MỤC LỤC
A. MỞ BÀI
B. NỘI DUNG
I. Lý luận chung
1. Khái niệm tư vấn pháp luật dân sự
2. Nguyên tắc tư vấn pháp luật dân sự
3. Nội hàm nguyên tắc đảm bảo giữ bí mật thông tin của khách hàng
II. PHÂN TÍCH CỤ THỂ
1. Cơ sở của nguyên tắc đảm bảo giữ bí mật thông tin của khách hàng
trong tư vấn pháp luật dân sự
1.1 Cơ sở pháp lý
1.2 Cơ sở đạo đức và ứng xử nghề nghiệp
2. Giới hạn và trách nhiệm của luật sư trong việc giữ bí mật thông tin về
khách hàng trong hoạt động tư vấn pháp luật dân sự
III. Trách nhiệm của luật sư trong việc giữ bí mật thông tin về khách
hàng trong hoạt động tư vấn pháp luật dân sự
1. Trách nhiệm kỷ luật
2. Trách nhiệm pháp lý.
III. Một số kiến nghị
C/ KẾT LUẬN
1
1
1
1
1
2
2
2
2
2. Nguyên tắc tư vấn pháp luật dân sự
Tư vấn pháp luật dân sự là một khía cạnh trong tư vấn pháp luật nên nó cũng có
những nguyên tắc tương tự như trong tư vấn pháp luật đó là:
Thứ nhất, hiểu rõ và xác định đúng về vấn đề cần tư vấn; biết lắng nghe, cảm
thông và chia sẻ với người được tư vấn; đi thẳng vào trọng tâm của vấn đề tư vấn;
chỉ đưa ra thông tin phù hợp với vấn đề tư vấn, không đưa ra kết luận theo chủ quan
của người tư vấn; hướng dẫn người được tư vấn tự đưa ra lựa chọn và quyết định
vấn đề của mình;
Thứ hai, không thực hiện tư vấn cho hai người có lợi ích đối ngược nhau trong
cùng một giao dịch.
Thứ ba, người tư vấn có trách nhiệm giữ bí mật đối với thông tin do người được
tư vấn cung cấp, không tiết lộ cho người khác nếu không có sự đồng ý của người
được tư vấn; nếu gây thiệt hại do việc bộc lộ thông tin thì có thể người tư vấn phải
bồi thường thiệt hại; Đây là một nguyên tắc vô cùng quan trọng trong quá trình tư
vấn.
3. Nội hàm nguyên tắc đảm bảo giữ bí mật thông tin của khách hàng
Theo Từ điển tiếng Việt , giữ bí mật được hiểu là giữ kín trong phạm vi một số ít
người, không để lộ cho người ngoài biết. Thông tin của khách hàng là những tin tức,
thông điệp khách hàng truyền đạt cho luật sư trong quá trình tiếp xúc, trao đổi giữa
luật sư và khách hàng hoặc do luật sư biết được, thu thập được trong quá trình thụ lý,
giải quyết vụ việc của khách hàng.
Giữ bí mật thông tin về khách hàng trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư là
nghĩa vụ pháp lý và quy tắc đạo đức nghề nghiệp của luật sư, theo đó luật sư giữ kín
những thông tin luật sư biết được về khách hàng, liên quan đến khách hàng trong
quá trình giải quyết vụ việc và không tiết lộ cho bất kỳ người nào khác ngoài luật sư
và khách hàng.
“Giữ bí mật thông tin về khách hàng trong hoạt động tư vấn pháp luật dân sự”
gồm hai nội dung. Một là, đối với bản thân luật sư, luật sư phải bảo mật thông tin
về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách
hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác”. Đồng thời với quy
định tại khoản 1 Điều 9, Điều 25 Luật Luật sư 2006 còn quy định về “Bí mật thông
tin” như sau:
“1. Luật sư không được tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết
được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản
hoặc pháp luật có quy định khác.
2. Luật sư không được sử dụng thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết
được trong khi hành nghề vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích
công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
3. Tổ chức hành nghề luật sư có trách nhiệm bảo đảm các nhân viên trong tổ
chức hành nghề không tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng của mình”.
Như vậy, vấn đề giữ bí mật thông về khách hàng của luật sư là vấn đề mang tính
pháp lý, được quy định trong các vấn bản quy phạm pháp luật. Có nghĩa là việc luật
sư giữ bí mật thông tin về khách hàng là vấn đề có tính chất “bắt buộc chung” và là
nghĩa vụ pháp lý của luật sư.
1.2 Cơ sở đạo đức và ứng xử nghề nghiệp
Cơ sở đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của nguyên tắc là quy tắc đạo đức và ứng
xử nghề nghiệp của Luật sư. Với Quy tắc 9 Quy tắc mẫu về đạo đức nghề nghiệp
luật sư quy định về việc luật sư giữ bí mật thông tin của khách hàng và Quy tắc 12
chương II Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư Việt Nam đã tạo nên
quy tắc giữ bí mật thông tin về khách hàng như một quy tắc nghề nghiệp mang tính
tự nhiên của luật sư, luật sư giữ bí mật thông tin của khách hàng một cách tự nguyện
với lương tâm và trách nhiệm của mình.
2. Giới hạn và trách nhiệm của luật sư trong việc giữ bí mật thông tin về
khách hàng trong hoạt động tư vấn pháp luật dân sự
• Giới hạn những thông tin về khách hàng mà luật sư phải giữ bí mật.
Khoản 1 Điều 25 Luật Luật sư 2006 quy định: “Luật sư không được tiết lộ thông
thời gian. Luật sư có trách nhiệm giữ bí mật thông tin về khách hàng trong lúc đang
thụ lý giải quyết vụ việc cho đến khi vụ việc đã kết thúc. Quy tắc 12 Quy tắc đạo
đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư Việt Nam quy định rõ: “Luật sư có nghĩa vụ
giữ bí mật thông tin của khách hàng khi thực hiện dịch vụ pháp lý và cả khi đã kết
thúc dịch vụ đó”. Như phần trên cũng có đề cập, khi kết thúc vụ việc, luật sư vẫn có
nghĩa vụ giữ bí mật thông tin về khách hàng nhưng đó là những thông tin mà luật sư
biết được trong lúc giải quyết vụ việc cho khách hàng, còn những thông tin mới mà
luật sư biết được sau khi đã kết thục vụ việc với khách hàng thì luật sư không có
nghĩa vụ bảo mật. Một vấn đề đáng lưu ý là Quy tắc 12 Quy tắc đạo đức và ứng xử
nghề nghiệp của Luật sư Việt Nam quy định luật sư vẫn tiếp tục giữ bí mật thông tin
của khách hàng “cả khi đã kết thúc dịch vụ đó” mà không đề cập đến tình trạng của
khách hàng, còn sống hay đã chết (đối với cá nhân), còn hoạt động hay đã chấm dứt
hoạt động (đối với tổ chức). Như vậy, kể cả khi khách hàng trước đây của luật sư đã
chết (đối với cá nhân), không còn hoạt động (tổ chức) luật sư vẫn phải giữ bí mật
thông tin của những khách hàng đó.
Ví dụ: vẫn ví dụ trên, nhưng sau đó vì một lý do nào đó mà A không ly hôn với
chị B nữa và kết thúc hợp đồng dịch vụ pháp lý với Văn phòng Công Minh, thì luật
sư H cũng không được tiết lộ những thông tin mà A đã cung cấp cho luật sư H ( việc
A đã mua nhà cho chi C, và tài sản của gia đình A,…)
• Giới hạn đối với nhân viên, cộng sự của luật sư và tổ chức hành nghề
của luật sư
Đối với các luật sư cùng hành nghề trong một tổ chức hành nghề luật sư (Văn
phòng luật sư hoặc Công ty luật), không chỉ bản thân luật sư tiếp nhận, thụ lý giải
quyết vụ việc của khách hàng phải giữ bí mật thông tin về khách hàng mà các luật sư
khác trong cùng tổ chức hành nghề luật sư cũng phải giữ bí mật thông tin về khách
hàng của tổ chức mình. Đây là quy định tại khoản 3 Điều 25 Luật Luật sư 2006: “Tổ
chức hành nghề luật sư có trách nhiệm bảo đảm các nhân viên trong tổ chức hành
nghề không tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng của mình” và Quy tắc 12 Quy
mình lên mạng và muốn khởi kiện yêu cầu anh N bồi thường. Do yêu cầu cần thu
thập chứng cứ, luật sư D và chị K đã lập bản đồng ý cho luật sư D căn cứ vào các
thông tin mà chị K cung cấp, sử dụng các thông tin đó giúp chị K tìm thêm chứng
cứ nếu có thể. Trong trường hợp này, luật sư D có thể tiết lộ thông tin khi cần thiết
(cung cấp thông tin đó để nhờ một người bạn chuyên về Internet truy tìm clip và
những thông tin về người gửi để làm chứng cứ)
Tiết lộ thông tin theo quy định của pháp luật là trường hợp pháp luật có quy định
nghĩa vụ buộc phải khai báo hoặc cung cấp thông tin phục vụ hoạt động điều tra, xác
minh của cơ quan có thẩm quyền. Trong những trường này, luật sư buộc phải tiết lộ
thông tin để thực hiện nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn
như quy định về tố giác tội phạm. Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi,
bổ sung 2009) quy định:“Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang
được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại Điều 313
của Bộ luật này”. Khoản 1 Điều 314 Bộ luật Hình sự cũng quy định về tội không tố
giác tội phạm như sau: “Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại
Điều 313 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà
không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù
từ ba tháng đến ba năm”. Theo các quy định này, công dân có nghĩa vụ tố giác tội
phạm, nếu không tố giác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Vấn đề được đặt ra là trong mối quan hệ nghề nghiệp giữa luật sư và khách hàng,
khách hàng tiết lộ cho luật sư biết họ đã thực hiện một hành vi phạm tội thì luật sư
phải làm thế nào? Thực hiện nghĩa vụ công dân, thực hiện theo quy định của pháp
luật thì luật sư phải chăng phải đi tố giác tội phạm? Điều đó có nghĩa là “luật sư tố
cáo khách hàng của mình”. Nếu luật sư tố cáo khách hàng của mình để họ bị bắt thì
luật sư sẽ mất đi sự tin tưởng của khách hàng, có thể ảnh hưởng rất lớn đến sự
nghiệp và ảnh hưởng đến sự đánh giá, cái nhìn của xã hội đối với luật sư.
Đây là vấn đề còn nhiều tranh cãi và bàn luận. Theo luật sư Nguyễn Huy Thiệp
(Đoàn Luật sư TP Hà Nội), việc luật sư giữ bí mật cho khách hàng là nguyên tắc cơ
bản hàng đầu. Ông phân tích: “Nếu luật sư thực hiện tốt nguyên tắc này thì khách
hoạt động tư vấn pháp luật dân sự
Có hai dạng trách nhiệm của luật sư trong việc vi phạm quy tắc, nghĩa vụ giữ bí
mật thông tin về khách hàng: trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm pháp lý. Cùng một
hành vi vi phạm, luật sư có thể chịu một hoặc cả hai loại trách nhiệm này.
1. Trách nhiệm kỷ luật
Trách nhiệm kỷ luật đối với luật sư trong việc giữ bí mật thông tin về khách hàng
là trách nhiệm xét về khía cạnh quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp, xét trong
mối quan hệ giữa luật sư với tổ chức xã hội – nghề nghiệp của Luật sư là Đoàn luật
sư và Liên đoàn Luật sư Việt Nam.
Xử lý kỷ luật đối với luật sư khi có vi phạm quy tắc giữ bí mật thông tin về khách
hàng nói riêng hoặc vi phạm Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp nói chung
được thực hiện theo quy định tại Điều 85 Luật Luật sư 2006 với bốn hình thức kỷ
luật: khiển trách, cảnh cáo, tạm đình chỉ tư cách thành viên Đoàn luật sư từ sáu
tháng đến hai mươi bốn tháng, xóa tên khỏi danh sách Đoàn Luật sư.
Ví dụ: Trong một cuộc vui với bạn bè, luật sư T đã vô tình tiết lộ thông tin về
khách hàng của mình ( ông K, làm cơ quan Nhà nước X đã đến văn phòng luật sư
của mình xin tư vấn về hợp đồng mua một mảnh đất ở Khu đô thị ABC đó với giá
5.000.000.000 đồng). Sau đó, vì một nguyên nhân nào đó, Văn phòng luật sư nơi
luật sư T làm việc đã biết được và luật sư T sẽ phải bị xử lý kỷ luật theo Điều 85
Luật luật sư 2006.
2. Trách nhiệm pháp lý
Giữ bí mật thông tin về khách hàng không chỉ là quy tắc đạo đức và ứng xử nghề
nghiệp của luật sư mà còn là một nghĩa vụ pháp lý được quy định trong các văn bản
quy phạm pháp luật bao gồm Luật Luật sư 2006 và các văn bản quy phạm pháp luật
khác có liên quan. Trách nhiệm pháp lý của luật sư trong việc giữ bí mật thông tin về
khách hàng là hậu quả pháp lý bất lợi đối với luật sư khi luật sư vi phạm nghĩa vụ
giữ bí mật thông tin về khách hàng. Trách nhiệm pháp lý này bao gồm trách nhiệm
hành chính, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự. Ba loại trách nhiệm pháp lý
phạm tội về an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng.
Thứ hai, đối với Liên đoàn luật sư Việt Nam, cần có hướng dẫn cụ thể về việc
thực hiện quy tắc “giữ bí mật thông tin” nói riêng và toàn bộ Quy tắc đạo đức và ứng
xử nghề nghiệp của luật sư Việt Nam nói chung để dễ dàng áp dụng thống nhất.
(Hiện nay, một số nước xây dựng hướng dẫn áp dụng quy tắc ứng xử của luật sư
ngay sau mỗi quy tắc[18], chẳng hạn Quy tắc mẫu về ứng xử nghề nghiệp của Luật
sư Hoa Kỳ, Quy tắc ứng xử nghề nghiệp của Luật sư Canada,…). Riêng đối với quy
tắc “Giữ bí mật thông tin”, cần quy định rõ trường hợp khách hàng đồng ý cho luật
sư tiết lộ thông tin thì phải thể hiện sự đồng ý đó bằng văn bản để phù hợp với quy
định pháp luật hiện hành. Ngoài ra, Liên đoàn Luật sư Việt Nam cũng cần nhanh
chóng hoàn chỉnh và cho ban hành Quy định về xử lý kỷ luật đối với Luật sư trong
trường hợp luật sư vi phạm Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp, trong đó có sự
vi phạm quy tắc “giữ bí mật thông tin”.
Thứ ba, đối với mỗi luật sư, cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm
chất cao quý của luật sư, tuân thủ nghĩa vụ và quy tắc “giữ bí mật thông tin về khách
hàng”. Đối với các thông tin của khách hàng, luật sư cần bảo quản thận trọng, có các
biện pháp kỹ thuật bảo mật đối với thông tin khách hàng, thực hiện lưu trữ nghiêm
túc. Để tránh rủi ro và loại trừ trách nhiệm cho mình, tốt hơn hết luật sư nên có thỏa
thuận cụ thể với khách hàng về việc giữ bí mật thông tin; trong trường hợp muốn tiết
lộ thông tin nào đó về khách hàng của mình, luật sư cần phải xin phép khách hàng và
phải được khách hàng đồng ý bằng văn bản./.
C/ KẾT LUẬN
Mỗi luật sư phải lấy Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp làm khuôn mẫu cho
sự tu dưỡng, rèn luyện để giữ gìn uy tín nghề nghiệp, thanh danh của luật sư, xứng
đáng với sự tôn vinh của xã hội. Và đảm bảo tuân thủ nguyên tắc giữ bí mật thông
tin của khách hàng trong tư vấn pháp luật dân sự có như vậy mới đảm bảo được
quyền lợi của khách hàng và khách hàng mới tin tưởng, tiếp tục quay lại với mình.
“Giữ bí mật khách hàng là một quy tắc đạo đức hành nghề của luật sư nhưng mỗi