TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
---------***---------
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Thương mại quốc tế
THỰC TIỄN VẬN DỤNG CÁC NGOẠI LỆ CHUNG CỦA
NGUYÊN TẮC KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ
VÀO GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KHUÔN
KHỔ WTO VÀ MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO
1.1.1. Nguyên tắc Tối huệ quốc trong GATT 1994 và GATS ................. 4
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
1.1.1.1. Nguyên tắc Tối huệ quốc trong GATT 1994 ..........................4
1.1.1.2. Nguyên tắc Tối huệ quốc trong GATS ...................................6
1.1.1.3. So sánh nguyên tắc Tối huệ quốc trong GATT 1994 và
GATS
.................................................................................................7
1.3.3. Trình tự áp dụng ngoại lệ chung của GATS trong tranh chấp về
phân biệt đối xử ................................................................................................. 25
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN VẬN DỤNG CÁC NGOẠI LỆ CHUNG CỦA
NGUYÊN TẮC KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VÀO GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP TRONG KHUÔN KHỔ WTO ..................................................................26
2.1.
Tổng quan về việc vận dụng các ngoại lệ chung của nguyên tắc
không phân biệt đối xử vào giải quyết tranh chấp trong WTO.............................26
2.2.
Một số trường hợp vận dụng các ngoại lệ chung của GATT 1994 vào
giải quyết tranh chấp về nguyên tắc không phân biệt đối xử ................................29
2.2.1. Trường hợp viện dẫn không thành công Điều XX GATT 1994 .. 29
2.2.1.1. Trường hợp ngay từ đầu không thỏa mãn một trong số các
khoản của Điều XX GATT 1994 ..................................................................29
2.2.1.2. Trường hợp bước đầu được cho là hợp lý theo một trong các
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
Thực trạng chính sách thương mại của Việt Nam từ khi gia nhập
...........................................................................................................61
3.1.1. Về môi trường kinh tế của Việt Nam ........................................... 61
3.1.2. Về hệ thống chính sách thương mại Việt Nam ............................ 62
3.2.
Xu hướng vận dụng ngoại lệ chung của nguyên tắc không phân biệt
đối xử trong chính sách thương mại hiện đại ........................................................66
3.2.1. Xu hướng chung của thế giới ....................................................... 66
3.2.2. Xu hướng của Việt Nam .............................................................. 68
3.3.
Một số hàm ý chính sách về việc vận dụng các ngoại lệ chung của
nguyên tắc không phân biệt đối xử .......................................................................69
3.3.1. Hàm ý về việc xây dựng và thực thi chính sách .......................... 69
3.3.2. Hàm ý về việc đàm phán thương mại quốc tế.............................. 73
3.3.3. Hàm ý về việc tranh tụng thương mại quốc tế ............................. 75
3.3.4. Một số hàm ý khác ....................................................................... 77
KẾT LUẬN .....................................................................................................80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................82
PHỤ LỤC ........................................................................................................83
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
2.
GATT 1994
General Agreement on Tariffs and Trade 1994
3.
GATS
Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ
General Agreement on Trade in Services
4.
MFN
Nguyên tắc đối xử Tối huệ quốc
Most favoured nation
5.
NT
Nguyên tắc Đối xử quốc gia
National treatment
6.
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Loại
Tên
Bảng 1.1. Phân nhóm các khoản của Điều XX GATT
Bảng
15
1994
Biểu đồ 3.1. Số vụ tranh chấp có viện dẫn ngoại lệ chung
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
pháp ảnh hưởng đến nhập khẩu lốp xe đã qua xử lý,
WT/DS332/AB/R, thông qua ngày 17/12/2007
2.
Brazil – Lốp xe Báo cáo của Ban Hội thẩm, Brazil – Các biện pháp
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
đã qua xử lý
ảnh hưởng đến nhập khẩu lốp xe đã qua xử lý,
WT/DS332/P/R, thông qua ngày 17/12/2007 sau khi
Cộng đồng Châu Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm, Cộng đồng Châu Âu
Âu – Hải cẩu
– Các biện pháp cấm nhập khẩu và marketing đối với
sản
phẩm
từ
hải
cẩu,
WT/DS400/AB/R,
WT/DS401/AB/R, thông qua ngày 18/06/2014
7.
Cộng đồng Châu Báo cáo của Ban Hội thẩm, Cộng đồng Châu Âu – Các
Âu – Hải cẩu
biện pháp cấm nhập khẩu và marketing đối với sản
phẩm từ hải cẩu, WT/DS400/P/R, WT/DS401/P/R,
thông qua ngày 18/06/2014 sau khi được Cơ quan
Phúc thẩm hiệu chỉnh
8.
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
dụng đối với thịt khẩu, WT/DS161/P/R, WT/DS169/P/R, thông qua
bò
ngày 10/01/2001 sau khi được Cơ quan Phúc thẩm
hiệu chỉnh
11.
Hàn Quốc – Đồ Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm, Hàn Quốc – Thuế áp
uống có cồn
đặt
14.
Mỹ - Đánh bạc
Báo cáo của Ban Hội thẩm, Mỹ – Các biện pháp ảnh
hưởng đến dịch vụ đánh bạc, WT/DS285/P/R, thông
qua ngày 22/05/2007 sau khi được Cơ quan Phúc thẩm
hiệu chỉnh
15.
Mỹ - Tôm
Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm, Mỹ - Cấm nhập khẩu
tôm và một số sản phẩm từ tôm, WT/DS58/AB/R,
thông qua ngày 21/11/2001
16.
Mỹ - Tôm
Báo cáo của Ban Hội thẩm, Mỹ - Cấm nhập khẩu tôm
và một số sản phẩm từ tôm, WT/DS58/P/R, thông qua
ngày 21/11/2001 sau khi được Cơ quan Phúc thẩm
hiệu chỉnh
17.
Mỹ - Xăng dầu
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
uống có cồn I
loại thuế đối với đồ uống có cồn, L/6216, thông qua
ngày 10/11/ 1987
20.
Úc – Cá hồi
Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm, Úc – Các biện pháp
ảnh hưởng đến nhập khẩu cá hồi, WT/DS18/AB/R,
thông qua ngày 20/03/2000
21.
Úc – Cá hồi
Báo cáo của Ban Hội thẩm, Úc – Các biện pháp ảnh
hưởng đến nhập khẩu cá hồi, WT/DS18/P/R, thông
qua ngày 20/03/2000 sau khi được Cơ quan Phúc thẩm
hiệu chỉnh
dịch vụ nhập khẩu và nội địa, WTO nỗ lực tạo ra một sân chơi bình đẳng, công
bằng cho tất cả các nước thành viên.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu về tình hình tranh chấp giữa các nước thành viên,
điều rất dễ nhận thấy là nguyên tắc không phân biệt đối xử này thường xuyên bị vi
phạm vì nhiều lý do khác nhau, trong đó nguyên nhân phổ biến nhất vẫn xuất phát
từ nhu cầu bảo hộ sản xuất trong nước. Để biện minh cho các vi phạm của mình,
trong rất nhiều trường hợp các nước thành viên đã viện dẫn các ngoại lệ chung của
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT 1994) và Hiệp định chung
về Thương mại Dịch vụ (GATS), được quy định lần lượt tại Điều XX và Điều XIV.
Ngoại lệ chung tuy chỉ là hai điều khoản nằm trong hai hiệp định của WTO
nhưng lại có ý nghĩa hết sức đặc biệt. Chúng được thiết kế nhằm giúp cho các quốc
gia có thể biện minh cho các biện pháp thương mại vi phạm pháp luật WTO, trong
đó có nguyên tắc không phân biệt đối xử, nếu như mục tiêu của các biện pháp đó là
nhằm bảo vệ các giá trị về đạo đức và trật tự công cộng, sức khỏe con người và
động thực vật, các nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt của quốc gia… Có thể nói
ngoại lệ chung thể hiện quan điểm của WTO đối với các vấn đề phi thương mại –
trong chừng mực nào có thể hy sinh lợi ích về thương mại để bảo vệ các giá trị phổ
quát và cấp thiết hơn.
Điều khó khăn là việc vận dụng các ngoại lệ này không hề dễ dàng, bởi lẽ
không có một chuẩn mực chung cho tất cả mọi vụ việc khi viện dẫn chúng mà phụ
thuộc rất nhiều vào bản chất, tình tiết của từng vụ việc cụ thể. Chính vì thế, có
những vụ việc viện dẫn thành công nhưng có những vụ việc khác lại viện dẫn không
thành công các ngoại lệ này. Tổng hòa lại, tất cả đã tạo thành một hệ thống án lệ vô
cùng phong phú nhưng cũng hết sức phức tạp về việc vận dụng các ngoại lệ chung
2
vào giải quyết các tranh chấp nói chung và các tranh chấp liên quan tới không phân
chung của WTO và các án lệ có liên quan còn hết sức hạn chế, người viết cho rằng
sẽ hết sức rủi ro nếu như trong tương lai gần, Việt Nam gặp phải các vụ việc trong
đó cần thiết phải vận dụng các ngoại lệ này để biện minh cho chính sách thương
mại của nước mình hay cáo buộc hành vi vi phạm của các nước thành viên khác.
Nhận thức được tầm quan trọng trong việc tìm hiểu, vận dụng các kiến thức cơ
bản cũng như chuyên sâu về các ngoại lệ chung của GATT 1994 và GATS, người
viết lựa chọn đề tài ‘Thực tiễn vận dụng các ngoại lệ chung của nguyên tắc
không phân biệt đối xử vào giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO và
một số hàm ý chính sách cho Việt Nam’ làm nội dung nghiên cứu cho khóa luận
tốt nghiệp của mình.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các ngoại lệ chung của Hiệp định
GATT 1994 và Hiệp định GATS, được quy định lần lượt tại điều XX và XIV của
mỗi hiệp định, cũng như việc vận dụng các ngoại lệ chung này vào giải quyết tranh
chấp liên quan tới nguyên tắc không phân biệt đối xử. Không làm mất tính tổng
quát đối tượng nghiên cứu, dù đây là các ngoại lệ chung cho toàn bộ các nguyên tắc
hai hiệp định kể trên trong đó có nguyên tắc không phân biệt đối xử, để thuận tiện
và nhấn mạnh mục đích của khóa luận, người viết sẽ sử dụng cách gọi ‘ngoại lệ
chung của nguyên tắc không phân biệt đối xử’ trong toàn bộ bài viết.
Phạm vi nghiên cứu: các ngoại lệ được nghiên cứu trong khóa luận là các
ngoại lệ chung của nguyên tắc không phân biệt đối xử được quy định trong điều XX
của Hiệp định GATT 1994 và Điều XIV của Hiệp định GATS; các vụ tranh chấp
3
được nghiên cứu là các vụ tranh chấp thương mại trong khuôn khổ WTO; phạm vi
về thời gian là từ thời điểm thành lập của tổ chức này ngày 01/01/1995 đến nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
áp dụng các ngoại lệ này vào giải quyết tranh chấp và (4) đề xuất các kiến nghị phù
hợp.
4. Phương pháp nghiên cứu
Do tập trung vào khía cạnh luật của thương mại quốc tế, khóa luận lựa chọn
phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp phân tích và bình luận bản án để
làm rõ những nội dung chi tiết và chuyên sâu liên quan tới việc áp dụng các ngoại lệ
chung của nguyên tắc không phân biệt đối xử trong thực tiễn giải quyết tranh chấp.
Ngoài ra các phương pháp nghiên cứu khác như tổng hợp, thống kê, so sánh cũng
được sử dụng để làm rõ quy mô, đặc tính của đối tượng nghiên cứu.
Các dữ liệu và số liệu trong bài viết bao gồm cả các thông tin sơ cấp mà người
viết trực tiếp tìm hiểu (điển hình là các báo cáo giải quyết tranh chấp của WTO) và
các nguồn thứ cấp khác trong các sách, báo, tạp chí, trang thông tin điện tử trong và
ngoài nước.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần lời nói đầu và kết luận, khóa luận gồm các nội dung chính sau:
Chương 1: Khái quát về các ngoại lệ của nguyên tắc không phân biệt đối xử
trong WTO
Chương 2: Thực tiễn vận dụng các ngoại lệ chung của nguyên tắc không
phân biệt đối xử vào giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO
Chương 3: Một số hàm ý chính sách cho Việt Nam về việc vận dụng các
ngoại lệ chung của nguyên tắc không phân biệt đối xử
4
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁC NGOẠI LỆ CỦA NGUYÊN TẮC
KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ TRONG WTO
thương mại hàng hóa trong GATT 1994 là: Điều I, đề cập tới nguyên tắc Tối huệ
quốc (MFN) và Điều III, đề cập tới nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT).
Hai điều khoản liên quan tới các nguyên tắc không phân biệt đối xử trong
thương mại dịch vụ trong GATS là: Điều II, đề cập tới nguyên tắc Tối huệ quốc
(MFN) và Điều XVII, đề cập tới nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT).
Pháp luật WTO cho phép một số ngoại lệ đối với các nguyên tắc cơ bản nói
chung và hai nguyên tắc trên nói riêng. Các ngoại lệ này đóng vai trò rất quan trọng
trong việc hài hòa giữa việc thúc đẩy tự do hóa thương mại với việc bảo vệ các giá
trị và quyền lợi kinh tế cũng như phi kinh tế của một quốc gia. Chương này trình
bày những kiến thức cơ sở về hai nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) và Đối xử quốc
gia (NT) trong thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ, cũng như các ngoại lệ
chung của chúng.
1.1.1. Nguyên tắc Tối huệ quốc trong GATT 1994 và GATS
1.1.1.1.
Nguyên tắc Tối huệ quốc trong GATT 1994
Điều I của Hiệp định GATT 1994 với tiêu đề ‘Quy định chung về Đối xử Tối
huệ quốc’ có ghi: Với mọi khoản thuế quan và khoản thu thuộc bất cứ loại nào
nhằm vào hay có liên hệ tới nhập khẩu và xuất khẩu hoặc đánh vào các khoản
chuyển khoản để thanh toán hàng xuất nhập khẩu, hay phương thức đánh thuế hoặc
áp dụng phụ thu nêu trên, hay với mọi luật lệ hay thủ tục trong xuất nhập khẩu và
liên quan tới mọi nội dung đã được nêu tại khoản 2 và khoản 4 của Điều III, mọi lợi
thế, biệt đãi, đặc quyền hay quyền miễn trừ được bất kỳ bên ký kết nào dành cho bất
cứ một sản phẩm có xuất xứ từ hay được giao tới bất kỳ một nước nào khác sẽ được
5
áp dụng cho sản phẩm tương tự có xuất xứ từ hay giao tới mọi bên ký kết khác ngay
• Điều XVII nói về doanh nghiệp thương mại Nhà nước.
Tất cả các điều khoản này đã tạo nên một hệ thống xuyên suốt về nguyên tắc
Tối huệ quốc nhằm hạn chế sự phân biệt đối xử trong thương mại. Điều I:1 của
GATT 1994 nghiêm cấm sự phân biệt đối xử giữa các sản phẩm tương tự có xuất
xứ hoặc được nhập khẩu từ các quốc gia khác nhau. Mục đích chính của nguyên tắc
đối xử MFN là nhằm đảm bảo trao cơ hội bình đẳng cho việc nhập khẩu từ, hoặc
xuất khẩu đến, tất cả các thành viên WTO. Trong vụ tranh chấp Cộng đồng Châu
Âu – Các biện pháp ảnh hưởng đến nhập khẩu chuối III, biện pháp được xem xét là
quy định về việc nhập khẩu chuối từ EC mà theo đó, chuối từ các nước Mỹ Latin bị
đối xử kém ưu đãi hơn chuối từ các nước thuộc địa Châu Âu cũ nói chung. Cơ quan
Phúc thẩm đã kết luận: Bản chất của nghĩa vụ không phân biệt đối xử là các sản
phẩm tương tự được đối xử một cách công bằng, dù cho chúng có xuất xứ từ đâu
chăng nữa. Vì không bên liên quan nào tranh cãi về việc tất cả chuối đều là sản
phẩm tương tự, nên điều khoản không phân biệt đối xử này được áp dụng cho toàn
bộ việc nhập khẩu chuối.
Điều I:1 của GATT 1994 ngăn cấm cả sự phân biệt đối xử dựa vào luật và sự
phân biệt đối xử trong thực tế. Nói cách khác, điều I:1 không chỉ áp dụng với các
biện pháp phân biệt dựa vào nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm (phân biệt đối xử hiển
nhiên), mà còn áp dụng với các biện pháp có hình thức bề ngoài công bằng nhưng
thực tế lại tạo ra sự phân biệt đối xử (phân biệt đối xử trá hình). Trong vụ Cộng
đồng Kinh tế Châu Âu – Các biện pháp ảnh hưởng đến nhập khẩu thịt bò, các quy
định của Cộng đồng Kinh tế Châu Âu đã gây ra sự ngưng trệ trong việc miễn thuế
dựa trên xuất trình chứng thư xác thực. Ban Hội thẩm đã kết luận rằng các quy định
6
này không tuân thủ nghĩa vụ đối xử MFN theo điều I:1 sau khi biết rằng cơ quan
Thành viên nào khác, sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Thành viên
đó dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ nước nào
khác.
Điều II:1 được bổ sung bởi một số các điều khoản khác đề cập tới nghĩa vụ đối
xử MFN hoặc tương tự MFN trong GATS:
Điều VII nói về sự công nhận;
Điều VIII nói về độc quyền và các nhà cung cấp dịch vụ độc quyền;
Điều X nói về các biện pháp tự vệ khẩn cấp;
Điều XII nói về các biện pháp để bảo vệ cán cân thanh toán;
Điều XVI nói về tiếp cận thị trường;
Điều XXI nói về sửa đổi các danh mục.
Tương tự như nghĩa vụ đối xử MFN trong GATT 1994 với sản phẩm hàng
hóa, mục đích chủ yếu của nguyên tắc đối xử MFN trong điều II:1 của GATS là
nhằm đảm bảo tất cả các dịch vụ cũng như nhà cung cấp dịch vụ tương tự đến từ
mọi thành viên WTO đều được hưởng cơ hội thương mại bình đẳng như nhau.
Cũng trong vụ Cộng đồng Châu Âu – Các biện pháp ảnh hưởng đến nhập
khẩu chuối III, Cơ quan Phúc thẩm cho rằng nghĩa vụ đối xử MFN theo điều II:1
của GATS phải được tuân thủ trên cả phương diện pháp luật cũng như khi áp dụng
trong thực tế. Cơ quan Phúc thẩm bác bỏ lập luận của EC1 cho rằng, nếu những
người thương thuyết Hiệp định GATS có dụng ý điều II:1 điều chỉnh cả các trường
hợp phân biệt đối xử trá hình thì họ đã phải ghi rõ ràng trong luật. Cơ quan Phúc
thẩm kết luận: Nghĩa vụ được nêu trong điều II là chưa đầy đủ. Ý nghĩa nguyên bản
của điều khoản này không loại trừ sự phân biệt đối xử trá hình. Hơn nữa, nếu điều
1
aann
i iCC
HHoo
Nguyên tắc đối xử MFN trong GATT 1994 và GATS có điểm giống nhau là
đều nhằm mục đích buộc mọi thành viên của WTO dành cho các thành viên khác và
đồng thời được hưởng từ các thành viên đó đãi ngộ ưu đãi nhất mà mỗi thành viên
dành cho bất kỳ quốc gia nào, bất kể quốc gia đó có là thành viên WTO hay không.
Tuy nhiên, khác với nghĩa vụ đối xử MFN trong GATT 1994 được áp dụng
ngay lập tức và vô điều kiện kể từ khi các thành viên gia nhập, GATS cho phép các
thành viên cam kết lịch trình miễn trừ đối với nghĩa vụ đối xử MFN theo điều II:1.
Điều II:2 của GATS có ghi: Các Thành viên có thể duy trì biện pháp không phù hợp
với quy định tại khoản 1 của Điều này, với điều kiện là biện pháp đó phải được liệt
kê và đáp ứng các điều kiện của Phụ lục về các miễn trừ đối với Điều II.
Các thành viên có thể liệt kê các biện pháp trong phần Phụ lục về Các miễn
trừ của điều II trước ngày Hiệp định WTO có hiệu lực ngày 01/01/1995. Khoảng hai
phần ba số thành viên WTO đã liệt kê các miễn trừ MFN và đã có tổng cộng hơn
400 miễn trừ được thông qua, chủ yếu trong lĩnh vực vận tải (đặc biệt vận tải biển),
liên lạc (chủ yếu về nghe nhìn), tài chính và các dịch vụ kinh doanh.
Thông báo miễn trừ của một thành viên phải bao gồm các thông tin sau: (1)
Mô tả về ngành hoặc các ngành hưởng miễn trừ; (2) Mô tả biện pháp, lý giải tại sao
nó phù hợp với Điều II; (3) Nước/nhóm nước mà biện pháp đó được áp dụng; (4)
Thời gian dự kiến áp dụng miễn trừ; (5) Các điều kiện quyết định tính cần thiết của
miễn trừ.
Nhiều người có thể hiểu rằng các miễn trừ này là các biện pháp trong một số
ngành dịch vụ của một thành viên WTO mà khi áp dụng, thành viên đó sẽ được
miễn thực hiện nghĩa vụ đối xử MFN với các nước hay nhóm nước được liệt kê.
Tuy nhiên cũng cần lưu ý, danh sách các miễn trừ có thể không liệt kê các thành
viên không được hưởng đối xử MFN. Danh sách này có thể chỉ liệt kê các thành
được thông qua thời hạn trên 5 năm đều được rà soát bởi Hội đồng Thương mại
dịch vụ. Hội đồng sẽ xác định xem liệu các miễn trừ có còn đủ điều kiện cần thiết
để duy trì và xác lập lịch trình cho lần rà soát tiếp theo. Nếu Hội đồng kết luận rằng
các điều kiện này không còn thỏa mãn trong thời điểm đó, thành viên được xem xét
sẽ phải chỉnh sửa biện pháp mà trước đây được hưởng miễn trừ cho phù hợp với
nghĩa vụ đối xử MFN.
1.1.2. Nguyên tắc Đối xử quốc gia trong GATT 1994 và GATS
1.1.2.1.
Nguyên tắc Đối xử quốc gia trong GATT 1994
Điều III của GATT 1994 (‘Đối xử quốc gia về thuế và quy định trong nước’)
có ghi:
1.
Các bên ký kết thừa nhận rằng các khoản thuế và khoản thu nội địa,
cũng như luật, hay quy tắc hay yêu cầu tác động tới việc bán hàng, chào bán, vận
tải, phân phối hay sử dụng sản phẩm trong nội địa cùng các quy tắc định lượng
trong nước yêu cầu có pha trộn, chế biến hay sử dụng sản phẩm với một khối lượng
tỷ trọng xác định, không được áp dụng với các sản phẩm nội địa hoặc nhập khẩu
với kết cục là bảo hộ hàng nội địa.
2.
Hàng nhập khẩu từ lãnh thổ của bất cứ một bên ký kết nào sẽ không
phải chịu, dù trực tiếp hay gián tiếp, các khoản thuế hay các khoản thu nội địa
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
sắm chính phủ. Theo đoạn 8(b), nghĩa vụ Đối xử quốc gia không ngăn cản việc chi
trả các khoản trợ cấp chỉ dành cho các nhà sản xuất nội địa. Các điều khoản được
trích dẫn từ điều III phía trên là những điều khoản chủ yếu liên quan tới nghĩa vụ
NT trong GATT 1994 thường được các thành viên WTO viện dẫn khi có tranh
chấp.
Điều III của GATT 1994 không cho phép sự phân biệt đối xử đối với các sản
phẩm nhập khẩu. Cụ thể, nó quy định các thành viên không được đối xử với các sản
phẩm nhập khẩu kém ưu đãi hơn các sản phẩm nội địa một khi các sản phẩm nhập
khẩu này đã được lưu thông trong thị trường nội địa. Điểm đáng chú ý là thời điểm
xác định hiệu lực điều chỉnh của điều III đối với sản phẩm nhập khẩu. Trong vụ
tranh chấp Ý – Các biện pháp ảnh hưởng đến nhập khẩu máy móc nông nghiệp liên
quan tới việc pháp luật của Ý ưu tiên đặc biệt cho việc buôn bán máy móc nông
nghiệp do người Ý sản xuất, Ban Hội thẩm đã đưa ra kết luận như sau: …ý định của
các nhà soạn thảo Hiệp định này rõ ràng là phải đối xử với hàng hóa nhập khẩu
theo cách giống như đối xử với hàng hóa nội địa một khi chúng đã được thông quan
minh bạch. Nếu không sẽ rất dễ có các biện pháp bảo hộ gián tiếp. Như vậy cũng
có nghĩa, khi sản phẩm nhập khẩu vẫn ở ngoài biên giới của quốc gia nhập khẩu hay
chưa được thông quan thì nó chưa phải là đối tượng điều chỉnh của điều III GATT
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
trong phạm vi điều chỉnh của điều II. Điều này đã được xác nhận bởi lịch sử thương
thuyết của điều III.
Tóm lại, nghĩa vụ Đối xử quốc gia của điều III GATT 1994 là một nghĩa vụ áp
dụng chung cho tất cả hàng hóa nhập khẩu dù đối với các hàng hóa đó các thành
viên WTO đã ký kết nhượng bộ về thuế hay chưa. Phạm vi điều chỉnh của điều III
GATT 1994 không chỉ bao gồm sự phân biệt đối xử dựa trên luật mà còn cả sự phân
biệt đối xử trá hình.
1.1.2.2.
Nguyên tắc Đối xử quốc gia trong GATS
Điều XVII của GATS với tiêu đề ‘Đối xử quốc gia’ có ghi trong đoạn 1:
Trong những lĩnh vực được nêu trong Danh mục cam kết, và tùy thuộc vào các điều
kiện và tiêu chuẩn được quy định trong Danh mục đó, liên quan tới tất cả các biện
pháp có tác động đến việc cung cấp dịch vụ, mỗi Thành viên phải dành cho dịch vụ
và người cung cấp dịch vụ của bất kỳ Thành viên nào khác sự đối xử không kém
thuận lợi hơn sự đối xử mà Thành viên đó dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch
vụ của mình.
Như vậy, tương tự như Điều III GATT 1994, Điều XVII GATS đưa ra nghĩa
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
đối với thương mại dịch vụ theo điều XVII GATS lại không áp dụng chung cho mọi
biện pháp có ảnh hưởng tới thương mại dịch vụ. Nguyên tắc NT trong điều khoản
này chỉ áp dụng với những nội dung mà các thành viên WTO tự nguyện cam kết để
được hưởng ‘đối xử quốc gia’ trong một số lĩnh vực dịch vụ cụ thể. Các cam kết
này thường thay đổi tùy thuộc theo từng trường hợp cụ thể và thường đi kèm với
các điều kiện, tiêu chí và hạn chế nhất định. Chẳng hạn, trong một ngành dịch vụ,
các thành viên WTO có thể chỉ cam kết thực hiện nghĩa vụ NT với một phương
thức cung ứng dịch vụ (ví dụ cung cấp qua biên giới), ngoài ra không cam kết với
các phương thức cung ứng khác.
Chính vì đặc tính rất nhạy cảm và khó đong đếm tác động của các biện pháp
ảnh hưởng tới thương mại dịch vụ, hầu hết các thành viên WTO, đặc biệt các nước
đang phát triển rất dè dặt trong việc đặt ra các cam kết liên quan tới các lĩnh vực
dịch vụ. Nếu có, các cam kết này thường đi kèm với nhiều giới hạn. Để xác định
phạm vi nghĩa vụ đối xử quốc gia của một thành viên WTO trao cho dịch vụ và
người cung cấp dịch vụ của các thành viên khác, cần xem xét kỹ càng các cam kết,
điều kiện, tiêu chí và hạn chế được đặt ra trong Biểu cam kết của thành viên đó.
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
xung đột giữa tự do hóa thương mại và các giá trị, phúc lợi xã hội khác.
Các Hiệp định của WTO quy định về các ngoại lệ trên nhiều lĩnh vực, bao
gồm sáu nhóm chính:
‘Các ngoại lệ chung’ trong Điều XX của GATT 1994 và Điều XIV của
GATS;
‘Các ngoại lệ về an ninh’ trong Điều XXI của GATT 1994 và Điều
XIV bis của GATS;
‘Các ngoại lệ về biện pháp kinh tế khẩn cấp’ trong điều XIX của
GATT 1994 và Hiệp định về Tự vệ;
‘Các ngoại lệ về hội nhập khu vực’ trong Điều XXIV của GATT 1994
và điều V của GATS;
‘Các ngoại lệ về cán cân thanh toán’ trong điều XII và XVIII:B của
GATT 1994 và điều XII của GATS;
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
nguyên tắc đối xử MFN và NT.
1.2.2. Nội dung cơ bản của các ngoại lệ chung
1.2.2.1.
Các ngoại lệ chung trong Điều XX của GATT 1994
Điều XX của GATT 1994 với tiêu đề ‘Các ngoại lệ chung’ có nêu: Với bảo
lưu rằng các biện pháp đề cập ở đây không được theo cách tạo ra công cụ phân
biệt đối xử vô lý hay tùy tiện giữa các nước có cùng hoàn cảnh như nhau, hay tạo
ra một sự hạn chế trá hình trong thương mại quốc tế, không có quy định nào trong
Hiệp định này được hiểu là ngăn cản bất kỳ bên ký kết nào thi hành hay áp dụng
khảo cổ;
g)
liên quan tới việc gìn giữ nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể bị cạn
kiệt, nếu các biện pháp đó cũng được áp dụng hạn chế cả với sản xuất và tiêu dùng
trong nước;
h)
được thi hành theo nghĩa vụ của một hiệp định liên chính phủ về một
hàng hoá cơ sở ký kết phù hợp với các tiêu thức đã trình ra Các Bên Ký Kết và
14
không bị Các Bên phản đối hay chính hiệp định đó đã trình ra Các Bên Ký Kết và
không bị các bên bác bỏ;
i)
bao hàm các hạn chế với xuất khẩu nguyên liệu do trong nước sản
xuất và cần thiết có đủ số lượng thiết yếu nguyên liệu đó để đảm bảo hoạt động chế
tác trong thời kỳ giá nội được duy trì dưới giá ngoại nhằm thực hiện một kế hoạch
ổn định kinh tế của chính phủ, với bảo lưu rằng các hạn chế đó không dẫn tới tăng
UU
FFTT
SSuu
aann
thiên nhiên có thể bị cạn kiệt… Đoạn (c), (e), (h), (i), (j) của Điều XX lần lượt liên
quan tới việc trao đổi mua bán vàng bạc, việc nhập khẩu các sản phẩm được tạo nên
từ việc sử dụng lao động của tù nhân, các nghĩa vụ trong các thỏa thuận hàng hóa
quốc tế, các nỗ lực nhằm đảm bảo lượng nguyên vật liệu cần thiết cho các ngành
công nghiệp sản xuất trong nước và việc phân phối một sản phẩm thuộc diện khan
hiếm trong phạm vi cả nước hay tại một địa phương. Bốn đoạn này không đóng vai
trò quan trọng trong hệ thống pháp luật thương mại quốc tế của WTO cũng như
trong thực tiễn ứng dụng như các đoạn khác trong Điều XX, chính vì vậy người viết
lược bỏ không đề cập tới.
Cấu trúc của Điều XX GATT 1994 bao gồm 2 phần là đoạn mở đầu
(‘chapeau’) và các đoạn từ (a) đến (j). Căn cứ vào yêu cầu về mối quan hệ giữa các
biện pháp cụ thể được xem xét và giá trị xã hội mà nó theo đuổi, các đoạn của Điều
XX GATT 1994 được phân thành các nhóm như trong bảng sau:
15
Bảng 1.1. Phân nhóm các khoản của Điều XX GATT 1994
Cụm từ được dùng để quy định yêu cầu về mối
Các khoản của Điều XX GATT
quan hệ giữa biện pháp và giá trị mà nó theo đuổi
‘cần thiết để’ (‘necessary to’)
XX(a)
XX(b)
XX(d)
UU
XX(h)
‘thiết yếu để’ (‘essential to’)
XX(j)
(Nguồn: tác giả tổng hợp)
Như vậy, để được kết luận là thuộc phạm vi của một trong các đoạn từ (a) đến
(j) của Điều XX GATT 1994, một số biện pháp phải đạt tiêu chí ‘cần thiết’
(‘necessary to’) nhằm bảo vệ sự tồn tại và phát triển của giá trị xã hội (ví dụ bảo vệ
cuộc sống và sức khỏe của con người, động thực vật), trong khi các biện pháp khác
chỉ cần ‘liên quan tới’ (‘relating to’) giá trị xã hội mà nó theo đuổi (ví dụ bảo tồn
các nguồn tài nguyên thiên nhiên hữu hạn). Sau đây phạm vi điều chỉnh cũng như
các điều kiện liên quan được đề cập tới trong Điều XX sẽ được trình bày theo cấu
trúc gồm đoạn mở đầu và một số khoản quan trọng.
a) Đoạn mở đầu Điều XX của GATT 1994
Đoạn mở đầu của Điều XX đóng vai trò rất quan trọng, bởi một biện pháp để
được chấp nhận hợp pháp là một ngoại lệ chung, thì một trong những điều kiện cần
là phải thỏa mãn các tiêu chí mà đoạn mở đầu Điều XX đặt ra. Thực tế giải quyết
tranh chấp đã chứng tỏ vai trò quan trọng này, khi một vài phán quyết gây tranh cãi
nhất của Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm có liên quan tới đoạn mở đầu Điều
XX. Điều XX GATT 1994 mở đầu được viết như sau: Với bảo lưu rằng các biện
pháp đề cập ở đây không được theo cách tạo ra công cụ phân biệt đối xử vô lý hay
tùy tiện giữa các nước có cùng hoàn cảnh như nhau, hay tạo ra một sự hạn chế trá
hình với thương mại quốc tế,…
Đoạn văn trên đã nhấn mạnh các ngoại lệ chung của GATT 1994 chỉ nhằm
Hai điểm chính của đoạn này là việc áp dụng các biện pháp giới hạn thương
mại phải đồng thời: (1) Không ‘phân biệt đối xử vô lý hay tùy tiện giữa các nước có
cùng điều kiện như nhau’; (2) Không ‘tạo ra một sự hạn chế trá hình với thương
mại quốc tế’.
Với điều kiện đầu tiên, đoạn mở đầu Điều XX không ngăn cấm sự phân biệt
đối xử, mà cấm sự phân biệt đối xử ‘vô lý’ và ‘tùy tiện’. Cụm từ ‘giữa các nước’
không chỉ giới hạn ở sự phân biệt đối xử giữa các nước xuất khẩu có cùng hoàn
cảnh mà bao gồm cả sự phân biệt đối xử giữa một nước nhập khẩu và một nước
xuất khẩu có hoàn cảnh như nhau. Việc áp dụng cùng một biện pháp ở hai nước có
điều kiện hoàn cảnh khác nhau cũng có thể gây ra ‘sự phân biệt đối xử vô lý’. Trong
thương mại quốc tế, không thể chấp nhận được việc một thành viên WTO sử dụng
các lệnh cấm vận kinh tế để đòi hỏi các thành viên khác phải áp dụng cùng một biện
pháp, bất chấp điều kiện của từng nước là khác nhau. Trong tình huống này, việc áp
dụng biện pháp đó là cứng nhắc và có thể cấu thành ‘sự phân biệt đối xử vô lý’ nếu
chiếu theo nội hàm của đoạn mở đầu Điều XX.
Giải thích về yêu cầu không được ‘phân biệt đối xử tùy tiện’, Cơ quan Phúc
thẩm cho rằng để thỏa mãn được yêu cầu này, một thành viên cần phải nỗ lực một
cách nghiêm túc và có thiện chí nhằm thương lượng một giải pháp nhiều bên trước
khi tiến hành các biện pháp đơn phương. Theo hàm ý của đoạn mở đầu Điều XX,
một biện pháp không tạo ra sự phân biệt đối xử tùy tiện phải là giải pháp cuối cùng
và không thể tránh khỏi, ngoài nó ra không còn giải pháp thay thế nào khả thi.
Với điều kiện không ‘tạo ra một sự hạn chế trá hình với thương mại quốc tế’,
một biện pháp sẽ được xem là ‘tạo ra một sự hạn chế trá hình với thương mại quốc
tế’ nếu mục đích và cách thiết kế của nó cho thấy biện pháp này không hướng tới
mục đích hợp pháp được đề cập ở Điều XX mà thực tế nhằm giới hạn thương mại
(ví dụ để bảo hộ).
Với điều kiện (1), các biện pháp được xem xét bao gồm các quy định về sức
khỏe công cộng cũng như về môi trường. Nhưng không phải mọi biện pháp về môi
trường đều thuộc phạm vi áp dụng của Khoản XX(b) của GATT 1994. Khoản
XX(b) áp dụng cho các biện pháp không được chỉ nhằm mục đích chống lại các mối
nguy hại tác động đến ‘môi trường’ một cách chung chung mà cần cụ thể là các
nguy cơ đối với đời sống hay sức khỏe của động thực vật. Một biện pháp được cho
là cần thiết để đạt mục đích bảo vệ sức khỏe hay cuộc sống của con người và động
thực vật khi không còn giải pháp thay thế nào khả thi, nói cách khác biện pháp đó là
giải pháp cuối cùng không thể tránh khỏi.
Khoản XX(d): ‘cần thiết để bảo đảm sự tuân thủ pháp luật và các quy tắc
không trái với các quy định của Hiệp định’
Một biện pháp không tuân thủ các điều khoản khác của GATT 1994 sẽ nằm
trong phạm vi điều chỉnh của Khoản XX(d) nếu: (1) Biện pháp đó phải được thiết
kế nhằm mục đích ‘đảm bảo sự tuân thủ’ các luật pháp quốc gia, ví dụ luật hải quan
hay luật sở hữu trí tuệ, mà bản thân nó không trái với GATT 1994; (2) Biện pháp đó
phải là ‘cần thiết’ để đảm bảo mục đích trên.
Luật quốc gia ở đây được hiểu là pháp luật nội địa của một nước thành viên
chứ không phải các điều ước, Hiệp định mà thành viên đó ký kết ngoài các Hiệp
định WTO (chẳng hạn NAFTA). Trong trường hợp thỏa mãn điều kiện đầu tiên,
một biện pháp được cho là ‘cần thiết’ khi không tồn tại giải pháp thay thế nào khác
tuân thủ GATT 1994 hoặc có mức độ vi phạm GATT 1994 thấp hơn.
c) Khoản XX(g) của nhóm điều kiện ‘liên quan tới’ (‘relating to’)
Khoản XX(g): ‘các biện pháp liên quan tới việc gìn giữ nguồn tài nguyên có
thể bị cạn kiệt nếu các biện pháp đó cũng được áp dụng hạn chế cả với sản xuất và
tiêu dùng trong nước’