MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU………………………………………………………..
NỘI DUNG
I> KHÁI QUÁT CHUNG
1> Khái niệm người khuyết tật và các nguyên tắc cơ bản……………….
1.1> Khái niệm: …………………………………………………………..
1.2> Các nguyên tắc cơ bản của luật người khuyết tật………………
2> Nội dung nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử………….
II> QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC GHI NHẬN
NGUYÊN TẮC NÀY.
1> Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc 1948………………………
2>Tuyên bố của tổ chức lao động quốc tế tại Philadelphia năm 1944…
3>Công ước của quốc tế về quyền của NKT năm 2006………………….
4> Cơ sở của pháp luật Việt Nam liên quan đến NKT…………………..
III> LIÊN HỆ THỰC TIỄN
1>Thành tựu đạt được…………………………………………………….
2> Những tồn tại……………………………………………………….
3>Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc……………
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI MỞ ĐẦU
Các vấn đề liên quan đến người khuyết tật đang ngày càng được xem xét
dưới góc độ quyền của con người. Tư tưởng cơ bản của luật nhân quyền, dưới
góc độ lấy nhân phẩm là vấn đề cốt lõi, dựa trên quan điểm tất cả mọi người
đều có quyền bình đẳng, đặc biệt là quyền được sống một cuộc sống đầy đủ và
có phẩm giá. Điều này thể hiện một chân lý rất đơn giản nhưng cũng rất quan
trọng rằng người nào cũng là con người. Tương ứng với quyền của từng cá nhân,
Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ, tôn trọng và thực thi các quyền con người.
dạng tất khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.” .
Dưới góc dộ khoa học, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất
về NKT như sau: “ NKT là người bị khiếm khuyết một phần hoặc nhiều bộ
phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và
lâu dài trong việc tham gia của NKT vào các hoạt động xã hội trên cơ sở bình
đẳng với các chủ thể khác”.
Qua khái niệm này nổi lên 3 nội dung quan trọng đó là:
- NKT không xem xét đến nguyên nhân của khuyết tật;
- Nhận dạng những khiếm khuyết của cơ thể;
- Gặp cản trở, khó khăn trong những hoạt động xã hội so với những
người khác.
1.2> Các nguyên tắc cơ bản của luật người khuyết tật.
Dưới góc độ lý luận nhà nước và pháp luật, các nguyên tắc của pháp luật
được hiểu là quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong quá trình ban hành, thực thi, áp
dụng, bổ sung pháp luật. Với tư cách là thành viên của ILO và tham gia ký công
ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật, pháp luật Việt Nam cần phải
và bước đầu nội luật hóa các nguyên tắc đã được ghi nhận trong công ước. Song
khác với một số nước, luật khuyết tật Việt Nam năm 2010 không có điều luật cụ
thể về các nguyên tắc. Tuy nhiên, trên cơ sở nội dung pháp luật đã được ban
hành và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam có thể xác định một số nguyên tắc cơ
bản của pháp luật người khuyết tật như sau.
- Nguyên tắc tôn trọng và đảm bảo quyền của người khuyết tật.
- Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử.
- Tham vấn người khuyết tật, đối tác xã hội và tổ chức xã hội.
- Đảm bảo quyền được tiếp cận, hỗ trợ và điều chỉnh hợp lý đối với người
khuyết tật.
- Đảm bảo hội nhập và thực thi các cam kết quốc tế.
Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật
đó liệt kê các quyền cơ bản mà mọi cá nhân được hưởng. Nó bao gồm 30 điều
đã được xây dựng trong các Thỏa ước quốc tế, thỏa ước nhân quyền khu vực,
hiến pháp và luật pháp quốc gia. Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế bao gồm Tuyên
ngôn Quốc tế Nhân quyền, Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và
Văn hóa, và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị cùng hai Nghị
định thư không bắt buộc I và II. Năm 1966, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc đã
thông qua hai Công ước trên, qua đó hoàn thành cơ bản Bộ Luật Nhân quyền
Quốc tế.
Đây là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi quốc gia và mọi dân tộc.
Tinh thần của bản Tuyên ngôn là dùng truyền đạt và giáo dục để nỗ lực thúc đẩy
các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc tôn trọng các quyền con người cơ bản
được đưa ra trong Tuyên ngôn. Bản tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền này
là thước đo chung cho tất cả các nước và tất cả các dân tộc đánh giá việc thực
hiện mục tiêu mà mọi cá nhân và mọi tổ chức trong xã hội, trên cơ sở luôn ghi
nhớ Bản tuyên ngôn này, sẽ phấn đấu thúc đẩy sự tôn trọng các quyền và tự do
cơ bản của con người thông qua truyền bá và giáo dục, cũng như sẽ phấn đấu
đảm bảo cho mọi người dân, ở chính các nước thành viên của Liên Hợp Quốc và
ở các lãnh thổ thuộc quyền quản lý của mình, công nhận và thực hiện những
quyền và tự do đó một cách có hiệu quả thông qua những biện pháp tích cực,
trong phạm vi quốc gia hay quốc tế
Điều 1 đã quy định “Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân
phẩm và quyền. Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm và vì thế
phải đối xử với nhau trên tinh thần bác ái.”
2: Tuyên bố của tổ chức lao động quốc tế tại Philadelphia năm 1944.
Tuyên bố Philadelphia được thông qua tại Hội nghị Lao động Quốc tế tổ
chức năm 1944, trong đó chỉ rõ: “Tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc,
tín ngưỡng, hoặc giới tính đều có quyền được mưu cầu một cuộc sống vật chất
đầy đủ, được phát triển tinh thần trong điều kiện tự do và đảm bảo nhân phẩm,
định mọi tiếp cận của NKT đều dựa trên quyền của NKT được quy định trong
Công ước. Công ước còn nhằm thúc đẩy, bảo vệ và đảm bảo NKT được hưởng
đầy đủ và bình đẳng tất cả quyền con người và quyền tự do cơ bản, đồng thời,
thúc đẩy sự tôn trọng phẩm giá vốn có của NKT. Ngày 22/10/2007, Việt Nam đã
ký cam kết tham gia Công ước về quyền của NKT. Đến nay, Công ước đã được
136 quốc gia ký kết và 41 quốc gia phê chuẩn. Như vậy, kể từ ngày 03/5/2008,
Công ước đã có hiệu lực trên toàn hành tinh. ở Việt Nam, các cơ quan, tổ chức
hữu quan đang tích cực chuẩn bị đề án để báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình cơ
quan có thẩm quyền phê chuẩn Công ước này. Công ước quốc tế về quyền của
NKT dành Điều 27 để quy định rõ quyền làm việc của NKT: "Các quốc gia
thành viên công nhận quyền được làm việc của NKT, trên cơ sở bình đẳng với
người khác; trong đó bao gồm cả quyền có cơ hội kiếm sống bằng một công việc
được tự do lựa chọn hoặc chấp nhận trong thị trường lao động và môi trường
làm việc mở, hòa nhập và dễ tiếp cận đối với NKT."
4: Cơ sở của pháp luật Việt Nam liên quan đến NKT.
Bắt đầu với Điều 50 của Hiến pháp năm 1992, tất cả công dân Việt Nam
đều được bảo đảm quyền xã hội, văn hóa, kinh tế và chính trị. Hiến pháp Việt
Nam hơn nữa cũng nêu rằng NKT, người già, người cơ cực và trẻ em mồ côi
“được nhà nước bảo trợ”. Những luật này gồm:
- Luật người khuyết tật 2010;
- Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989;
- Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 1999;
- Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
- Luật phổ cập giáo dục tiểu học năm 1999;
- Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004;
- Luật Giáo dục năm 2005, Luật Đào tạo dạy nghề 2006, Luật Công nghệ thông
tin năm 2006, Luật thể dục thể thao năm 2006, Luật Giao thông đường bộ năm
2008.
- Luật lao động;
- NĐ28/2010/NĐ- CP;
cách tốt nhất các dịch vụ ý tế, để họ được đảm bảo quyền lợi của mình giống
như nhưng con người bình thường khác. Một thông tin gần đây nhất cho thấy,
Ban Tuyên giáo Trung ương đã tổ chức Hội thảo giới thiệu tài liệu Hướng dẫn
công tác thông tin, giáo dục, truyền thông nhằm xóa bỏ kỳ thị và phân biệt đối
xử liên quan đến người khuyết tật. Thông qua đó, tài liệu đã định hướng các nội
dung chính trong công tác thông tin, giáo dục và truyền thông nhằm giảm thiểu
sự phân biệt đối xử kỳ thị liên quan tới người khuyết tật thông qua các phương
tiện truyền thông đại chúng, các hoạt động giáo dục truyền thông khác. Có thể
nói đây là hoạt động hết sức bổ ích và Chính phủ ta đã đề ra, nó giúp cho NKT
được hòa nhập cộng đồng một cách tôt nhất.
Về dịch vụ, vui chơi, giải trí thì người khuyết tật đặc biệt nặng được:
Để đảm bảo quyền lợi cho NKT trong khi tham gia các dịch vụ về vui
chơi, giải trí, thể dục thể taho, du lịch, Nhà nước ta đã có những chính sách hỗ
trợ giúp cho NKT được tiếp cận gần hơn đôi với những dịch vụ công như thế
này.
- Miễn giá vé dịch vụ tối thiểu là 50% khi trực tiếp sử dụng dịch vụ văn
hóa, thể thao, giải trí và du lịch tại các cơ sở văn hóa, thể thao như: Bảo tàng, di
tích văn hóa - lịch sử, thư viện và triển lãm; nhà hát, rạp chiếu phim; các cơ sở
thể thao khi diễn ra các hoạt động thể dục, thể thao trong nước; các cơ sở văn
hóa, thể thao, giải trí và du lịch khác.
- Giảm tối thiểu 50% giá vé, giá dịch vụ khi trực tiếp sử dụng dịch vụ văn
hóa, thể thao, giải trí và du lịch tại các cơ sở văn hóa, thể thao.
- Miễn giá vé, giá dịch vụ khi tham gia giao thông bằng xe buýt; được
giảm giá vé, giá dịch vụ khi tham gia giao thông trên các tuyến vận tải nội địa
bằng các phương tiện sau: Giảm tối thiểu 15% đối với máy bay; giảm tối thiểu
25% đối với tàu hỏa, tàu điện, tàu thủy, xe ôtô vận tải khách theo tuyến cố định.
Thực tế cuộc sống đã chứng minh, NKT luôn khát khao sự vươn lên để
hòa nhập, nhiều người trong số họ đã làm cho xã hội thay đổi cách nhìn nhận
trường chuyên biệt trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, được thành lập từ
năm 1977. Trước năm 1998, trường PTCS Xã Đàn chỉ nhận chăm sóc, giáo dục,
phục hồi chức năng và dạy nghề cho học sinh khiếm thính trên địa bàn Thủ Đô.
Từ năm 1998, để tạo môi trường hoà nhập cho học sinh khuyết tật, trường PTCS
Xã Đàn đã tuyển sinh các lớp mầm non, tiểu học và THCS bình thường. Đây là
môi trường giáo dục thân thiện và nhân văn, vừa mang lại lợi ích cho trẻ khuyết
tật cũng như học sinh bình thường.Từ những năm tháng khó khăn trước đây
cũng như hiện nay, trường PTCS Xã Đàn luôn luôn là một trong những trường
hàng đầu về giáo dục trẻ khuyết tật của Thủ Đô và cả nước.
Hiện nay trường PTCS Xã Đàn đang chăm dạy 400 học sinh, trong đó có
gần 50% học sinh khiếm thính và một số học sinh kèm theo những tật chứng
khác như chậm phát triển trí tụê, tự kỷ, khuyết tật vận động và những học sinh
có vấn đề hành vi. Một số học sinh học ở các lớp riêng biệt, có giáo viên riêng,
được đào tạo về chuyên ngành giáo dục đặc biệt, được gọi là học sinh học
chuyên biệt. Những học sinh có nhiều tiến bộ, có hành vi ứng xử phù hợp, có
khả năng hoà nhập cộng đồng tốt được chuyển sang học ở các lớp bình thường,
được gọi là học hoà nhập. Sau 15 tuổi, 100% học sinh khiếm thính được hướng
nghiệp dạy nghề. Hiện nay, trường có khả năng tiếp nhận từ 600 đến 700 học
sinh, tạo môi trường hoà nhập cho học sinh khiếm thính từ bậc học mầm non
đến THCS. Để đảm bảo môi trường họp tập tốt cho các học sinh, trường đã trang
bị hệ thống cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, với khuôn viên rộng rãi, môi trường
giáo dục thân thiện;đội ngũ giáo viên được đào tạo chính quy;có phòng tin học,
thư viện đạt chuẩn; có phòng tập đa năng, có sức chứa 300 – 350 người; có bếp
ăn bán trú; phòng tư vấn tâm lý; phòng dạy cá nhân cho học sinh khiếm thính.
Ngoài ra, để tăng cường hiệu quả của công tác giáo dục, trường còn xây dựng và
phát triển các mối quan hệ quốc tế với các tổ chức trong và ngoài nước như Hà
Lan, Úc, Nhật Bản,… trường còn là một trong hai trường được Hội bảo vệ
quyền trẻ em chọn làm đơn vị thí điểm dạy kỹ năng sống và quản lý tài chính –
hỏi cho rằng, NKT là những người "đáng thương"; 40% số người cho rằng, NKT
có thói quen ỷ lại vào người khác; 66% cho rằng NKT không thể có cuộc sống
"bình thường"; 76% cho rằng nên gửi NKT vào các Trung tâm bảo trợ xã hội.
NKT phải đối mặt với sự kỳ thị ở nhiều hoàn cảnh khác nhau: gia đình, cộng
đồng, trường học, bệnh viện, nơi làm việc... Lý do một phần do nhận thức chưa
đầy đủ của xã hội về quyền của NKT và chính sách của Nhà nước dành cho
NKT. Có đến 60% số người được hỏi chưa bao giờ nghe đến Pháp lệnh về người
tàn tật, 23% từng nghe đến nhưng không biết về nội dung văn bản này. Trong
cuộc sống, NKT phải gánh chịu nhiều thiệt thòi do tình trạng khuyết tật gây ra,
từ việc thực hiện những công việc sinh hoạt hằng ngày, học tập, việc làm đến
tiếp cận các dịch vụ y tế, kết hôn, sinh con và tham gia các hoạt động xã hội...
Sự phân biệt đó biểu hiện đau lòng trước thực tế người ta cho rằng NKT
không được yêu, không nên yêu. Tại sao họ cũng như những người bình thường
như chúng ta, họ cũng có cảm xúc, những rung động và mong muốn được bộc lộ
những tình cảm ấy với người bạn của mình, bên cạnh sự tự ti, những mặc cảm
về bản thân thì họ còn không được sự chấp nhận của cộng đồng xã hội, đặc biệt
là cái nhìn không đúng từ phía gia đình người mà họ yêu thương. Trong một
chương trình văn nghệ do CLB Phụ nữ khuyết tật trực thuộc Trung tâm Khuyết
tật và Phát triển (DRD) thực hiện vào tối 23/12/2011, tại hội quán Đời Rất Đẹp,
số 91/6N Hoà Hưng, P.12, Q.10, Tp. HCM, có một là thư cảm động như thế này:
“Hai đứa thường xuyên đối mặt với sự phản đối kịch liệt của gia đình và những
người xung quanh. Gia đình em ra sức bảo bọc người con khuyết tật rất kỹ, bảo
bọc bằng tình thương đến lạ lùng!? Tình thương đó là một định kiến hà khắc về
người khuyết tật - không thể tự nuôi sống bản thân và sẽ gia tăng gánh nặng
cho gia đình nếu kết hôn và sinh con - càng gây cho em thêm nỗi mặc cảm, tự ti,
cơ hội đón nhận tình yêu của anh càng mong manh”. Quả thật, lá thư này đã
thay cho lời muốn nói, phản ánh rõ nét những rào cản của sự phân biệt đối xử,
sự kỳ thị từ dư luận và bản thân người khuyết tật, đã cướp đi rất nhiều cơ hội
vì vậy sự tiếp cận đối với người già, người KT và trẻ nhỏ là vô cùng khó khăn.
Có những NKT lên được xe rồi mà vẫn bị đuổi xuống trước cái nhìn ái ngại của
nhiều hành khách khác với lí do là NKT. Câu hỏi đặt ra ở đây không chỉ là sẽ
còn bao nhiêu lâu nữa Hà nội sẽ có những tuyến xe bus thân thiện hơn với NKT
mà dó còn là câu hỏi dành cho xã hội về sự tôn trọng NKT, về sự công bằng đối
với NKT như những con người bình thường khác??
Hơn nữa, Ở Việt Nam vẫn chưa có một hệ thống đồng bộ về giao thông,
công trình xây dựng, vệ sinh, hình ảnh… để người khuyết tật hòa nhập cộng
đồng dễ dàng. Đường tiếp cận cho người dùng xe lăn, thiết bị hỗ trợ hướng dẫn
bằng âm thanh cho người khiếm thị ở các hè phố, tòa nhà, bến xe, xe buýt là
không có hoặc chỉ tính trên đầu ngón tay mà thôi.
Bên cạnh những tồn tại về giao thông thì còn không ít những tồn tại về y
tế, giáo dục và cuộc sống. Đặc biệt, nhiều người cho rằng, NKT, nhất là người
khiếm thính, khiếm thị và thiểu năng trí tuệ không nên đi học, vì có học họ cũng
chẳng tiếp thu được gì mà còn ảnh hưởng đến học sinh khác. Chính bởi nhận
thức này mà nhiều NKT không bao giờ được đến trường. Số được đến trường thì
gặp nhiều khó khăn trong đi lại, giao tiếp, học tập, cơ sở vật chất thì thiếu thốn,
nảy sinh tâm lý chán nản, dẫn tới bỏ học. Quan niệm NKT không thể tự nuôi
sống bản thân và sẽ làm tăng thêm gánh nặng cho gia đình là những suy nghĩ cố
hữu mang tính thành kiến cản trở NKT tiến tới hôn nhân với người mình yêu.
Hơn nữa, NKT chủ yếu sông dựa vào gia đình - chỗ dựa và là nguồn giúp đỡ
chính đối với họ. Nhưng khó khăn càng trở nên trầm trọng hơn khi với nhiều
NKT, họ bị phân biệt đối xử ngay từ chính trong gia đình mình. Họ bị bố mẹ,
anh chị em trong nhà coi là gánh nặng nên thường xuyên bị lăng mạ, sỉ nhục,
thậm chí còn bị bỏ rơi, không chăm sóc. Số ít còn bị bố mẹ bắt đi ăn xin hoặc bị
khóa xích trong nhà. NKT cũng thường gặp nhiều khó khăn trong việc làm. Họ
thường bị từ chối, hoặc có nhận vào làm thì chỉ được giao những công việc đơn
giản, thu nhập thấp, không có cơ hội thăng tiến và phát huy chuyên môn, ít khi
cơ thể mà thôi. Vì vậy, sự phân biệt, kỳ thị họ là một thái độ vô cùng đáng trách.
Chúng ta phải đấu tranh để xóa bỏ những rào cản đó, để cho NKT được hòa
nhập cộng đồng, được sống chung với thế giới của những con người bình
thường khác.
Hơn nữa, một điều thiết yếu là chúng ta cần phải nâng cao ý thực của
moico người bằng cách tuyên truyền sâu rộng chính sách pháp luật của Nhà
nước ta đến mọi người dân về NKT và các loại ấn phẩm tuyên truyền tại cộng
đồng, cơ quan, trường học về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà
nước. Để cho họ có cía nhìn toàn diện và thân thiện hơn đối với NKT, tạo điều
kiện tốt nhất để NKT có thể dễ dáng hòa nhập cộng đồng, xóa bỏ những rào cản,
sự bất bình đẳng trong xã hội, hướng đễn một cuộc sống tươi đẹp và văn minh
hơn.
KẾT LUẬN
Trong cuộc sống, khi những người cha, người mẹ mang nặng đe đau đứa
con dứt ruột mình sinh ra, ai chẳng muốn đứa con đó khỏe mạnh, thông minh,
lanh lợi và có một tương lai tươi sáng. Nhưng không phải ai cũng đat j được ước
nguyện đó dù nó rất là giản đơn và nhỏ nhoi thôi. Khi đứa con do mình sinh ra
không hoàn hoản, khi nó không going như những đứa trẻ bình thường khác, khi
nó bị khuyết đi một phần nào đó trên cơ thể thì nỗi đau đó của những bậc làm
cha làm mẹ có mấy ai thấu hiểu. do vậy, chúng ta hi vọng rằng trong một tương
lai không xa, xã hội chúng ta sẽ không còn những bất công, không còn những kỳ
thị, sự phân biệt đối xư nữa với NKT. Hãy tạo mói điều kiện tốt nhất để NKT, họ
có thể hòa nhập được với cộng đồng.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Người khuyết tật 2010;
2. Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 hướng dẫn Luật Người khuyết tật