DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Luật Dân sự năm 2005
2.Trường Đại học Luật, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Tập 1, NXB CAND
3.Luật hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 và các
văn bản hướng dẫn.
4.Quy định hướng dẫn tư vấn, kiểm tra sức khỏe cho người hiến mô, bộ phận cơ
thể ở người sống; hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết và người hiến
xác, ban hành kèm theo Quyết định số 13/2008/QĐ-BYT ngày 12/3/2008 của Bộ
trưởng Bộ y tế.
5.Bộ môn Luật Dân sự trường Đại học Luật Hà Nội, Đề tài nghiên cứu khoa học
cấp trường, Quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân theo pháp luật dân sự,
tháng 12/2008.
6.Phùng Trung Tập, “Về quyền hiến bộ phận cơ thể và hiến xác sau khi chết”,
tạp chí Tòa an nhân dân, số 1/2006.
7.Bùi Đức Hiển, “Hoàn thiện hơn nữa Luật hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể
người và hiến, lấy xác”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 4(121) tháng 4/2008.
0
LỜI NÓI ĐẦU
Trong điều kiện thế giới hiện nay nói chung và nước ta nói riêng, khi mà các
giá trị vật chất của con người ngày càng được thỏa mãn đầy đủ hơn thì chúng ta
ngày có xu hướng quan tâm đến các giá trị của cá nhân, một trong những giá trị
mà con người hướng tới đó chính là “quyền hiến xác, bộ phận cơ thể người của
cá nhân sau khi chết”. Xung quanh đề tài này còn khá nhiều vấn đề thú vị và
quan trọng. Dưới đây là phần tìm hiểu của em về một số vấn đề liên quan đến
quyền hiến xác, bộ phận cơ thể người của cá nhân sau khi chết.
NỘI DUNG
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ XÁC VÀ QUYỀN HIẾN XÁC CỦA CÁ
NHÂN SAU KHI CHẾT
đặc biệt, quyền nhân thân mang lại lợi ích vật chất cho chủ thể quyền. Những lợi
ích vật chất mà chủ thể quyền được hưởng ở đây có được là do giá trị tinh thần
mang lại (ví dụ: trường hợp góp vốn bằng uy tín trong một doanh nghiệp). Như
vậy, một trong những tiêu chí phân loại quyền nhân thân là dựa vào yếu tố tài
sản, theo đó, có thể chia quyền nhân thân làm hai loại: quyền nhân thân gắn với
tài sản và quyền nhân thân không gắn với tài sản.
Thứ ba, quyền nhân thân được xác lập không dựa trên các sự kiện pháp lý
mà chúng được xác lập trực tiếp trên cơ sở những quy định của pháp luật.
Thứ tư, mỗi một chủ thể có một giá trị nhân thân khác nhau nhưng được bảo
vệ như nhau khi các giá trị đó bị xâm phạm.
1.2. Đặc điểm riêng của quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi
chết
Mục đích chủ yếu của việc thực hiện quyền này không phải đem lại lợi ích
cho chủ thể quyền như đại đa số các quyền nhân thân khác, mà nhằm đem lại lợi
ích cho người khác, lợi ích cho toàn xã hội. Lợi ích mà chủ thể quyền đạt được
2
chủ yếu là lợi ích tinh thần, là niềm vui khi cứu sống được người khác đang mắc
bệnh hiểm nghèo, đặc biệt khi người bệnh lại là người thân thích, ruột thịt của
mình; hoặc niềm vui khi thấy mình cống hiến cho sự nghiệp nghiên cứu khoa
học. Lợi ích vật chất có thể có nhưng không phải là chính yếu. Lợi ích của chủ
thể quyền thực sự rất khiêm tốn so với lợi ích to lớn mà xã hội nhận được từ việc
người đó thực hiện quyền của mình.
Hiến xác, bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết vẫn được coi là “quyền”
mặc dù những lợi ích to lớn mà nó đem lại chủ yếu là cho người khác và cho xã
hội, trong khi lợi ích mang lại cho chủ thể quyền hầu như không đáng kể.
“Quyền” ở đây được hiểu là sự tự do ý chí lựa chọn hành động của chủ thể trong
khuôn khổ pháp luật: mỗi cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền tự
quyết định đối với thân thể của mình, không ai có quyền can thiệp hay ngăn cản;
hay người chết dùng vào mục đích y tế sau khi đã được sự đồng ý của người cho,
của thân nhân người chết hoặc người chết có di chúc để lại.
2- Việc ghép mô hoặc một bộ phận cho cơ thể người bệnh phải được sự
đồng ý của người bệnh hoặc thân nhân hay người giám hộ của người bệnh chưa
thành niên.
3- Bộ y tế quy định chế độ chăm sóc sức khoẻ người cho mô hoặc một bộ
phận của cơ thể”.
* Bên cạnh đó, vấn đề này cũng được cụ thể hóa trong trong Điều 10 của
Nghị định ban hành kèm theo Điều lệ khám chữa bệnh và phục hồi chức năng số
23-HĐBT ngày 21/1/1991:
“1- Việc lấy mô bộ phận cơ thể của người sống phải được người đó tự
nguyện và viết thành văn bản.
2- Việc lấy mô hoặc một bộ phận của cơ thể người được tiến hành trong
các trường hợp:
4
_ Người chết có di chúc để lại đồng ý cho mô hoặc một bộ phận cơ thể của
họ
_ Người chết không có di chúc nhưng được thân nhân người chết đồng ý cho
bằng văn bản.
_ Người chết vô thừa nhận.
3- Cơ quan y tế được quyền tiếp nhận, bảo quản và sử dụng mô hoặc một
bộ phận cơ thể con người.
4- Các thủ tục, tiến hành ghép mô hoặc một bộ phận cơ thể con người
được tiến hành như các trường hợp phẫu thuật ghi trong Điều 8 của Điều lệ này.
5- Cơ sở y tế tiến hành lấy mô hoặc một bộ phận cơ thể của người cho có
trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho họ trước, trong và sau khi lấy.”
2.3 Trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến lấy xác
nước góp phần động viên về mặt tinh thần đối với những người hiến tặng.
+ Việc ghi nhận quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết
chính là một bảo đảm cho sự tự do ý chí lựa chọn hành động của các cá nhân
trong lĩnh vực đặc thù và hết sức nhạy cảm này.
Đối với nhà nước: Việc ghi nhận quyền hiến xác, bộ phận cơ thể người sau
khi chết thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với quyền lợi và sức khỏe của
nhân dân. Góp phần hoàn thiện, nâng cao hệ thống y tế để phục vụ ngày càng tốt
hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân và nghiên cứu khoa học.
4. Nguyên tắc ghi nhận, thực hiện và bảo vệ quyền hiến bộ phận cơ thể
Điều 4 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác
2006 quy định về Các nguyên tắc trong việc hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ
thể người và hiến, lấy xác:
“1. Tự nguyện đối với người hiến, người được ghép.
2. Vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học.
3. Không nhằm mục đích thương mại
6
4. Giữ bí mật về các thông tin có liên quan đến người hiến, người được
ghép, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định
khác.”
4.1 Nguyên tắc tự nguyện
Việc cá nhân hiến xác, bộ phận cơ thế sau khi chết là quyền của mỗi cá
nhân, không phải là nghĩa vụ không ai có quyền hoặc cản trở người khác thực
hiện quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết. Hiến xác, bộ phận cơ thế sau
khi chết mang tính tự nguyện, tức là phải có sự thống nhất giữa ý chí bên
trong của cá nhân và sự bày tỏ được ý chí bên ngoài hơn nữa vấn đề hiến xác
hiện còn là một vấn đề rất nhạy cảm nên một cá nhân khi thực hiện việc hiến
xác của mình sau khi chết phải được thể hiện một cách rõ ràng bằng văn bản
chứ không chỉ bằng lời nói như một số giao dịch dân sự thông thường để tránh
Tây Ban Nha, Áo, Bỉ…bắt đầu từ thập niêm 80 của thế kỷ trước, trước đây
vào thập niên 60,70 của thế kỷ trước thì hầu hết các nước đều áp dụng nguyên
tắc “tự nguyện hiến” nhưng việc áp dụng như vậy thì số lượng bộ phận cơ thể
hiến tự nguyện rất ít không áp ứng được nhu cầu chữa bệnh. Việc áp dụng
nguyên tắc “suy đoán ý chí” đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia thì
trong tương lai Việt Nam có thể áp dụng nguyên tắc “suy đoán ý chí” một
cách phù hợp nhằm tăng nguồn thu cung cấp bộ phận cơ thể phục vụ cho sự
nghiệp chữa bệnh cứu người của ngành y tế nước nhà.
4.2 Nguyên tắc “phi thương mại”
Đây là một nguyên tắc rất quan trọng. Việc hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi
chết chỉ nhằm mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa
học, không nhằm mục đích lợi nhuận. Mục đích của hiến xác, bộ phận cơ thể
luôn luôn phải được đặt ra như một sự kiểm soát đặc biệt của pháp luật đối với
vấn đề có tính chất xã hội nhạy cảm này. Nguy cơ các bộ phận cơ thể người trở
thành hàng hoá giao dịch trên thị trường đang hiện hữu ngày càng rõ nét.
8
Pháp luật một số nước thừa nhận việc mua bán bộ phận cơ thể người, nhưng
quan điểm của Việt Nam là không chấp nhận thương mại hoá các bộ phận cơ thể
người. Nguyên tắc “phi thương mại” xuất phát từ đối tượng đặc biệt của quyền
hiến bộ phận cơ thể là “bộ phận cơ thể người”, đây là những bộ phận tạo nên một
con người hoàn chỉnh, gắn liền với sự tồn tại và phát triển bình thường của con
người, không thể là vật đem ra mua bán, trao đổi. Hơn nữa, hiến tặng xác, bộ
phận cơ thể là nghĩa cử vô cùng cao đẹp. Điều quan trọng hơn, một khi hoạt
động “bán” bộ phận cơ thể được thừa nhận sẽ dẫn đến tình trạng hết sức nguy
hiểm – những khoản lợi nhuận từ hoạt động mua bán này có thể làm cho những
kẻ chuyên kinh doanh bộ phận cơ thể người sẵn sàng ép buộc, làm tổn thương
người khác, thậm chí giết người để lấy bộ phận cơ thể họ. Như thế, quyền hiến
xác, bộ phận cơ thể sẽ không được đảm bảo mà quyền con người còn bị ảnh
cho cùng cũng là vì con người.
5.Chủ thể, đối tượng của quyền hiến xác sau khi chết
5.1. Chủ thể của quyền hiến xác.
Cũng giống như chủ thể của các quyền thân nhân khác, chủ thể của quyền
hiến xác sau khi chết cũng là cá nhân. Căn cứ vào Điều 34 BLDS năm 2005 :
“Cá nhân có quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết vì mục đích
chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học…”. Như vậy, đối với
quyền hiến xác pháp luật không có bất kỳ một sự phận biệt nào đối với các chủ
thể có nghĩa là xét về mặt năng lực pháp luật, mọi cá nhân đều có quyền hiến xác
sau khi chết và quyền này được pháp luật tôn trọng bảo vệ và đảm bảo sự bình
đẳng cho các cá nhân thực hiện quyền này. Thậm chí có một số cá nhân bị pháp
luật tước một số quyền công dân vì những lý do khác nhau thì quyền hiến xác
của cá nhân vẫn được pháp luật thừa nhận tôn trọng và bảo vệ.
Quyền hiến xác sau khi chết là một quyền nhân thân quan trọng, mặc dù là
quyền nhưng không phải cá nhân nào muốn thực hiện cũng được mà cá nhân đó
10
phải đạt được những điều kiện nhất định, trong đó một điều kiện không thể
không nói đến là điều kiện về độ tuổi và điều kiện về khả năng nhận thức cũng
như điều khiển hành vi. Tại Điều 5 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể
người hiến, lấy xác có quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống,
sau khi chết và hiến xác”. Bởi vì quyết định hiến xác sau khi chết là một quyết
định quan trọng có ảnh hưởng lớn tới bản thân người hiến cũng như đối với xã
hội, nên pháp luật đòi hỏi người hiến phải là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi
dân sự, nhằm đảm bảo nguyên tắc tự nguyện của việc hiến xác. Quyền hiến xác
thuộc vào nhóm quyền nhân thân nên phải do cá nhân tự mình tham gia xác lập
và thực hiện. Quyền này không thể thông qua người đại diện cho người chưa
thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự vì những người này chưa nhận
Đối tượng của quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết là xác người và
bộ phận cơ thể người sau khi người đó đã chết. Cả thể xác bao gồm các bộ phận
cấu tạo nên một chính thể con người như chân, tay, tim, gan,…Dưới góc độ dinh
học cơ bản tất cả những gì thuộc về cơ thể con người, cấu tạo nên cơ thể con
người được gọi là “bộ phận cơ thể”. Nên việc hiến xác được hiểu là hiến tất cả
các bộ phận của cơ thể của cá nhân sau khi chết.
6. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền hiến xác của cá nhân sau
khi chết.
6.1Yếu tố kinh tế xã hội
Kinh tế phát triển sẽ có điều kiện đầu tư cho nghiên cứu khoa học, trong đó
có khoa học cấy ghép mô, bộ phận cơ thể. Mặt khác, kinh tế phát triển phúc lợi
xã hội ngày càng cao, việc hiến xác, bộ phận cơ thể người sẽ được Nhà nước đài
thọ hoặc lập quỹ để hỗ trợ các bệnh nhân; đồng thời Nhà nước sẽ cho phép thu
hút nhiều loại hình bảo hiểm hơn để hỗ trợ hiệu quả cho người bệnh.
12
Kinh tế phát triển thì sẽ có điều kiện đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại,
quy mô hơn; đội ngũ chuyên gia y tế sẽ có điều kiện tiếp thu nhiều hơn những
thành tựu y học trên thế giới. Điều này sẽ đảm bảo cho việc lấy và ghép bộ phận
cơ thể có khả năng thành công cao hơn
6.2 Phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa
Đối với vấn đề vô cùng nhạy cảm như Hiến xác, bộ phận cơ thể người sau
khi chết thì phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa chiếm một vị trí vô
cùng quan trọng, nó có sức mạnh điều chỉnh hành vi cũng như quan niệm của
người hiến tặng.
Tín ngưỡng dân gian của người Việt Nam mà đặc biệt là phong tục ma
chay quan niệm: cái chết không phải là sự kết thúc sự sống mà là chỉ là sự
chuyển giao từ dương gian sang âm thế. Người ta co rằng ở âm thế, con người
gia vào việc thực hiện quyền này để cứu sống những người khác hoặc để phục vụ
cho mục đích nghiên cứu khoa học.
6.4Rào cản từ những người thân của người hiến xác, bộ phận cơ thể
_ Quyết định hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết là một quyết định khó
khăn không chỉ với riêng người hiến tặng mà còn với gia đình, người thân của
họ. Mất đi người thân yêu là việc hết sức đau lòng, nhưng việc chứng kiến người
thân sau khi nhắm mắt vẫn phải chịu giày vò về thể xác là việc vô cùng đau xót
mà không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận ngay cả khi đó là tâm nguyện, là di
chúc của người chết.
Phó giám đốc Ngân hàng Mắt, bác sỹ Nguyễn Hữu Hoàng tâm sự: “Một
lần, Ngân hàng Mắt nhận được điện thoại báo tin người tình nguyện hiến giác
mạc vừa qua đời. Đó là trường hợp bà nội hiến cho cháu. Khi làm thủ tục, các
con đồng ý hết rồi, kỹ thuật viên đang chuẩn bị dụng cụ thì có một người cháu
(gọi người quá cố là bà) vác dao xông tới ngáng đường. Người này doạ: "Ai lấy
giác mạc của bà thì chém chết! "
14
Ngay cả khi không vấp phải rào cản chuyên môn, không vấp phải rào cản
về mặt luật pháp và được sự chấp thuận của người đã khuất nhưng việc hiến xác,
bộ phận cơ thể sau khi chết lại vấp phải sự phản đối quyết liệt của những thành
viên trong gia đình người đã khuất. Trên thực tế, đối với những trường hợp này,
người thầy thuốc không tiến hành lấy xác, bộ phận cơ thể của người chết. Theo
tâm sự của bác sĩ Nguyễn Hữu Hoàng: “Dù sao, đây cũng là vấn đề tâm linh.
Mình làm việc thiện thôi nhưng người ta không chấp nhận thì mình không cố để
làm. Cố tình lấy mà không được sự đồng thuận tuyệt đối thì hậu quả để lại là họ
hàng sẽ sứt mẻ về mặt tình cảm”.
II. THỰC TIỄN VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN HIẾN XÁC CỦA CÁ NHÂN
SAU KHI CHẾT Ở VIỆT NAM CŨNG NHƯ MỘT SÔ NƯỚC TRÊN THẾ
GIỚI.
hạn chế.
Để gia tăng hơn nữa số người hiến xác, chúng ta phải tăng số lượng những
người hiến mang tính chất tự nguyện chứ không thể chỉ chờ vào nguồn hiến từ
những người thân của bệnh nhân vì như thế là không thể đủ. Do đó, việc lấy mô,
bộ phận cơ thể ở người hiến tự nguyện ngoài huyết thống và đặc biệt là ở người
hiến sau khi chết là vô cùng cấp thiết.
Có rất nhiều nguyên nhân khiến số lượng người hiến xác còn hạn chế:
+ Thứ nhất, do phong tục tập quán của người Việt ta “chết phải toàn thây” nên
việc đụng chạm dao kéo vào người chết là một điều cấm kị.
+ Thứ hai, do ảnh hưởng tôn giáo chủ yếu là theo Phật giáo thì người chết chỉ
là chấm dứt sự tồn tại ở thế giới này nhưng khi chết họ sẽ tồn tại ở một thế giới
khác nên sự nguyên vẹn của cơ thể là một điều quan trọng hơn nữa sau khi chết
là lúc chuyển giao từ thế giới này sang thế giới khác nên hạn chế việc đụng chạm
vào người chết.
16
+ Thứ ba, do một số người còn chưa biết đến quyền này do ít tiếp cận đến các
phương tiện thông tin đại chúng, hoặc biết nhưng chưa hiểu hết được những lợi
ích mạng lại cho người khác từ việc làm của mình hoặc do người thân ngăn cản.
1.2 Vấn đề hiến xác của tử tù còn gặp nhiều rào cản pháp lí.
Tháng 10-2007, tử tù Nguyễn Phước Đỉnh bị tuyên phạt tử hình về tội giết
người ở Tiền Giang cũng viết đơn gửi TAND Tối cao xin được hiến xác cho y
học sau khi thi hành án. Trong đơn tử tù này nói mình khỏe mạnh, nhiều bộ phận
cơ thể vẫn còn có ích cho những ca bệnh hiểm nghèo.
Tháng 9/2009 phạm nhân Nguyễn Văn Hải (SN 1980) đã bị Tòa Phúc thẩm
TAND Tối cao tuyên án tử hình về tội giết người và cướp tài sản; đã viết đơn gửi
đến chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết bày tỏ ý muốn xin được thi hành án và nêu
nguyện vọng xin được hiến xác cho khoa học.
Pháp luật các nước bên cạnh quy định nguyên tắc chung về hiến xác được cả
thế giới thừa nhận về vấn đề này thì thùy theo thực tế, truyền thống, văn hóa, đất
nước cũng có những quy định riêng. Ở Pháp, trong các đạo luật về đạo đức hy
sinh quy định việc lấy, ghép mô bộ phận cơ thể người phải tôn trọng các nguyên
tắc như: tôn trọng cơ thể người; nguyên tắc phải có sự đồng ý của đương sự
(Điều L.1211-2 Bộ Luật Y tế cộng đồng Cộng hòa Pháp); nguyên tắc an toàn về
y tế và cẩn trọng (Điều L.1211-6/7 Bộ Luật Y tế cộng đồng Cộng hòa Pháp); và
ở Pháp còn áp dụng nguyên tắc vô danh và nguyên tắc này chỉ áp dụng trong
trường hợp lấy mô, bộ phận cơ thể của người chết để cấy, ghép, nguyên tắc này
sẽ không áp dụng với người hiến khi còn sống. Đồng thời ở Pháp đã áp dụng cơ
chế suy đoán sự đồng ý, tức là phát hiện một người bị chết, cơ sở y tế có thẩm
quyền kiểm tra trên hệ thống thông tin điện từ xem người đó có đăng ký từ chối
hiến không, nếu người đó không đăng ký thì suy đoán rằng người đó đã đồng ý
hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết. Tuy nhiên trong trường hợp này nếu gia
đình người hiến không đồng ý thì cơ sở y tế cũng không lấy xác, bộ phận cơ thể
18
của người đó. Nên vấn đề hiến xác, bộ phận cơ thể của người sau khi chết của cá
nhân rất phổ biến so với nước ta. Ở các nước theo hệ thống suy đoán đồng ý như:
Pháp, Na Uy, Bồ Đào Nha, Áo, Bỉ,…pháp luật coi những người không thể hiện
quan điểm đối lập với việc hiến mô, bộ phận cơ thể khi họ còn sống nghĩa là họ
sẵn sàng hiến mô, bộ phận cơ thể của họ khi chết. Còn ở những nước theo hệ
thống chủ đồng ý như Anh, Mỹ, Đức, Hà Lan…trái lại chỉ những bệnh nhân
trước khi chết thể hiện nguyện vọng muốn hiến thì mới được coi là người hiến.
Cả hai mô hình của đồng ý, chủ động, suy đoán đều dựa trên nguyên lý “sự
mong muốn của người chết là cơ sở quyết định và nó phải được tôn trọng”. Thực
tế ở Tây Ban Nha cho thấy cơ chế suy đoán sự đồng ý mang lại hiệu quả thu gom
mô, bộ phận cơ thể cao hơn cơ chế chủ động đồng ý. Căn cứ vào biểu đồ UNOS
(Mỹ) cung cấp tình hình hoạt động lấy tạng ở Mỹ chúng ta thấy số tạng lấy từ
trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho các cán bộ y tế, cũng như những kinh
nghiệm trong việc quản lí, cơ chế chính sách của nhà nước để việc quyền này
ngày càng được người dân hưởng ứng
KẾT LUẬN
Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết mới được ghi nhận
trong Luật dân sự Viêt Nam từ năm 2005 nên nó còn khá mới mẻ, đặc biệt, nó
liên quan đến những vấn đề tâm linh hết sức nhạy cảm. Vì vậy đây là một đề tài
khó, phạm vi nghiên cứu rộng, đòi hỏi cần phải có một vốn kiến thức xã hội
cũng như vốn kiến thức pháp luật sâu rộng. Tuy nhiên, với khả năng và vồn kiến
thức còn hạn chế của bản thân nên bài viết trên còn nhiều thiếu sót mong được
các thầy cô góp ý để em có thể hoàn thiện hơn bài viết của mình.
20
MỤC LỤC
Danh mục tài liệu tham khảo……………………………………………………0
Lời nói đầu……………………………………………………………………….1
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ XÁC VÀ QUYỀN HIẾN XÁC CỦA CÁ
NHÂN SAU KHI CHẾT…………………………………………………………1
1.Đặc điểm của quyền hiến xác của cá nhân sau khi chết……………………….1
1.1. Với tư cách là một quyền nhân thân, quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của cá
nhân sau khi chết mang những đặc điểm chung của quyền nhân thân…………..1
1.2. Đặc điểm riêng của quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi
chết…………………………………………………………………….…………2
2.Việc ghi nhận quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết trong các văn bản
pháp luật……………………………………………………………..………….3
2.1 Trong Bộ Luật Dân sự năm 2005…………………………………………….3
2.2 Trong Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989…………..……………………..4
2.3 Trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến lấy
CƠ THỂ CỦA CÁ NHÂN SAU KHI CHẾT………………………………….19
Kết
luận…………………………………………………………………………….20
22
23