1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Từ sau ngày giải phóng, để tạo dựng cơ sở hạ tầng nhằm phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội thì nước ta đã tiến hành đầu tư xây dựng một cách mạnh
mẽ. Thời kỳ đầu, do nguồn vốn eo hẹp, trình độ khoa học - kỹ thuật còn yếu
nên các công trình chủ yếu là do Liên Xô và các nước Đông Âu giúp đỡ xây
dựng. Bởi vậy, công tác quản lý đầu tư xây dựng trong thời gian đó chưa được
quan tâm đúng mức. Sau này, khi thực hiện chính sách mở cửa, nền kinh tế
đất nước đã có những bước phát triển đáng kể cùng với đó là nguồn vốn đầu
tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng ngày một tăng. Vì vậy, công tác quản lý dự án
đầu tư xây dựng đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả
trong sử dụng vốn, chất lượng công trình, tiến độ xây dựng công trình, an toàn
lao động, bảo vệ môi trường, v.v…
Nguồn vốn đầu tư chủ yếu trong xây dựng cơ bản là vốn ngân sách và
vốn ODA. Vốn ODA thường đầu tư vào công trình quan trọng, có quy mô
lớn, Còn nguồn vốn Ngân sách thường đầu tư vào các công trình có quy mô
trung bình và nhỏ nhưng số lượng công trình nhiều. Vì các công trình thuộc
nguồn Ngân sách thường do nhiều cấp ở địa phương quản lý nên việc quản lý
đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn này rất phức tạp.
Là một tỉnh có vị trí đặc biệt về giao thông, địa hình và lịch sử văn hóa,
Hà Tĩnh có điều kiện thuận lợi để trở thành trung tâm kinh tế của khu vực Bắc
Miền Trung. Đại hội tỉnh đảng bộ lần thứ XVII, khóa 2010-1015, đã nêu rõ ưu
tiên và chú trọng đầu tư cho các dự án cơ sở hạ tầng giao thông, công nghiệp,
du lịch góp phần tạo đà phát triển cho các ngành kinh tế khác. Vốn ngân sách
giành cho chi đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong những
năm gần đây tăng nhanh, trong đó tập trung vào một số lĩnh vực, một số công
trình trọng điểm như: Dự án cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp
2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư xây
dựng, vai trò của các đơn vị trong quá trình thực hiện đầu tư và sự cần thiết
phải hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản lý thực hiện các dự án đầu tư
xây dựng trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
- Trên cơ sở nghiên cứu những mặt hạn chế, các nguyên nhân và đề
xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho các dự án đầu tư sử dụng vốn
ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới.
3. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trên cơ sở lý luận chung về dự án đầu tư xây dựng; hệ thống các văn bản,
chế độ, chính sách hiện hành về quản lý đầu tư xây dựng của Nhà nước và tình
hình triển khai thực hiện các dự án đầu tư xây dựng trong những năm vừa qua.
Đề tài áp dụng hương pháp hệ thống hóa, phương pháp thống kê, phân tích so
sánh để giải quyết các vấn đề liên quan đến quá trình đầu tư xây dựng.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu các quá trình thực hiện một dự án đầu tư XDCB nói chung
và các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà
Tĩnh nói riêng trong những năm qua. Việc phân tích những khó khăn, bất cập
vướng mắc trong quá trình thực hiện ở địa phương để đưa ra những giải pháp
nhằm khắc phục, nâng cao hiệu quả đầu tư. Số liệu dùng trong nghiên cứu của
các năm từ 2010 trở về trước.
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
Trên cơ sở lý luận và phân tích tình hình thực hiện các dự án đầu tư xây
dựng sử dụng vốn ngấn sách trên địa bàn tỉnh, đánh giá những kết quả đạt
được và tồn tại hạn chế trong quá trình thực hiện các dự án. Đề tài tập trung
nghiên cứu đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các dự án
bước tăng cường và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo đà phát triển cho
Đất nước.
1.1.3. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc Ngân sách nhà nước
1. Khái niệm
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ những chi phí để đạt được mục
đích đầu tư bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm,
lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán.
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách nhà nước là vốn của ngân
sách nhà nước được cân đối trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm từ
các nguồn thu trong nước ngoài (bao gồm vay nước ngoài của Chính phủ và
vốn viện trợ của nước ngoài cho Chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ
quan nhà nước) để cấp phát và cho vay ưu đãi về đầu tư xây dựng cơ bản.
2. Nguồn hình thành vốn đầu tư XDCB của Ngân sách nhà nước:
- Một phần tích lũy trong nước từ thuế, phí, lệ phí;
- Vốn viện trợ theo dự án của Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ;
6
- Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của tổ chức quốc tế và các
Chính phủ hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam;
- Vốn thu hồi nợ của Ngân sách đã cho vay ưu đãi các năm trước;
- Vốn vay của Chính phủ dưới các hình thức trái phiếu do Kho bạc nhà
nước phát hành theo quyết định của Chính phủ;
- Vốn thu từ tiền giao quyền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ;
- Vốn thu từ tiền bán, cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước.
3. Phạm vi sử dụng vốn Ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản.
Vốn của Ngân sách nhà nước chỉ được cấp phát cho các dự án đầu tư
thuộc đối tượng sử dụng vốn Ngân sách nhà nước theo quy định của Luật
ngân sách nhà nước và quy chế quản lý đầu tư và xây dựng. Cụ thể vốn Ngân
và điều kiện về địa điểm, …. lại có đòi hỏi khác biệt về máy móc thiết bị; nhà
xưởng. Đầu tư xây dựng cơ bản đã giải quyết vấn đề này.
- Đầu tư xây dựng cơ bản là điều kiện phát triển các ngành kinh tế và
thay đổi tỷ lệ cân đối giữa chúng.
Khi đầu tư xây dựng cơ bản được tăng cường, cơ sở vật chất kỹ thuật
của các ngành tăng sẽ làm tăng sức sản xuất vật chất và dịch vụ của ngành.
hát triển và hình thành những ngành mới để phục vụ nền kinh tế quốc dân.
Như vậy đầu tư xây dựng cơ bản đã làm thay đổi cơ cấu và quy mô phát triển
của ngành kinh tế, từ đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế.
Đây là điều kiện tăng nhanh giá trị sản xuất và tổng giá trị sản phẩm trong
nước, tăng tích lũy đồng thời nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân
dân lao động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cơ bản về chính trị, kinh tế - xã hội.
Như vậy đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động rất quan trọng: là một
khâu quan trọng trong quá trình đầu tư phát triển, nóa có quyế định trực tiếp
đến sự hình thành chiến lược phát triển kinh tế từng thời kỳ; góp phần làm
thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, chính sách kinh tế của Nhà nước. Cụ thể như
sau:
8
1.2.1. Đầu tư xây dựng cơ bản ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế.
Chính sách đầu tư ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đến
sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Do vậy các ngành, các địa phương trong
nền kinh tế cần phải lập kế hoạch đầu tư dài hạn để phát triển ngành, vùng
đảm bảo sự phát triển cân đối tổng thể, đồng thời có kế hoạch ngắn và trung
hạn nhằm phát triển từng bước và điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu đặt ra.
1.2.2. Đầu tư xây dựng cơ bản tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế.
Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản làm cho tổng tài sản của nền kinh tế
nhược điểm trên.
Đầu tư xây dựng cơ bản có tác động rất lớn đến việc tạo công ăn việc
làm, nâng cao trình độ đội ngũ lao động. Như chúng ta đã biết, trong khâu
thực hiện đầu tư, số lao động phục vụ cần rất nhiều, đối với những dự án sản
xuất kinh doanh, sau khi đầu tư dự án đưa vào vận hành sẽ tạo rất nhiều việc
làm và cùng với đó trình độ tay nghề của lao động ngày càng được nâng cao.
1.3. Dự án đầu tư xây dựng
1.3.1. Khái niệm dự án đầu tư xây dựng
Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc
bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm
đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất
lượng của sản phẩm.
1.3.2. Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng:
1. Dự án đầu tư xây dựng có tính thay đổi.
Công việc của dự án và những thay đổi của nó có xu hướng là quá trình
“một lần” duy nhất, không được xác định rõ ràng và bất thường.
2. Dự án đầu tư xây dựng có mục tiêu và mục đích hỗn hợp.
Các thành phần tham gia vào dự án đều có mục tiêu của riêng mình và
các mục tiêu đó có thể mâu thuẫn nhau. Ví dụ như: Mục tiêu của chủ đầu tư là
10
công trình có chất lượng, chi phí thấp, thời gian thực hiện ngắn; mục tiêu của
đơn vị thi công là lợi nhuận và thương hiệu v.v…
3. Dự án đầu tư xây dựng có tính duy nhất.
Mỗi dự án có đặc trưng riêng biệt lại được thực hiện trong những điều
kiện khác biệt nhau cả về địa điểm, không gian, thời gian và môi trường luôn
thay đổi.
4. Dự án đầu tư xây dựng bị hạn chế về thời gian và quy mô.
- Hoàn thành đúng thời gian quy định: Dự án triển khai thực hiện và
hoàn thành đưa vào sử dụng theo đúng kế hoạch đã định sẽ phát huy được
hiệu quả vốn đầu tư, đạt được mục tiêu dự án đã đề ra.
- Đạt được chất lượng và thành quả mong muốn: Một dự án được quản
lý tốt từ khâu chuẩn bị đầu tư đến khi kết thúc đầu tư thì sản phẩm của dự án
sẽ đảm bảo chất lượng, thỏa mãn yêu cầu của khách hàng và của người hưởng
lợi.
- Tiết kiệm các nguồn lực, hay nói cách khác là chi phí trong phạm vi
cho phép: Ngoài các yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng và thời gian hoàn thành,
hiệu quả của dự án phải được đánh giá trên cơ sở chi phí để thực hiện và hoàn
thành dự án.
3. Quy định trách nhiệm trong quản lý dự án
- Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước kể cả các dự án
thành phần, Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng.
- Đối với dự án của doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo
lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của
doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước quản lý về chủ trương và quy mô đầu
12
tư. Doanh nghiệp có dự án tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý
dự án.
- Đối với các dự án sử dụng vốn khác chủ đầu tư tự quyết định hình
thức và nội dung quản lý dự án.
1.3.5. Quy trình thực hiện một dự án ĐTXD sử dung vốn Ngân sách.
Để quá trình thực hiện các dự án sử dụng vốn Ngân sách đạt được hiệu
quả cao thì Chính phủ đã quy định quy trình thực hiện dự án trong đó đảm
bảo sự kiểm soát của các cơ quan Nhà nước. Theo quy định, quy trình thực
hiện dự án gồm 3 giai đoạn:
thuật chất lượng công trình;
- Thẩm định thiết kế, tổng dự toán công trình: Tất cả các dự án đầu tư
xây dựng thuộc mọi nguồn vốn và thành phần kinh tế đều phải được cơ quan
chuyên môn thẩm định thiết kế trước khi xây dựng. Nội dung thẩm định trên
một số mặt: sự tuân thủ các tiêu chuẩn, quy phạm trong thiết kế kiến trúc,
công nghệ, kết cấu…
- Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp
- Xin giấy phép xây dựng. Tất cả các công trình xây dựng mới, cải tạo
sửa chữa, thay đổi chức năng hoặc mục đích sử dụng phải xin giấy phép xây
dựng;
- Ký kết hợp đồng với các nhà thầu để thực hiện dự án;
- Thi công xây lắp công trình;
- Theo dõi kiểm tra việc thực hiện hợp đồng;
- Thanh toán vốn đầu tư theo từng giai đoạn xây dựng. Sau khi thực
hiện nghiệm thu giai đoạn giữa chủ đầu tư và đơn vị thi công nếu có nguồn
vốn thì chủ đầu tư thực hiện thanh toán cho nhà thầu giá trị khối lượng đã
nghiệm thu.
14
3. Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng.
Giai đoạn này được bắt đầu khi công trình xây dựng xong toàn bộ, vận
hành đạt thông số đề ra trong dự án đến khi kết thúc dự án. Nội dung của giai
đoạn này bao gồm:
- Nghiệm thu bàn giao công trình đưa vào sử dụng;
- Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình;
- Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình;
- Bảo hành công trình;
- Quyết toán vốn đầu tư;
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG Ở TỈNH
HÀ TĨNH TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Hà Tĩnh.
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên:
1. Vị trí địa lý
Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung bộ, có toạ độ địa lý từ
17053'50'' đến 18045'40'' vĩ độ Bắc và 105005'50'' đến 106o30'20'' kinh độ
Đông.
hía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp Quảng Bình, phía Đông
giáp biển Đông, phía Tây giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.
Hà Tĩnh có Thị xã Hà Tĩnh, Thị xã Hồng Lĩnh và 10 huyện: Nghi Xuân,
Đức Thọ, Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc, Thạch Hà, Lộc Hà,
Cẩm Xuyên, Kỳ Anh (trong đó có 4 huyện và 1 thị xã miền núi); có 262 xã,
phường, thị trấn (235 xã, 15 phường, 12 thị trấn). 7 huyện, thị dọc Quốc lộ
1A; 3 huyện dọc theo đường Hồ Chí Minh và 4 huyện có tuyến đường sắt Bắc
- Nam đi qua. Theo trục Đông - Tây, Hà Tĩnh có Quốc lộ 8, Quốc lộ 12 qua
Lào, Thái Lan...
2
Diện tích đất tự nhiên 6.019 km , dân số 1.289.058 người (năm 2005), có
127 km đường Quốc lộ 1A, 87 km đường Hồ Chí Minh và 70km đường sắt Bắc
- Nam chạy dọc theo hướng Bắc Nam, có đường Quốc lộ 8A chạy sang Lào qua
cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo với chiều dài 85 km, Quốc lộ 12 dài 55 km đi từ
cảng Vũng Áng qua Quảng Bình đến cửa khẩu Cha Lo sang Lào và Đông Bắc
Thái Lan.
Ngoài ra Hà Tĩnh còn có 137 km bờ biển có nhiều cảng và cửa sông lớn
cùng với hệ thống đường giao thông khá tốt, rất thuận lợi cho giao lưu văn
hoá phát triển kinh tế xã hội.
- Hệ thống sông Ngàn hố: dài 86 km, lưu vực 1.065 km2, nhận nước từ
Hương Sơn cùng với Ngàn Sâu đổ ra sông La dài 21 km, sau đó hợp với sông
Lam chảy ra Cửa Hội.
- Hệ thống cửa sông và cửa lạch ven biển có: nhóm Cửa Hội, Cửa Sót,
Cửa Nhượng, Cửa Khẩu.
19
Các hồ đập chứa trên 600 triệu m 3 nước, cùng với hệ thống Trạm bơm
Linh Cảm, hệ thống Sông La, Ngàn Sâu, Ngàn hố thì lượng nước phục vụ cho
sinh hoạt, công nghiệp và tưới cho cây trồng ở Hà Tĩnh là khá lớn.
Hà Tĩnh có bờ biển dài 137 km. Do chế độ thuỷ triều, độ sâu, địa mạo,
địa hình, đường đẳng sâu đáy biển, gió mùa Đông Bắc... nên vùng biển này có
đầy đủ thực vật phù du của Vịnh Bắc Bộ (có 193 loài tảo) và lượng phù sa của
vùng sông Hồng, sông Cả, sông Mã tạo ra nhiều nguồn thức ăn cho các loại
hải sản sinh sống, cư trú. Trữ lượng cá 8 - 9 vạn tấn/năm; tôm, mực, moi... 7 8 ngàn tấn/năm nhưng mới khai thác được 20 - 30%.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội:
1. Về kinh tế
a. Tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt bình quân 9,6%, trong đó, công nghiệp
xây dựng tăng 18%, nông - lâm - ngư nghiệp tăng 1,50%, dịch vụ tăng
10,30%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: công nghiệp - xây
dựng từ 25,56% (năm 2005) lên 32,4% (năm 2010); nông - lâm - ngư nghiệp
từ 43,15% (năm 2005) giảm xuống còn 35%; thương mại - dịch vụ tăng từ
31,29% (năm 2005) lên 32,6%.
b. Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, xây dựng tăng trưởng nhanh;
môi trường đầu tư được cải thiện, thu hút nhiều nhà đầu tư lớn; nhiều doanh
nghiệp mới được thành lập và đi vào hoạt động
- Khu vực công nghiệp có bước chuyển dịch tích cực trong cơ cấu kinh
nghiệp giai đoạn 2 gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp được tập
trung chỉ đạo tích cực và sâu rộng; đến nay, có 4 địa phương đã cơ bản hoàn
thành (Can Lộc, Cẩm Xuyên, Đức Thọ và thị xã Hồng Lĩnh) và phấn đấu năm
2010 hoàn thành trên địa bàn toàn tỉnh.
21
- Việc cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh và phát
huy hiệu quả. Đến nay, toàn tỉnh đã có 1982 máy nông nghiệp các loại.
- Công tác đào tạo nghề, phát triển ngành, nghề truyền thống, nghề mới,
chuyển đổi nghề cho nông dân được triển khai tích cực; cơ cấu lao động nông
thôn chuyển dịch theo hướng chuyển lao động nông nghiệp sang các lĩnh vực
dịch vụ, chế biến, xây dựng và xuất khẩu lao động.
d. Các công trình, dự án trọng điểm được triển khai tích cực.
- Dự án Khai thác mỏ sắt Thạch Khê: đã thành lập Công ty Cổ phần Sắt
Thạch Khê, tổ chức khai thác mỏ và hiện đang triển khai xây dựng Dự án Nhà
máy luyện thép công suất 4 triệu tấn/năm tại Khu kinh tế Vũng Áng. Công tác
bồi thường, hỗ trợ tái định cư, giải phóng mặt bằng phục vụ khai thác mỏ
đang được triển khai tích cực.
- Khu kinh tế Vũng Áng đến nay đã cấp chứng nhận đầu tư cho 84 dự
án với số vốn gần 180.000 tỷ đồng, trong đó có 20 dự án đã đi vào hoạt động,
09 dự án đang triển khai xây dựng. Một số dự án lớn đang được đẩy nhanh
tiến độ, như: Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I, Khu liên hợp gang thép và
cảng Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh, Dự án phát triển Khu du lịch Hồ Tàu Voi,
Tổng kho xăng dầu, khí hoá lỏng... Nhiều dự án có quy mô lớn đang triển
khai các bước để được cấp giấy chứng nhận đầu tư, như: Nhà máy Lọc hoá
dầu công suất 16 triệu tấn/năm, tổng mức đầu tư gần 12,47 tỷ USD; Dự án
Nhà máy thép của Công ty cổ phần Sắt Thạch Khê (công suất 4 triệu
tấn/năm)... một số công trình kết cấu hạ tầng quan trọng đã hoàn thành đưa
so với năm 2005 và bình quân hằng năm tăng 21%. Cơ cấu nguồn thu đã có
sự chuyển biến tích cực, tỷ trọng thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh tăng
khá (từ 25,7% năm 2005 lên 43,8% vào năm 2010). Thu thuế xuất, nhập khẩu
năm 2010 ước đạt 120 tỷ đồng, tăng 2,5 lần so với năm 2005.
23
- Chi ngân sách cơ bản đáp ứng nhu cầu chi theo kế hoạch, đảm bảo thực
hiện các chính sách an sinh xã hội, thực hiện tốt chủ trương tiết kiệm, chống
lãng phí.
- Hoạt động ngân hàng cơ bản đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát
triển và sản xuất, kinh doanh; triển khai tích cực và đạt kết quả khá các gói hỗ
trợ của Chính phủ, góp phần cùng các doanh nghiệp khôi phục sản xuất, ngăn
chặn suy giảm kinh tế. Tổng nguồn vốn các ngân hàng thương mại huy động
và quản lý năm 2010 đạt 10.000 tỷ đồng, tăng bình quân hằng năm 30,3%;
Tổng dư nợ cho vay đạt 14.000 tỷ đồng, vượt 2,15 lần kế hoạch; tỷ lệ nợ xấu
dưới 2%.
- Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của các ngành dịch vụ đạt
10,3%, đóng góp trên 30% tăng trưởng GD . Tổng mức bán lẻ hàng hoá và
doanh thu dịch vụ tiêu dùng bình quân hằng năm tăng trên 30%. Giá trị kim
ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt 55 triệu USD. Lượng khách du lịch tăng hằng
năm trên 21%.
- Hoạt động kinh tế đối ngoại đã góp phần huy động các nguồn vốn cho đầu
tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và xoá đói, giảm nghèo. Trong 5 năm đã
huy động được 2.500 tỷ đồng từ nguồn ODA và 340 tỷ đồng từ nguồn NGO.
động có hiệu quả, thu nhập của người lao động được nâng lên. Ban hành
nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển doanh
nghiệp ngoài quốc doanh và hợp tác xã; đến nay, đã có 1.957 doanh nghiệp
hoạt động trên địa bàn, với tổng số vốn đăng ký đạt 331,4 ngàn tỷ đồng, trong
đó 12 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký 131,4 nghìn
tỷ đồng.
- Kinh tế tập thể tiếp tục phát triển, các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp
cơ bản đã được chuyển đổi và hoạt động từng bước có hiệu quả. Đến nay,
toàn tỉnh có 460 hợp tác xã, 1 liên hiệp HTX, 1409 tổ hợp tác, với 213 ngàn
xã viên.
25
- Kinh tế tư nhân được khuyến khích và tạo mọi điều kiện phát triển
nhanh về số lượng và chất lượng. Đến hết tháng 6 năm 2009 toàn tỉnh có
1.630 doanh nghiệp tư nhân, số vốn đăng ký tăng nhanh, năm 2005 là 484 tỷ
đồng, nhưng 6 tháng đầu năm 2009 là 1.015 tỷ đồng; đóng góp vào ngân sách
năm sau cao hơn năm trước; giải quyết việc làm cho 4,5 vạn lao động.
2. Lĩnh vực văn hoá - xã hội
a. Văn hoá, thể thao và du lịch
- Các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển văn hoá, thể thao và du lịch do Đại
hội đề ra được triển khai thực hiện với nhiều giải pháp đồng bộ, tạo được môi
trường văn hóa lành mạnh trên địa bàn, góp phần nâng cao đời sống tinh thần
cho các tầng lớp nhân dân.
- Chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hoá, thể thao ngày càng tăng và
phục vụ kịp thời, có hiệu quả các hoạt động chính trị, kinh tế, lễ hội truyền
thống của quê hương, đất nước.
- Các thiết chế văn hoá từ tỉnh đến cơ sở được quan tâm đầu tư. Thực
hiện tốt công tác giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá;