BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
--------------------
TRƯƠNG ĐÌNH BẢO LONG
NGHIÊN CỨU HÀNH VI QUÁ TỰ TIN
CỦA NHÀ QUẢN TRỊ TRONG VIỆC RA
QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-------------------Trương Đình Bảo Long
NGHIÊN CỨU HÀNH VI QUÁ TỰ TIN
CỦA NHÀ QUẢN TRỊ TRONG VIỆC RA QUYẾT
ĐỊNH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng
Mã số:
934 0201
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGHIÊN CỨU HÀNH VI QUÁ TỰ TIN
CỦA NHÀ QUẢN TRỊ TRONG VIỆC RA QUYẾT
ĐỊNH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số:
93 40201
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người Hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐỊNH
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan Luận án Tiến sĩ “Nghiên cứu hành vi quá tự tin của
nhà quản trị trong việc ra quyết định tài chính đối với các doanh nghiệp Việt Nam”
là công trình nghiên cứu do chính tác giả thực hiện. Các thông tin số liệu được sử
dụng trong luận án giai đoạn từ 2007-2016 được Thomson Reuteurs thu thập lại là
trung thực, được chấp thuận của kiểm toán qua các năm và công bố đại chúng. Tất cả
những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ.
Nghiên cứu sinh
Trương Đình Bảo Long
2
CHƯƠNG 2. KHUNG LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY
............................................................................................................................................. 21
2.1. Lý thuyết tài chính hành vi về lệch lạc nhận thức ............................................... 21
2.1.1. Lý trí không hoàn toàn: tính lý trí bị giới hạn .............................................. 21
2.1.2. Tâm lý học nhận thức: những mẫu hình lệch lạc hành vi ............................ 24
2.1.3. Lệch lạc quá tự tin nhà quản trị trong lý thuyết tài chính hành vi ............. 28
2.2. Quá tự tin và quá tự tin của CEO ......................................................................... 29
2.3. Các tiếp cận đo lường sự quá tự tin của CEO ..................................................... 31
2.4. Lý thuyết về quá tự tin của CEO và quyết định tài chính doanh nghiệp .......... 37
2.4.1. Quá tự tin của CEO và chính sách đầu tư ..................................................... 39
2.4.2. Quá tự tin của CEO và chính sách tài trợ ..................................................... 47
2.4.3. Quá tự tin của CEO và chính sách cổ tức ...................................................... 51
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN ..................................... 56
3.1. Mô hình và phương pháp nghiên cứu ................................................................... 56
3.1.1. Mô hình quá tự tin của CEO và chính sách đầu tư của doanh nghiệp ....... 56
3.1.2. Mô hình quá tự tin của CEO và chính sách tài trợ của doanh nghiệp ....... 63
3.1.3. Mô hình quá tự tin của CEO và chính sách cổ tức doanh nghiệp ............... 68
3.2. Biến và thống kê mô tả dữ liệu .............................................................................. 71
3.2.1. Các biến trong mô hình và một số phép đo lường cho các biến đặc thù .... 72
3.2.2. Thống kê mô tả dữ liệu .................................................................................... 88
3.3. Phương pháp ước lượng ......................................................................................... 96
3.3.1. Mô hình Fixed Effects và mô hình Random Effects ..................................... 96
3.3.2. Hiện tượng nội sinh và mô hình GMM .......................................................... 98
3.3.3. R bình phương (R-squared) .......................................................................... 100
3.3.4. Kiểm định Arellano-Bond – AR(1) và AR(2) .............................................. 100
3.3.5. Kiểm định Hansen J và Sargan J ................................................................. 102
3
4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Nghĩa
AIC
Akaike Information Criterion
CEO
Giám đốc điều hành
CFO
Giám đốc tài chính
DGMM
Dynamic Generalized Method of Moments
GMM
Generalized Method of Moments
GMM-CUE
FEM
Fixed Effects Model
FA
Factor Analysis – Phân tích nhân tố
OMO
Open Market Operation – Hoạt động thị trường
mở
ADF
Augmented Dickey Fuller
DF
Dickey Fuller
2SLS
Two-Stage Least Squares
FCI
Financial Condition Indicator
Bảng 4.4. Quá tự tin của CEO và quyết định tài trợ trong điều kiện thâm hụt tài chính
Bảng 4.5. Quá tự tin của CEO và quyết định chi trả cổ tức
6
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA
LUẬN ÁN
Những phân tích cho thấy có nhiều cơ sở để tin rằng người quản lý có quyền
cao nhất của doanh nghiệp (CEO) dễ bị lệch lạc do hành vi quá tự tin. Từ đó, những
quyết định được đưa ra bởi người CEO quá tự tin có thể dẫn đến rủi ro cao hơn so
với những người CEO bình thường (không quá tự tin). Thực ra lý thuyết nghiên cứu
mối liên hệ giữa các hành vi lệch lạc của người quản lý và các quyết định doanh
nghiệp đã được nghiên cứu từ nhiều thập kỷ trước. Trong khuôn khổ các lý thuyết và
bằng chứng thực nghiệm ở luận án này, tác giả sẽ xem xét tác động của hành vi quá
tự tin đến ba quyết định quan trọng của CEO là đầu tư, tài trợ và chi trả cổ tức. Bởi
vì ba quyết định này có liên quan chặt chẽ lẫn nhau, nên nếu như thiếu đi một yếu tố
được phân tích, thì sẽ khó cho nhà quản trị đi đến một quyết định đúng đắn. Phần
này tập trung vào việc giới thiệu được sơ lược toàn bộ nội dung nghiên cứu trong
bài. Giới thiệu bao gồm lý do lựa chọn đề tài, tính cấp thiết, mục tiêu, câu hỏi nghiên
cứu, một số kết quả tìm được. Ngoài ra, tác giả còn trình bày rõ phần bố cục các
chương để người đọc tiện theo dõi.
***
1.1 Tính cấp thiết của luận án
Chủ đề nghiên cứu về ba quyết định tài chính không còn xa lạ đối với giới
nghiên cứu của Việt Nam và trên thế giới. Mỗi năm có rất nhiều các nghiên cứu bổ
sung, đưa ra nhiều các bằng chứng thực nghiệm, các khía cạnh khác nhau về vấn đề
quyết định tài chính như cấu trúc vốn, đầu tư, thâm hụt tài trợ và các yếu tố ảnh hưởng
chi trả cổ tức. Thế nhưng, hầu hết các nghiên cứu đều dựa trên quan điểm lý thuyết
chuẩn tắc để chứng minh các giả thuyết và có rất ít các nghiên cứu giải thích dựa trên
sẽ được bác bỏ (ủng hộ) trong thực nghiệm để làm rõ ràng hơn về mối quan hệ này.
Đây cũng chính là tính cấp thiết của luận án; tức là, luận án phải làm rõ được ảnh
hưởng của hành vi nhà quản trị (trong khía cạnh quá tự tin của CEO) đối với quyết
định tài chính để có thể đưa ra khuyến nghị đúng đắn đối với các doanh nghiệp.
Khái niệm nhà quản trị ở đây đồng nhất với CEO (giám đốc điều hành) – người ra quyết định trực tiếp,
không bao gồm Chủ tịch Hội đồng quản trị, Hội đồng quản trị và CFO (giám đốc tài chính).
1
8
1.2 Sơ lược tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Nghiên cứu của luận án có liên quan chặt chẽ đối với các tài liệu về đề tài sự
ảnh hưởng của sự quá tự tin lên các chính sách của doanh nghiệp. Malmendier và
Tate (2005) chứng minh rằng các doanh nghiệp (được quản lý bởi các CEO quá tự
tin) có độ nhạy cảm đối với dòng tiền nội bộ lớn hơn các doanh nghiệp được quản lý
bởi các CEO lý trí. Malmendier và Tate (2008) cho thấy rằng các CEO quá tự tin có
khả năng tham gia vào các vụ mua lại, điều này làm giảm giá trị doanh nghiệp.
Malmendier cùng cộng sự (2011) lập luận rằng các nhà quản lý nhận thức được việc
doanh nghiệp bị định giá thấp và không muốn tăng tài trợ thông qua các nguồn bên
ngoài tốn kém. Luận án cũng sẽ chứng minh rằng sự miễn cưỡng của các CEO quá
tự tin trong huy động vốn thông qua các nguồn bên ngoài dẫn đến cả một trật tự phân
hạng trong tài trợ và sự bảo thủ khi sử dụng nợ. Nghiên cứu này cũng nhắm đến mối
quan hệ giữa sự quá tự tin của nhà quản lý và chính sách cổ tức theo Ben-David cùng
cộng sự (2007) và Bouwman (2009). Ben-David cùng cộng sự (2007) cho rằng các
doanh nghiệp với các CEO định chuẩn sai (miscalibrated CEO) có thể trả cổ tức ít
hơn.
Quá tự tin2 và quyết định đầu tư:
Trong mô hình nghiên cứu về sự lạc quan, Heaton (2002) chỉ ra rằng vì các giám
nỗ lực đem lại lợi ích cho những cổ đông, mục tiêu của họ là tối đa hóa giá trị doanh
nghiệp (đánh đổi lợi ích thuế và chi phí sử dụng nợ). Khi nhà quản lý quá tự tin nhận
thấy nợ được định giá thấp hơn cổ phần, thì họ sử dụng nợ cao hơn mức nợ của những
nhà quản lý lý trí. Trong dạng thứ hai của mô hình Hackbarth, vấn đề đại diện của
dòng tiền tự do xuất hiện (như trong Jensen 1986). Nhà quản lý quá tự tin chọn mức
nợ cao hơn một nhà quản lý lý trí. Điều này làm giảm bớt đi những vấn đề về dòng
tiền tự do, do vậy, gắn kết lợi ích của nhà quản lý với lợi ích của cổ đông.
Bên cạnh đó, theo Ulrike Malmendier cùng các cộng sự (2011) thì khi nhận
được tài trợ bên ngoài, nhìn chung, các CEO quá tự tin nhận thấy việc tài trợ vốn cổ
phần bị định giá sai nhiều hơn nợ rủi ro. Trong trường hợp tài trợ vốn cổ phần, sự
khác biệt trong ý kiến giữa các cổ đông và các CEO này về dòng tiền tương lai có ý
nghĩa đối với tất cả các quốc gia trên thế giới. Thực ra, trong vấn đề rủi ro nợ, sự bất
đồng quan điểm chỉ xuất hiện khi nghiên cứu các nước nghèo; trong chừng mực đó,
các CEO ước lượng quá cao dòng tiền trong các quốc gia giàu có, trên hoặc vượt xa
các nghĩa vụ nợ của họ, cái này không có liên quan đến lãi suất. Như vậy, kế hoạch
cân đối tài trợ của các CEO quá tự tin sẽ chứa đựng nhiều nợ rủi ro hơn sự đánh đổi
của một CEO lý trí với các nhu cầu tài trợ tương đương.
10
Tuy nhiên, nếu chi phí của việc tài trợ bên ngoài (được ước lượng quá mức)
vượt xa thu nhập từ đầu tư (được ước lượng quá mức), các CEO quá tự tin không
tham gia nguồn tài trợ bên ngoài và chỉ đầu tư trong phạm vi của khoản tài trợ nợ
không rủi ro, tiềm ẩn sự đầu tư dưới mức so với một CEO lý trí. Trong cách thiết lập
động, các nhà quản lý quá tự tin có thể tích lũy khoản nợ không rủi ro dư thừa khi
thấy trước nhu cầu đầu tư trong tương lai và duy trì mức nợ chưa xử lý thấp hơn so
với một CEO lý trí. Bỏ qua các va chạm khác, một CEO lý trí không giữ tiền mặt
trong công ty khi tài trợ bên ngoài được định giá đúng và việc nắm giữ tiền mang lại
bất lợi về thuế. Như vậy, sự quá tự tin có thể dẫn tới các mức nợ quá thấp so với các
Quá tự tin và quyết định chi trả cổ tức:
Các nghiên cứu nhắm đến mối quan hệ giữa sự quá tự tin hoặc quá lạc quan của
nhà quản lý và chính sách cổ tức bao gồm Ben-David và cộng sự (2007) và Bouwman
(2009). Ben-David và cộng sự (2007) xác định các CEO định chuẩn sai dựa vào
những dự báo của họ về thu nhập của thị trường chứng khoán và phân tích làm thế
nào mà cách đo lường này lại liên quan đến các chính sách của công ty. Bằng chứng
của họ chỉ ra rằng các công ty với các CEO định chuẩn sai (miscalibrated CEO) có
thể trả cổ tức nhỏ hơn. Sau này, Ben-David (2010) cũng nghiên cứu về chính sách cổ
tức từ góc độ tài chính hành vi rộng hơn. Bouwman (2009) phân tích sự thay đổi về
giá cổ phiếu đối với việc tăng cổ tức của các CEO lạc quan. Trong khi bà nghiên cứu
tác động của sự quá tự tin của các CEO lên chính sách cổ tức, bà tìm thấy rằng thị
trường chứng khoán phản ứng tích cực đối với việc tăng cổ tức của các CEO lạc quan.
Phân tích lý thuyết của luận án cung cấp một kết quả khả quan hơn; kết quả chỉ ra
rằng, phản ứng của thị trường chứng khoán phụ thuộc vào mức độ của sự không chắc
chắn về sự quá tự tin của CEO. Phân tích thực nghiệm của luận án khác với kết quả
của Sanjay Deshmukh, Anand M. Goel, Keith M. Howe (2013) và Bouwman (2009);
tuy nhiên, luận án củng cố xác nhận kết quả thực nghiệm và lập luận của Banerjee
cùng cộng sự (2014).
Bên cạnh đó, tại Việt Nam, nghiên cứu quá tự tin của CEO lên quyết định doanh
nghiệp đã bắt đầu nhận được sự quan tâm trong vài năm gần đây. Nguyễn Ngọc Định
(2015) và Lê Đạt Chí (2015) bước đầu tìm thấy bằng chứng về sự ảnh hưởng của tâm
lý quá tự tin lên quyết định đầu tư doanh nghiệp. Tuy vậy, thước đo quá tự tin của
12
CEO vẫn là một thách thức về mặt đo lường thực nghiệm ở Việt Nam. Bài này, luận
án cải tiến thước đo quá tự tin của CEO so với Nguyễn Ngọc Định (2015) và Lê Đạt
Chí (2015) để tránh vấn đề nội sinh3. Ngoài ra, mối quan hệ giữa tâm lý quá tự tin
của người điều hành và sự lựa chọn cấu trúc vốn ở các doanh nghiệp Việt Nam đến
13
hiện tượng nội sinh thì mô hình có tốt hơn không?). Xem xét tính quá tự tin và quyết
định đầu tư sẽ góp phần đánh giá các quyết định đầu tư của nhà quản trị, qua đó, ta
có thể nhận định được liệu nhà quản trị có đang quyết định đúng đắn hay quyết định
đó là do tâm lý chủ quan quá tự tin của họ. Mặt khác đánh giá tác động quá tự tin lên
quyết định đầu tư, ở đây là đang xem xét mối quan hệ sự quá tự tin lên độ nhạy cảm
giữa dòng tiền và đầu tư. Khi dòng tiền bị giới hạn, nhà quản trị có khuynh hướng
hạn chế đầu tư, nhưng hạn chế ở chừng mực nào thì có thể sẽ còn phụ thuộc vào cảm
tính của nhà quản trị. Dù rằng trong kinh doanh, nhà quản trị có rất nhiều số liệu và
các báo cáo khác nhau để đánh giá và ra quyết định; nhưng các hệ số tỷ suất sinh lợi,
phán đoán mang tính vĩ mô về một dự án phụ thuộc rất nhiều vào sự chủ quan của
nhà quản trị. Đến đây ta mới nhận thấy đánh giá tính quá tự tin có thể ảnh hưởng lên
quyết định đầu tư là vô cùng cần thiết trong thực tiễn.
-
Xác định sự tồn tại của mối quan hệ giữa sự quá tự tin và quyết định đầu tư tại
Việt Nam dưới điều kiện của sự phát triển tài chính. (Quá tự tin quyết định đến đầu
tư như thế nào khi có tương tác với điều kiện phát triển tài chính? Điều kiện phát triển
tài chính đóng vai trò gì? Các biến có ý nghĩa thống kê không?). Các mối quan hệ
bên trong các mô hình có thể thay đổi trước những biến động của kinh tế vĩ mô. Ví
dụ như một cuộc suy thoái lớn có thể làm thay đổi nhiều mặt của một nền kinh tế và
cũng có thể làm cho tâm lý của nhà quản trị trở nên thận trọng hơn trong các quyết
định của mình. Hoặc đôi khi, tình hình thị trường trở nên tốt hơn sẽ làm cho nhà quản
trị dễ rơi vào trạng thái chủ quan và có thể dẫn đến các quyết định rủi ro. Đánh giá
mối quan hệ giữa quá tự tin và quyết định đầu tư trong tác động của điều kiện tài
chính sẽ giúp chúng ta làm sáng tỏ hơn những hoài nghi đã nêu trên.
khía cạnh chi tiết hơn mà tại đó ta có thể phân loại ra tình hình ra quyết định tài trợ
của các doanh nghiệp đang bị thâm hụt tài chính và các doanh nghiệp ít hoặc không
bị thâm hụt.
-
Xác định sự tồn tại của mối quan hệ giữa sự quá tự tin và quyết định chi trả cổ
tức tại Việt Nam. (Mức chi trả cổ tức phụ thuộc vào sự quá tự tin như thế nào? Mối
quan hệ có bền vững khi áp dụng các kĩ thuật hồi quy khác nhau không? Có mâu
thuẫn nào xuất hiện đối với thị trường phát triển không? Có rủi ro nào phát sinh từ
vấn đề này không?). Khi đánh giá nguồn tài trợ, quyết định chi trả cổ tức là vô cùng
quan trọng bởi vì cổ tức sẽ thể hiện dòng tiền nội bộ của doanh nghiệp. Dòng tiền này
có thể được giữ lại để đầu tư, để bảo lãnh cho các khoản nợ và nhằm làm giảm rủi ro.
Một doanh nghiệp có dòng cổ tức cao thì thể hiện khả năng sinh lợi tốt và có khả
năng huy động vốn (từ cổ phiếu hoặc từ vay nợ) lớn. Đây có thể được coi là nơi hình
thành và tạo ra tính quá tự tin của nhà quản trị. Thực vậy, hành vi quá tự tin của nhà
quản trị được vun đắp theo thời gian sau khi trải qua rất nhiều những dự án thành
công. Họ có khuynh hướng nhìn nhận những lần thành công là do tài năng lãnh đạo
15
của họ và những lần thất bại là do những rủi ro ngoài tầm kiểm soát. Để xem xét vấn
đề đó, ta cần phải đánh giá xem thử liệu tính quá tự tin có thúc đẩy một sự tự tin quá
mức và chi trả cổ tức cao hơn hay không.
-
Xác định sự tồn tại của mối quan hệ giữa sự quá tự tin và quyết định chi trả cổ
tức tại Việt Nam dưới điều kiện xuất hiện cơ hội tăng trưởng. (Khi cơ hội tăng trưởng
để xác minh mối quan hệ giữa quá tự tin và quyết định tài chính thì sẽ áp dụng từ năm
2011-2016 (6 năm). Ở đây, để số năm quan sát liên tục không quá ngắn và
phục vụ cho việc nghiên cứu tốt hơn, tác giả lựa chọn các công ty có số năm quan sát
liên tục ít nhất là 7 năm và nhiều nhất là 9 năm.
Luận án hồi quy mô hình dựa trên cơ sở tương tự các bài nghiên cứu trước đây,
từ việc thu thập biến, dữ liệu cho đến mô hình hồi quy nhằm xác định mục tiêu nghiên
cứu đã đề ra. Hầu hết các nghiên cứu sử dụng mô hình Pooled OLS để kiểm tra các
giả thuyết được đưa ra là phù hợp với bằng chứng thực nghiệm ở Việt Nam hay
không? Tuy nhiên, luận án cho rằng cần phải kiểm định tính vững của mô hình bằng
phương pháp hồi quy tổng quát GMM, cụ thể là SGMM nhằm loại bỏ vấn đề nội sinh
xuất phát từ sự không đầy đủ và sai sót trong đo lường đối với bộ dữ liệu ở Việt Nam.
Mô hình quá tự tin của CEO được ước lượng bằng phương pháp SGMM sẽ giúp
tránh được một số vấn đề nội sinh tiềm tàng4. Cơ sở của việc sử dụng phương pháp
SGMM ở đây xuất phát từ những tiềm ẩn ước lượng bị chệch trong hồi quy dữ liệu
DPD (xem Nickell (1981)). Cụ thể, SGMM có thể xử lý vấn đề hiệu ứng cố định
(fixed effects) theo thời gian (mà có thể tương quan với các biến giải thích) thông qua
phương trình sai phân bậc nhất. Bên cạnh đó, thông qua việc chọn biến gốc (theo mức
độ) làm biến công cụ cho sai phân bậc nhất của biến phụ thuộc, SGMM sẽ xử lý vấn
đề tự tương quan phát sinh do sự xuất hiện của biến đầu tư 𝑰 trong hai vế của mô
hình. Ngoài ra, SGMM được thiết kế cho DPD có dạng “N lớn, T nhỏ” như trường
hợp bài nghiên cứu này. Đặc biệt, phương pháp SGMM cho phép dữ liệu nghiên cứu
bị gián đoạn quan sát bằng cách thực hiện kỹ thuật biến đổi độ lệch trực giao
(orthogonal deviations) nhằm tối đa hóa cỡ mẫu. Và, SGMM có thể bao gồm biến
giải thích là biến không đổi theo thời gian (𝑶𝑪 trong bài này là một ví dụ).
1.5 Các phát hiện và kết quả nghiên cứu trong luận án
4
Phụ lục 4
lý trí và luôn biết tối ưu các lựa chọn.
18
Ngày nay, khi kinh tế học và tài chính hành vi phát triển hơn, các nhà nghiên
cứu đã tiến hành đo lường và xác định những biểu hiện của con người phi lý trí, từ
đó dần lý giải rõ ràng hơn cho những bất thường trong quản trị doanh nghiệp. Một
trong những nhà nghiên cứu rất thành công khi kết hợp tài chính hành vi trong việc
ra quyết định phi lý trí (tự tin quá mức) của CEO là Malmendier và Tate (2005). Mặc
dù vậy, nghiên cứu chỉ mới tập trung vào thị trường tài chính các nước phát triển.
Vậy nên, đây là một khe hổng nghiên cứu để luận án nắm bắt và nghiên cứu bằng
chứng thực nghiệm tại thị trường Việt Nam - thị trường mới nổi. Luận án tin rằng,
ở thị trường mới nổi có những đặc thù riêng xuất phát từ việc lĩnh vực tài chính trong
thị trường này chưa phát triển, phần lớn các doanh nghiệp phụ thuộc vào nguồn vốn
được cung từ các ngân hàng thương mại. Chính điều này phần nào sẽ làm cho quyết
định của CEO quá tự tin có sự khác biệt rõ rệt. Cho nên, theo luận án, các quốc gia
có thị trường mới nổi sẽ có điểm tương đồng vì vậy, từ nghiên cứu của Việt Nam,
luận án hay các nhà nghiên cứu trong tương lai sẽ dựa vào luận án này để làm nền
tảng phát triển nghiên cứu này ở các quốc gia tương tự.
1.6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu sẽ làm rõ hơn mối quan hệ giữa sự quá tự tin của CEO và các quyết
định tài chính ở thị trường Việt Nam. Nhà đầu tư, nhà quản trị, cổ đông và các bên
liên quan có thể sử dụng kiến thức từ nghiên cứu này để phán đoán tín hiệu của doanh
nghiệp (liệu doanh nghiệp có đang gặp rủi ro vay nợ? liệu CEO có quá tự tin? mức
trả cổ tức cao hơn liệu có tốt không?...). Nếu áp dụng bằng chứng thực nghiệm từ các
nghiên cứu khác tại một thị trường khác như ở Mỹ vào bối cảnh Việt Nam thì các
phán đoán sẽ không chính xác, bởi quyết định còn bị ảnh hưởng một phần bởi tâm lý,
trình độ, mức độ phát triển của hệ thống tài chính. Ở những thị trường mới nổi như
Việt Nam, các bằng chứng thực nghiệm sẽ có ít nhiều sự khác biệt đối với thị trường
quyết định doanh nghiệp) đã được thực hiện cho bối cảnh Việt Nam tính đến thời
điểm luận án này được viết. Quan trọng nhất, hưởng của hành vi quá tự tin nhà quản
trị lên đầu tư sẽ được làm phân tích kỹ trên cơ sở tiếp cận độ nhạy cảm đầu tư - dòng
tiền. Luận án tiếp theo trình bảy các cách tiếp cận đo lường tâm lý quá tự tin trong
nghiên cứu thực nghiệm với sự tập trung lên 2 tiếp cận cơ bản của Malmendier và
Tate (2005a, 2005b, 2008) - tiếp cận dựa trên quyền chọn và tiếp cận dựa trên thông
tin báo chí. Qua việc phân tích bản chất các mối quan hệ tài chính hành vi này, luận
20
án đưa ra các giả thuyết của mình để làm tiền đề xây dựng mô hình, thu thập dữ liệu
trong phần kế tiếp. Trong chương 2, luận án cũng đề cập đến các điều kiện được bổ
sung vào phương trình để tạo thêm tính vững cho lý thuyết.
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu
Trình bày cách thu thập dữ liệu từ các nguồn dữ liệu và xây dựng mô hình
nghiên cứu để tìm ra bằng chứng thực nghiệm ủng hộ hoặc bác bỏ các giả thuyết được
đưa ra trong chương 2 đối với thị trường Việt Nam. Từ các lý thuyết cơ bản, luận án
thêm các biến số vào để hoàn thiện mô hình, cố gắng chọn lọc các biến không tương
quan hoàn toàn.
Chương 4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của quá tự tin của CEO lên quyết
định tài chính
Biểu diễn các kết quả thực nghiệm thu được từ việc chạy mô hình trong chương
3; phân tích và đối chiếu với các kết quả thu được với các kết quả trong những nghiên
cứu trước đây. Để tăng tính chặt chẽ và xác thực của kết quả, đối với mỗi một phương
trình, luận án thêm vào các biến và cuối cùng sử dụng mô hình GMM (hay các mô
hình GMM cải tiến) để khẳng định thêm.
Chương 5. Kết luận về sự quá tự tin của CEO và các quyết định tài chính
Tổng kết lại toàn bộ nội dung nghiên cứu của luận án và dẫn ra một số khuyến
nghị đối với phong cách quản lý và ra quyết định của CEO. Theo đó, ta coi như việc