, về khách thể của tội phạm. Theo Nghị định thư, buôn bán người là hành vi
coi con người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, là một loại hàng hóa để bóc lột nhằm kiếm
lời. Tội phạm xâm phạm nhân phẩm, danh dự, thân thể, sức khỏe và quyền tự do của con
người. Đối với trẻ em, tội phạm còn xâm phạm quyền được quản lý, chăm sóc và giáo
dục của trẻ em. Theo khoản (d) Điều 3 của Nghị định thư, trẻ em là người dưới 18 tuổi.

3


Bốn là, về mặt khách quan của tội phạm: Theo khoản (a) Điều 3 của Nghị định
thư, người phạm tội có hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc
nhận lời với các thủ đoạn để thực hiện hành vi phạm tội sau đây:
- Đe dọa hoặc sử dụng vũ lực;
- Ép buộc, bắt cóc, gian lận, lừa đảo;
- Lạm dụng quyền lực hoặc lợi dụng tình trạng lệ thuộc hoặc quẫn bách, hoặc cho
hay nhận tiền hoặc vật chất để đạt được sự đồng ý của một người kiểm soát nạn nhân.
Sự đồng ý của nạn nhân trở thành đối tượng của tội phạm không có ý nghĩa để
cấu thành tội buôn bán người nếu như tội phạm đã sử dụng các thủ đoạn nêu trên để

4


cấu thành bắt buộc của tội phạm. Có thể thấy được sự khác biệt giữa yếu tố cấu thành tội
phạm buôn bán người theo quy định tại Nghị định thư về phòng chống tội phạm buôn
bán người với yếu tố cấu thành tội mua bán phụ nữ, trẻ em theo quy định tại Điều 119 và
Điều 120 của BLHS. Theo Điều 119 và 120 thì mục đích bóc lột không phải là dấu hiệu
bắt buộc của tội phạm, trong khi đó theo Nghị định thư, buôn bán người là loại tội phạm
trước hết là xâm phạm con người. Do đó, sẽ phù hợp với pháp luật quốc tế hơn khi mục
đích bóc lột được cụ thể hóa trong pháp luật Việt Nam mặc dù việc quy định đó chỉ
mang tính chất tương đối. Mục đích bóc lột trong tội phạm này có thể là bóc lột mại
dâm, các hình thức lao động cưỡng bức, hình thức nô lệ, khổ sai, lấy các bộ phận cơ
thể...
Vì vậy, pháp luật Việt Nam cần quy định rõ ràng hơn về các vấn đề trên để phù
hợp cũng như hướng tới sự hài hòa với những quy định về hành vi buôn bán người của
Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 và
Nghị định thư bổ sung về phòng ngừa, trừng trị, trấn áp tội buôn bán người mà Việt Nam
đã ký kết.
2. Phân tích nội dung cơ bản trong quy định của pháp luật quốc tế về tội
phạm rửa tiền?
Trước khi phân tích nội dung cơ bản của tội phạm rửa tiền theo pháp luật quốc tế,
cần phải hiểu khái niệm tội phạm rửa tiền là gì?
Công ước của Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và
các chất hướng thần năm 1988 (Công ước Viên) là công ước đầu tiên có các quy định về
đấu tranh chống rửa tiền ở cấp độ quốc tế. Điểm b) i) khoản 1 Điều 3 Công ước này và
điểm (a), (b) Điều 6 Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên
quốc gia năm 2000 (Công ước Palermo) quy định về tội phạm rửa tiền như sau:
“Sự chuyển hóa hoặc chuyển nhượng tài sản khi biết tài sản đó có nguồn gốc từ
bất kỳ hành vi phạm tội (buôn bán bất hợp pháp chất ma túy) nào hoặc từ việc tham gia
vào hành vi phạm tội đó nhằm mục đích giấu giếm hoặc che đậy nguồn gốc phi pháp

đồng tiền mà khi đã được rửa thì sẽ dẫn tới hành vi phạm tội rửa tiền 2. Nói cách khác, tội
phạm nguồn là những tội phạm mang lại những lợi ích vật chất, tiền, tài sản, qua đó làm
phát sinh hành vi rửa tiền. Việc quy định các hoạt động phạm tội nào đó là tội phạm
nguồn của tội rửa tiền cần phải tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế. Trong điều kiện của
mình, Công ước Viên chỉ quy định trong phạm vi hẹp về các tội phạm nguồn của tội
buôn bán bất hợp pháp ma túy. Trong Công ước Palermô, tội phạm nguồn được mở rộng
hơn. Công ước quy định nghĩa vụ đối với tất cả các quốc gia thành viên phải quy định
“với phạm vi rộng nhất” các tội phạm nguồn của tội rửa tiền (Điều 2 (a)). Tuy nhiên,
Công ước lại không xác định chi tiết thế nào là “phạm vi rộng nhất” các tội phạm nguồn
hay thế nào là “các tội nghiêm trọng”. Do đó, phạm vi các tội phạm nguồn sẽ do toà án
mỗi nước quyết định, chỉ tuân theo yêu cầu của Công ước Viên là việc buôn bán bất hợp
pháp ma tuý phải được coi là tội phạm nguồn. Mặt khác, cộng đồng quốc tế cũng đã dần
hình thành quan điểm rằng các tội phạm nguồn của tội rửa tiền cần phải được mở rộng,
chứ không phải chỉ bó hẹp trong hành vi buôn bán bất hợp pháp ma túy 3.
Vì vậy, FATF và các tổ chức quốc tế khác đã mở rộng định nghĩa của Công ước
Viên về tội phạm nguồn để bổ sung cả những hành vi phạm tội nghiêm trọng khác.
Trong 40 khuyến nghị về chống rửa tiền (Bốn mươi khuyến nghị), FATF đã hợp nhất các
định nghĩa về rửa tiền trong Công ước Viên và Công ước Palermô và liệt kê 20 loại hành
vi phạm tội phải được đề cập đến trong các tội phạm nguồn của tội rửa tiền (ví dụ về một
2

Công ước Palécmô, điều 2(b); Hội đồng châu Âu, Công ước về việc rửa tiền, khám xét, thu giữ và tịch thu tiền thu
được từ hành vi phạm tội (năm 1990), điều 1 (e).
3
Paul Allan Schott, Hướng dẫn tham khảo về chống rửa tiền và chống tài trợ cho khủng bố, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà
Nội, 2007. Tài liệu này được đăng tải trên website:
http://siteresources.worldbank.org/INTAML/Resources/ReferenceGuideAMLandAFVN.pdf

6


trình rửa tiền. Tương tự như vậy, tại Điều 6 (1) (a) của Công ước Strasbourg năm 1990
của Liên minh Châu Âu (Công ước về rửa tiền, khám xét, thu giữ và tịch thu các khoản
thu nhập từ tội phạm) cũng không xác định hay loại trừ rõ ràng vấn đề tự rửa tiền của
các đối tượng phạm tội có nằm trong phạm vi tội rửa tiền hay không.
Tuy nhiên, theo Quy định mẫu của các quốc gia Châu Mỹ về chống rửa tiền, tại
Điều 2 (6) lại quy định rõ ràng: “tội phạm (rửa tiền) được quy định trong điều luật này
phải được phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử bởi tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền như
một tội phạm độc lập với các tội phạm khác”.
4

Th.s Nguyễn Ngọc Minh – Học viện Cảnh sát nhân dân, Nghiên cứu phạm vi chủ thể của tội phạm rửa tiền trong Luật
Hình sự Việt Nam. Nguồn: http://moj.gov.vn/ct/tintuc/lists/nghin%20cu%20trao%20i/view_detail.aspx?ItemID=4407

7


Xem xét sự khác nhau này, FATF, trong các khuyến nghị của mình cho phép các
quốc gia có thể quy định tội rửa tiền không áp dụng đối với những người đã thực hiện tội
phạm nguồn với điều kiện đó là nguyên tắc luật pháp cơ bản của nước mình 5. Tuy nhiên,
nếu không có một nguyên tắc cơ bản nào trong nội luật quốc gia chống lại việc tội phạm
hóa hành vi tự rửa tiền, thì FATF sẽ xem xét việc tội phạm hóa hành vi tự rửa tiền như
một tiêu chí đánh giá sự tuân thủ các Khuyến nghị số 1, 2 trong Bốn mươi khuyến nghị
của FATF.
Thứ hai, về hành vi phạm tội của tội phạm rửa tiền:
Mặc dù Công ước Viên chỉ quy định về buôn bán bất hợp pháp ma tuý và không
sử dụng thuật ngữ “rửa tiền” nhưng có thể thấy ba loại hành vi phạm tội được đề cập
trong Công ước này tạo thành cơ sở của tội rửa tiền. Các loại hành vi đó là:
- Chuyển hoán hoặc chuyển nhượng tài sản mà biết rằng tài sản đó có nguồn gốc
từ hành vi phạm tội buôn bán bất hợp pháp ma túy nhằm mục đích che giấu nguồn gốc
bất hợp pháp của tài sản hoặc tiếp tay cho bất kỳ cá nhân nào tham gia thực hiện hành vi

Tuy nhiên, các nước có thể mở rộng phạm vi trách nhiệm pháp lý đối với hành vi
“rửa tiền do vô ý”, khi kẻ phạm tội đáng ra phải biết rằng tài sản đó là do phạm tội mà
có. Theo quy định của pháp luật Pháp, kể cả khi hành vi tẩy rửa tiền đã được thực hiện
rồi sau đó mới biết nguồn gốc của tiền thì người tẩy rửa đó có thể vẫn bị trừng trị. Pháp
luật của Bỉ còn trừng trị những người hoạt động chuyên môn về tội tẩy rửa tiền do mất
cảnh giác6. Như vậy, kể cả trong trường hợp những người này vô ý tẩy rửa tiền đó thì họ
cũng bị pháp luật trừng trị (lỗi vô ý).
Như vậy, ta có thể thấy những quy định khác nhau trong pháp luật của các nước
trên thế giới. Đối với những nước trừng trị cả tội tẩy rửa tiền do vô ý thì chỉ cần chứng
minh có tội tẩy rửa tiền là đã có thể trừng trị người mắc lỗi vô ý hay thiếu cảnh giác.
Trong khi đó, đối với những nước quy định tội tẩy rửa tiền phải có lỗi cố ý, lỗi vô ý chỉ
là một tình tiết thực tế trong vụ việc không đủ để cấu thành tội tẩy rửa tiền.
Do đó, Công ước Viên, Công ước Palermô, Bốn mươi khuyến nghị và nhiều công
cụ pháp lý khác quy định rằng luật pháp nên cho phép suy luận tình trạng tâm thần từ
những hoàn cảnh thực tế khách quan, nếu các hoàn cảnh thực tế khách quan khớp với
hoản cảnh đó, thì yêu cầu về tình trạng tâm thần đã được thỏa mãn 7.
2.3. Các quy định về hình phạt
Khi xét các quy định về hình phạt của tội phạm rửa tiền, cậu hỏi đặt ra ở đây là
liệu trách nhiệm pháp lý về việc rửa tiền có mở rộng đến cá nhân đã thực hiện tội phạm
nguồn, cũng như tới cá nhân đã rửa tiền thu được một cách phi nghĩa hay không. Một số
nước không buộc người phạm tội nguồn phải chịu trách nhiệm về việc rửa tiền thu được
từ tội phạm nguồn do người đó thực hiện, nếu người đó không tham gia vào hoạt động
rửa tiền. Cơ sở chính cho cách tiếp cận này là việc trừng phạt người phạm tội vì né tránh
các hậu quả pháp lý do hoạt động phạm tội mình có thể tăng lên gấp đôi nguy cơ phải
chịu trách nhiệm hình sự, có nghĩa là nhiều hình phạt cho một hành vi phạm tội.
Các nước khác buộc người phạm tội nguồn phải chịu trách nhiệm hình sự về việc
rửa tiền thu được từ tội phạm nguồn đó với lý do hành vi rửa tiền và tác hại của việc rửa
tiền là độc lập với tội phạm nguồn.
Nhìn chung, tiêu chuẩn quốc tế phổ biến trong lĩnh vực này quy định rộng về tội
rửa tiền, trong đó thừa nhận kẻ phạm tội nguồn phải chịu trách nhiệm đối với việc rửa

chẽ với INTERPOL – Tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế.
Các quốc gia trên thế giới cũng có các đạo luật riêng của mình quy định về rửa
tiền như đạo luật chống rửa tiền 1998 của Mỹ, các chính sách, đạo luật chống tẩy rửa
tiền ở các quốc gia Trung Mỹ và Châu Mỹ La tinh, các quốc gia tại châu Á cũng đang
dần thông qua các các đạo luật về chống rửa tiền 9.
Việt Nam đã có quy định về tội rửa tiền tại Điều 251 BLHS, quy định về tội chứa
chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có tại Điều 250, tội tài trợ khủng
bố tại Điều 230b quy định về hành vi khủng bố - một trong những hành vi liên quan đến
tội rửa tiền. So với các quy định của pháp luật quốc tế về tội phạm này, pháp luật hình sự
Việt Nam không có quy định cụ thể nào xác định hành vi tự rửa tiền của chủ thể tội
phạm nguồn. Tuy nhiên, thông qua các quy định trong BLHS có thể thấy pháp luật hình
sự Việt Nam có phạm vi tội phạm nguồn mở rộng hơn so với các quy định của pháp luật
quốc tế, bao gồm tất cả các tội phạm liên quan đến tiền, tài sản.
Nhìn chung, các quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam về cơ bản có sự tương
thích với các quy định của pháp luật quốc tế trong đấu tranh, phòng chống tội phạm rửa
tiền. Việt Nam cũng đã thông qua Luật phòng chống rửa tiền số 07/2012, có hiệu lực thi
hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2013. Luật này khi đi vào thực tiễn sẽ tạo ra cơ sở để ngăn
ngừa, đấu tranh và loại trừ các hoạt động rửa tiền trong phạm vi quốc gia, phối hợp với
các nước trong khu vực và quốc tế để làm tốt công tác này ở phạm vi xuyên quốc
gia. Điều này cũng phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế trong xu thế tăng
cường và nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh chống rửa tiền trên toàn thế giới.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
9

http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?
option=com_content&view=article&id=138:tc2002so1rtmtpqt&catid=66:ctc20021&Itemid=64

10


ItemID=4407
13. http://sunlaw.com.vn/hinh-su/ve-toi-hop-phap-hoa-tien--tai-san-do-pham-toima-co.aspx
14.http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?
option=com_content&view=article&id=138:tc2002so1rtmtpqt&catid=66:ctc20021&Ite
mid=64

11




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status