MỤC LỤC
1
LỜI MỞ ĐẦU
Bộ máy nhà nước ta là một hệ thống các cơ quan có mối quan hệ mật thiết
với nhau theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và
phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp. Do vậy, Chủ tịch nước - một trong những cơ quan quan trọng hàng
đầu trong bộ máy nhà nướcmuốn hoàn thành tốt vai trò, trách nhiệm của mình thì
phải gắn bó chặt chẽ với các cơ quan nhà nước khác, đặc biệt là với các cơ quan
nhà nước ở trung ương. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin chọn đề tài: “Mối
quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước ở trung ương theo pháp luật
hiện hành” cho bài tập lớn của mình.
NỘI DUNG
I. Khái quát về chủ tịch nước
Trong hệ thống bộ máy nhà nước của các nước hiện đại hầu như đều có một
thiết chế đặc biệt với những tên gọi khác nhau như: Vua, Hoàng đế, Tổng thống,
Đoàn chủ tịch, Hội đồng liên bang, Hội đồng nhà nước, Chủ tịch nước. Những cơ
cấu này cũng có vị trí rất khác nhau trong bộ máy nhà nước ở từng nước nhưng đều
có một quy định chung là Nguyên thủ Quốc gia – Người đứng đầu Nhà nước, đại
diện nhà nước về đối nội và đối ngoại.
Trong cơ chế nhà nước ta, thiết chế nguyên thủ quốc gia được tổ chức khác nhau
qua các bản Hiến pháp. Ở Hiến pháp năm 1946 và 1959 là Chủ tịch nước. Đến
Hiến pháp năm 1980 là Hội đồng nhà nước, và hiện nay,tại Hiến pháp năm 1992 trở
lại hình thức Chủ tịch nước. Sự hiện diện trở lại thiết chế Chủ tịch nước cá nhân
vừa tiếp thu những ưu điểm của mô hình lần trước, vừa giữ được sự gắn bó giữa
2
Theo điều 83 Hiến pháp năm 1992: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của
nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam”. Mà “Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt cho
nhà nước về đối nội và đối ngoại” (Điều 101 Hiến pháp năm 1992). Cho nên, để
thực hiện tốt các chức năng là người đứng đầu của mình, giữa Chủ tịch nước và
Quốc hội có mối quan hệ đặc biệt, gắn bó chặt chẽ với nhau, biểu hiệu cụ thể như
sau:
Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra trong số đại biểu Quốc hội theo sự giới thiệu
của Ủy ban thường vụ Quốc hội, với nhiệm kỳ như nhiệm kỳ của Quốc hội; chịu
trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội (Điều 102 Hiến pháp năm 1992).
Quy định này nhằm đảm bảo sự gắn bó và tính trách nhiệm của Chủ tịch nước
trước Quốc hội.
Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước thì cũng có quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm, bỏ
phiếu tín nhiệmChủ tịch nước (Khoản 7 Điều 84 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ
sung năm 2001). Điều này được áp dụng khi Chủ tịch nước mắc sai phạm, có lỗi
thiếu trách nhiệm gây ra ảnh hưởng lớn đến quốc gia, hoặc vì lý do sức khỏe…
Quốc hội quy định tổ chức và hoạt động của Chủ tịch nước (Khoản 6 Điều 84
Hiến pháp năm 1992), đồng thời có quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước
trái với Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội (Khoản 9 Điều 84 Hiến Pháp
1992).
Quốc hội phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách thành viên hội
đồng quốc phòng và an ninh (Khoản 7 Điều 84 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ
sung năm 2001).
Chủ tịch nước có quyền đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ
tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Khoản 3 Điều 103 Hiến pháp năm 1992).
4
viên hoặc động viên cục bộ, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng
địa phương (Khoản 5, Khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 1992).
Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch nước phải trả lời
trước Quốc hội tại kỳ họp, trong trường hợp cần điểu tra thì Quốc hội có thể quyết
định cho trả lời trước Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội
hoặc cho trả lời bằng văn bản (Điểu 98 Hiến pháp năm 1992).
Theo Điều 105 Hiến pháp năm 1992: “Chủ tịch nước có quyền tham dự các
phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội”. Quy định này nhằm mục đích tạo điều
kiện để Chủ tịch nước theo sát được ý kiến của tập thể Ủy ban thường vụ Quốc hội
khi thảo luật và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.
Khoản 7 Điều 103 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001 quy định:
Chủ tịch nước có quyền “Đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp
lệnh trong thời hạn 10 ngày từ ngày pháp lệnh đó được thông qua; nếu pháp lệnh
đó vẫn không nhất trí, thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần
nhất”.
Những quy định trên cho thấy tính phái sinh gắn bó giữa Chủ tịch nước với
Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuy hiện nay Chủ tịch nước được tách
thành một thiết chế riêng nhưng vẫn nghiêng về phía Quốc hội, gắn bó chặt chẽ với
Quốc hội.
2. Quan hệ giữa Chủ tịch nước với Chính phủ
Theo Điều 109 Hiến pháp năm 1992: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của
Quốc hội, là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam”. Cho nên với chức năng đại diện cho nhà nước, Chủ tịch nước
phải có mối quan hệ mật thiết với Chính phủ, góp phần tạo nên sự thống nhất và
phân công giữa các cơ quan với nhau. Điều này được thể hiện như sau:
Tại Điều 103 Hiến pháp năm 1992 quy định như sau:
6
và các tòa án khác… ”; Điều 137: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc
tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc
chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,
đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, đảm bảo cho
pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”. Quan hệ giữa Chủ tịch
nước với hai cơ quan trên cũng là mối quan hệ quan trọng. Theo các quy định của
pháp luật hiện hành, mối quan hệ đó biểu hiện như sau:
Điều 103 Hiến pháp năm 1992 quy định:
- Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao (Khoản 3).
- Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án, Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối
cao (Khoản 8).
Trong thời gian Quốc hội không họp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chịu
trách nhiệm và báo cáo công tác trước Chủ tịch nước (Điều 16, Luật tổ chức Tòa án
nhân dân năm 2002); Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm
và báo cáo công tác trước Chủ tịch nước (Điều 9 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân
dân năm 2002).
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng như Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao có quyền trình Chủ tịch nước ý kiến của mình về những trường hợp
người bị kết án xin ân giảm án tử hình (Khoản 6 Điều 33 Luật tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân năm 2002; Khoản 4 Điều 25 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002).
Chủ tịch nước bằng quyết định của mình, thành lập Hội đồng đặc xá để tham mưu,
tư vấn giúp Chủ tịch nước trong việc xem xét quyết định đặc xá. Hội đồng đó có sự
tham gia của các cấp lãnh đạo của cơ quan tư pháp, cơ quan bảo vệ pháp luật.
Ví dụ: Theo quy định số 697/2010/QĐ-CTN của Chủ tịch nước, Tòa án nhân
dân tối cao có nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn và tập hợp hồ sơ, danh sách người
8
2. Giáo trình Luật hiến pháp Việt Nam, Khoa Luật – Trường Đại học quốc gia
Hà Nội, nxb Đại học quốc gia Hà Nội (2006).
3. Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay, Bùi Xuân
Đức, Nxb Tư pháp Hà Nội (2004).
4. Chế định Chủ tịch nước theo Hiến pháp hiện hành – Thực trạng và phương
hướng thực hiện, Lê Thị Hoa, Hà Nội (2012).
5. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, sửa đổi, bổ
sung năm 2001.
6. Luật tổ chức Chính phủ năm 2001.
7. Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002.
8. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.
9. http://chinhphu.vn
10.http://baodientu.chinhphu.vn/
11.http://www.cpv.org.vn
12.http://www.vietnamplus.vn
13.http://doc.edu.vn/
10