i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Dƣơng Thị Bích Hồng NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG MÔI TRƢỜNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI
PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ MỎ THAN
KHÁNH HÒA, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2012
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 2
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
1.1. Công nghiệp khai thác than 2
1.1.1. Khai thác than ở Việt Nam 2
1.1.2. Khai thác than ở Thái Nguyên 7
1.2. Tổng quan về mỏ than Khánh Hòa 13
1.2.1. Điều kiện tự nhiên 13
1.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 15
1.2.3. Đặc điểm than khoáng sản tại mỏ than Khánh Hòa 19
1.2.4. Hiện trạng khai thác tại mỏ than Khánh Hòa 23
1.2.5. Kế hoạch phát triển mỏ 32
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
34
2.1. Đối tượng nghiên cứu 34
2.2. Phạm vi nghiên cứu 34
2.3. Nội dung nghiên cứu 34
2.4. Phương pháp nghiên cứu 35
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
3.1. Hiện trạng và dự báo diễn biến chất lượng môi trường khu vực mỏ 40
3.1.1. Môi trường không khí 40
3.1.2. Môi trường nước 50
3.1.3. Môi trường đất 67
3.1.4. Đa dạng sinh học 70
3.1.5. Kinh tế xã hội, sức khỏe cộng đồng 72
Bảng 1.9. Điều kiện xã hội khu vực 17
Bảng 1.10. Thông số thủy văn các suối khu vực mỏ than Khánh Hòa 20
Bảng 1.11. Tổng hợp các hạng mục công trình hiện có 25
Bảng 1.12. Các yếu tố của hệ thống khai thác bờ công tác theo lớp đứng 26
Bảng 1.13. Các thông số của bãi thải 29
Bảng 3.1. Nguồn phát sinh khí bụi do khai thác than mỏ Khánh Hòa 41
Bảng 3.2. Kết quả phân tích mẫu môi trường không khí khu vực mỏ than Khánh
Hòa 42
Bảng 3.3. Kết quả phân tích mẫu môi trường không khí khu vực xung quanh mỏ
than Khánh Hòa 45
Bảng 3.4. Ước tính lượng bụi sinh ra do hoạt động khai thác 49
Bảng 3.5. Dự báo tải lượng bụi phát sinh theo đơn vị diện tích, thời gian 50
Bảng 3.6. Nguồn phát sinh nước thải do hoạt động của mỏ 51
Bảng 3.7. Lưu lượng nước chảy vào moong theo tính toán của mỏ 52
Bảng 3.8. Kết quả phân tích mẫu nước thải moong 52
Bảng 3.9: Kết quả phân tích mẫu nước thải moong tại cửa xả 53
Bảng 3.10. Hệ số dòng chảy theo đặc điểm mặt phủ 54 vi
Bảng 3.11. Lưu lượng nước mưa chảy tràn tính theo từng khu vực mỏ 55
Bảng 3.12. Lượng cặn tích tụ trong nước mưa theo từng khu vực (kg) 55
Bảng 3.13. Kết quả phân tích mẫu tại cửa xả nước thải sinh hoạt 56
Bảng 3.14: Kết quả phân tích mẫu nước mặt đợt 1/2009 57
Bảng 3.15. Kết quả phân tích mẫu nước mặt đợt 1/2010 57
Bảng 3.16. Kết quả phân tích nước mặt đợt 1/2011 58
Bảng 3.17: Kết quả phân tích mẫu nước ngầm (đợt 3/2009) 60
Bảng 3.18. Kết quả phân tích nước đợt 3/2010 61
Bảng 3.19. Kết quả phân tích mẫu nước ngầm đợt 1/2011 62
Bảng 3.20. Dự báo lượng nước chảy vào moong theo công suất thiết kế mỏ 64
viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu viết tắt
Tên kí hiệu
1
BOD (Biochemical Oxygen Demand)
Nhu cầu oxy sinh học
2
COD (Chemical Oxygen Demand)
Nhu cầu oxy hóa học
3
DO (Dissolve oxygen)
Oxy hòa tan
4
EPA (The US Environment Protection
Agency)
Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa
Kỳ
5
MPN (Most Probable Number)
giải pháp quản lý, giải pháp công nghệ và các giải pháp xử lý hợp lý nhằm giảm thiểu
những ảnh hưởng xấu đến môi trường.
Thái Nguyên hiện là một trong những cái nôi của ngành khai thác và chế biến
khoáng sản của Việt Nam. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có khoảng 156 mỏ
và điểm khoáng sản đã và đang được đưa vào khai thác, chế biến. Than là khoáng sản
có tiềm năng của tỉnh Thái Nguyên. Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện 7 mỏ
và điểm khoáng sản than, trong đó thăm dò, khai thác 6 mỏ; tổng trữ lượng đã đánh giá
cấp A + B + C
1
đạt trên 90 triệu tấn, có 2 loại than: antraxit và than mỡ. Các mỏ than
chủ yếu sử dụng công nghệ khai thác lộ thiên với các moong sâu hàng trăm mét, bãi
thải trở thành các núi thải khổng lồ như các mỏ Phấn Mễ, mỏ Khánh Hòa, Mỏ than Bá
Sơn [33].
Ngoài những lợi ích do ngành công nghiệp khai thác chế biến than mang lại cho
địa phương Thái Nguyên thì những tác động đến môi trường hiện nay cũng không nhỏ:
Vấn đề sạt lở bãi thải, hạ thấp mực nước ngầm, ô nhiễm môi trường không khí, làm
bẩn nguồn nước tưới tiêu đang ngày càng gây bức xúc trong nhân dân.
Trước thực tế trên, đề tài ”Nghiên cứu hiện trạng môi trường và đề xuất giải
pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý mỏ than Khánh Hòa, tỉnh Thái Nguyên”
nhằm mục đích đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo các vấn đề môi trường phát
sinh trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý môi trường mỏ
than Khánh Hòa, tỉnh Thái Nguyên.
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Công nghiệp khai thác than
1.1.1. Khai thác than ở Việt Nam 3
a. Đặc điểm các mỏ than nƣớc ta [17]
Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi là nước có nhiều nguồn khoáng sản trong đó
470.356
2.837.808
Trữ lượng mỏ
đang khai thác
1.422.362
192.442
150.793
1.079.127
Trữ lượng các
mỏ chuẩn bị
khai thác
333.563
12.410
113.746
207.407
Than mỡ: Trữ lượng tiềm năng được đánh giá sơ bộ là 27 triệu tấn, trong đó trữ
lượng địa chất là 17,6 triệu tấn, chủ yếu tập trung ở 2 mỏ Làng Cẩm (Thái Nguyên) và
mỏ Khe Bố (Nghệ An). 4
Than bùn: Than bùn ở Việt Nam nằm rải rác từ Bắc đến Nam, nhưng chủ yếu tập
trung ở đồng bằng sông Cửu Long (với hai mỏ than lớn là U-Minh-Thượng và U-
Minh-Hạ).
Than ngọn lửa dài: Chủ yếu tập trung ở mỏ Na Dương (Lạng Sơn), với trữ lượng
địa chất trên 100 triệu tấn. Hiện nay khai thác được thực hiện bằng phương pháp lộ
thiên, than khai thác chủ yếu phục vụ sản xuất xi măng ở Hải Phòng và Bỉm Sơn với
sản lượng trên dưới 100 nghìn tấn/năm. Nhưng do nhà máy Xi măng Hải Phòng sẽ
ngừng hoạt động, nhà máy xi măng Bỉm Sơn được cải tạo với công nghệ mới, nên
không dùng than Na Dương từ 1999 trở đi. Than Na Dương là loại than có hàm lượng
dân cư lân cận các khu vực sản xuất, chế biến than tại Quảng Ninh vượt tiêu chuẩn cho
phép 3,3 lần (trung bình 24 giờ) [29].
Về nước thải mỏ: Tại vùng than, theo số liệu kê khai, nộp phí bảo vệ môi trường
đối với nước thải công nghiệp của các đơn vị thuộc ngành than thì tổng lượng nước
thải mỏ năm 2009 đã kê khai là 38.914.075 m
3
. Tuy nhiên, lượng nước thải này chưa
tính đến nước rửa trôi từ các bãi thải mỏ. Hai thông số điển hình tác động đến môi
trường là tính axit và cặn lơ lửng, bên cạnh đó là hàm lượng Fe và Mn. Độ pH của
nước thải mỏ dao động từ 3,1 - 6,5, hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng (TSS) vượt tiêu
chuẩn cho phép từ 1,7 - 2,4 lần, cá biệt có nơi vượt đến 8,09 lần. Nước thải mỏ gây
nhiều ảnh hưởng đến hệ thống sông, suối, hồ, vùng ven biển như gây bồi lấp, làm mất
nguồn sinh thủy, suy giảm chất lượng nước Do tác động lâu ngày, trong đó có tác
động của khai thác than trái phép trong một thời gian dài, một số hồ thủy lợi vùng
Đông Triều, Quảng Ninh đã bị chua hóa, làm ảnh hưởng đến chất lượng nước phục vụ
nông nghiệp [29].
Tác động đến địa hình, cảnh quan: Những biến đổi mạnh nhất diễn ra chủ yếu ở
những khu vực có khai thác than lộ thiên. Các bãi đổ thải tạo nên những quả đồi ở Cọc
Sáu cao 280 m, Nam Đèo Nai có độ cao 200 m, Đông Cao Sơn cao 250 m, Đông Bắc
Bàng Nâu cao 150 m và Núi Béo cao 240 m và nhiều bãi thải trên các sườn đồi. Bãi
thải thường có sườn dốc tới 35
0
. Nhiều moong khai thác lộ thiên tạo nên địa hình âm
có độ sâu từ - 50 m đến - 150 m dưới mực nước biển trung bình (các mỏ Cọc Sáu, Hà
Tu, Núi Béo ) [29].
Vấn đề chiếm dụng đất trồng trọt và cây xanh: Diện tích đất canh tác và thảm
thực vật mà các mỏ khai thác than lộ thiên chiếm dụng là khá lớn. Tính riêng khu vực
Hòn Gai - Cẩm Phả hiện nay có khoảng 30 mỏ than lớn nhỏ đang hoạt động sử dụng
gần 4500 ha (trong đó có 04 mỏ đèo Nai, Cao Sơn, Cọc Sáu và Hà Tu là 3200ha). Tại
khu vực Hòn Gai, Nam đường 18A (Cẩm Phả) trong giai đoạn 1970 -1997, các hoạt
1999
Diện tích khai trường và
bãi thải
1100
1400
1880
2000
Diện tích đổ thải ra biển
56
81
94
120
Diện tích đất nông nghiệp
bị lấp bởi bùn, đất thải
200
225
238
38
Nguồn: [21]
Ngoài những nguy cơ về ô nhiễm môi trường, biến đổi cảnh quan, suy giảm đa
dạng sinh học thì hoạt động khai thác than cũng để lại nhiều rủi ro về sạt lở, trượt lở
đe dọa tính mạng người dân do các "núi thải khổng lồ". Tại khu vực khai thác than lộ
thiên thuộc thị xã Cẩm Phả thường xuyên xảy ra các vụ sạt lở núi thải gây hậu quả rất
nghiêm trọng về người và tài sản. Nguyên nhân là do cao trình của các "núi thải"
không được xử lý cắt tầng, che chắn đúng quy trình kỹ thuật. Tại các vùng khai thác
theo công nghệ hầm lò, một vấn đề nan giải là các chủ dự án mới chỉ quan tâm mở mới
các đường lò mà chưa thực sự ý thức về phương án hoàn thổ sau khi lò hết khả năng
khai thác than. Theo đó, có thể hình dung dưới lòng đất là chằng chịt, xiên chéo những
đường lò mới, cũ đan xen nhau. Đây chính là nguyên nhân gây ra các vụ tai nạn bất
ngờ như sập lò, bục túi nước, nổ khí metal mà thực tế đã và đang diễn ra. Hậu quả là
1
tính đến 31/12/1967 là 3,6 triệu tấn.
b. Thực trạng hoạt động các mỏ than trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Các điểm khai thác than tập trung chủ yếu vùng Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên
trên địa bàn các huyện Đại Từ, Phú Lương. Các mỏ khai thác than lớn của Thái
Nguyên như mỏ than Khánh Hòa, mỏ than Phấn Mễ, mỏ than Núi Hồng, mỏ than Bá
Sơn
Nhìn chung hoạt động khai thác than trên địa bàn đã được bắt đầu từ khá lâu: mỏ
than Khánh Hòa bắt đầu hoạt động từ 1949; than Núi Hồng bắt đầu hoạt động từ 1980,
mỏ than Bá Sơn bắt đầu từ 1983, mỏ than Phấn Mễ bắt đầu hoạt động từ những năm
1966 [21]. Qua thời gian, bên cạnh những lợi ích về mặt kinh tế xã hội như tăng nguồn
thu ngân sách cho tỉnh, thì hoạt động khai thác than với công nghệ còn lạc hậu đã ảnh
hưởng không nhỏ đến môi trường, địa hình và cảnh quan tỉnh Thái Nguyên. Theo số 8
liệu Sở Tài Nguyên Môi trường tỉnh Thái Nguyên, tính đến 31/12/2009, sản lượng
khai thác than trên địa bàn tỉnh như sau:
Bảng 1.4. Sản lƣợng khai thác than trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
(2006-2009)
Loại khoáng
sản
Đơn vị
Sản lượng khai thác
2006
2007
2008
2009
Than
tấn
278,1
2
Mỏ than Khánh Hòa, Xã
Phúc Hà - Thành phố
Thái Nguyên và xã An
Khánh - Đại Từ
Công ty TNHH
MTV Công nghiệp
Mỏ Việt Bắc-TKV
59,3 tr
tấn
400.000
328
3
Mỏ than Phấn Mễ, xã
Phục Linh, Hà Thượng
huyện Đại Từ (Bắc và
Nam Làng Cẩm)
Công ty cổ phần
Gang Thép Thái
Nguyên
3,6 tr
tấn
- Phân xưởng
lộ thiên:
100.000; phân
xưởng hầm lò:
30.000
66,3
4
9
Vân xã An Khánh và Cù
Vân huyện Đại Từ
khai khoáng miền
núi
tấn
7
Mỏ than Làng Bún, xã
Phấn Mễ huyện Phú
Lương
Công ty cổ phần
Gang thép Gia Sàng
0,15 tr
tấn
8000
5,0
8
Mỏ than Minh Tiến -
Phú Cường, xã Minh
Tiến và Phú Cường
huyện Đại Từ
Doanh nghiệp Anh
Thắng
0,12 tr
tấn
4500
4,9
10
sâu tới mức -87m (moong D) và -120m (moong C)) tác động khá lớn đến mực nước
ngầm khu vực.
Nguy cơ về sạt lở, trượt lở: Các bãi thải có độ cao lớn (bãi thải mỏ Bá Sơn đang
đổ đến cos + 70m; bãi thải mỏ Phấn Mễ đang đổ đến cos + 155m dự kiến kết thúc ở
cos +190m ảnh hưởng không nhỏ đến sinh thái và các hoạt động kinh tế xã hội của dân
cư các xã Sơn Cẩm, Cổ Lũng (huyện Phú Lương), An Khánh, Cù Vân, Hà Thượng,
Phục Linh (Đại Từ), Phúc Hà (thành phố Thái Nguyên) - là những xã có các điểm khai
thác than điển hình trên địa bàn tỉnh. Qua thực tế khảo sát các bãi thải cho thấy, hầu
hết việc đổ thải chưa đảm bảo thiết kế an toàn, phân cắt tầng thải đúng thiết kế do đó
vẫn xảy ra hiện tượng trượt lở, sạt lở bãi thải gây bồi lắng các suối xung quanh đặc
biệt là ảnh hưởng đến ruộng lúa của nhân dân, gây khó khăn trong sản xuất nông
nghiệp.
Ô nhiễm nguồn nước: Hoạt động khai thác khoáng sản là một trong những loại
hình hoạt động phát sinh lượng nước thải lớn nhất trên địa bàn tỉnh, lưu lượng nước
thải phát sinh hàng năm trên 12,14 triệu m
3
, phần lớn nước thải tại các mỏ chỉ được xử
lý sơ bộ qua các hố lắng rồi xả ra nguồn nước mặt, thành phần ô nhiễm trong nước thải
là chất rắn lơ lửng, độ màu, một số kim loại nặng,
Bảng 1.6. Lƣu lƣợng nƣớc thải một số mỏ than tỉnh Thái Nguyên
TT
Tên mỏ
Vị trí
Lƣu lƣợng
nƣớc thải
(m
3
lửng (SS) gây ảnh hưởng đến chất lượng các nguồn nước mặt xung quanh như sông
Đu (nguồn tiếp nhận nước thải mỏ than Phấn Mễ), suối Phượng Hoàng, suối Tân Long
- nguồn tiếp nhận nước thải các mỏ than Bá Sơn, An Khánh - Cù Vân, Núi Hồng ),
các suối này đều là các phụ lưu của Sông Cầu, đây là một trong những nguyên nhân
gây ô nhiễm sông Cầu.
Theo báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên 2005-2010: Tại các phụ
lưu chính của Sông Cầu, chất lượng nước đều không đáp ứng được QCVN 08:2008
đối với nguồn nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt. Hàm lượng BOD
5
,
COD vượt QCVN 08:2008/BTNMT cột A2 từ 1,3 đến 3 lần (hình 1.1 và 1.2), đặc biệt
tại Sông Đu mức độ ô nhiễm là lớn nhất do tiếp nhận nước thải từ hoạt động công
nghiệp, nông nghiệp của huyện Phú Lương và các hoạt động khai thác khoáng sản
trong khu vực, ngoài ô nhiễm hữu cơ còn ô nhiễm kim loại nặng asen (hình 1.3) [34]. Hình 1.1. Diễn biến hàm lƣợng COD trung bình năm tại các phụ lƣu của Sông
Cầu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ 2005 đến 2010
Hình 1.2. Diễn biến hàm lƣợng BOD trung bình năm tại các phụ lƣu của Sông
Cầu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ 2005 đến 2010
QCVN B1
0
5
10
15
20
Ch? Chu Nghinh Tư?ng Sông Đu Linh Nham
(mg/l)
2005
2006
2007
2008
2009
2010
QCVN A2
QCVN B112
94000
96000
98000
100000
102000
104000
106000
108000
2005 2006 2007 2008 2009
ha
0
0.2
0.4
0.6
0.8
1
1.2
1.4
1.6
Xi măng Núi
Voi
M? s?t Tr?i
Cau
Xi măng
Quang Sơn
Xi măng La
Hiên
M? than Bá
Sơn
M? than
Ph?n M?
M? than
Khánh Hoà
(mg/m3)
2008 2009 2010 QCVN B?i13
trục 105, múi chiếu 3
0
X
Y
X
Y
103-1
2393127
578441
2392937.695
578270.751 14
103-2
2393124
578669
2392934.695
578498.730
103-3
2392698
579258
2392508.734
579087.674
103-4
2391902
580235
2391712.808
580064.580
103-11
2390637
580044
2390447.930
579873.596
103-12
2390961
579948
2390771.899
579777.606
103-13
2391512
579240
2391322.848
579069.673
103-14
2392103
578673
2391913.792
578502.728
103-15
2392150
578700
2391960.788
578529.725
103-16
2392106
578879
2391916.792
578708.708
Khu mỏ nằm trong một thung lũng kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam với
chiều dài khoảng 6 km, rộng 600 - 700m. Địa hình khu mỏ dốc dần từ phía Tây Bắc
(độ cao trung bình 32m) xuống Đông Nam (độ cao trung bình 28m). Phía Nam và 15
Đông Nam khu mỏ là các dải đồi thấp với độ cao từ 30 - 70m. Đôi nơi có những đỉnh
đồi cao trên dưới 130m. Phía Bắc khu mỏ là núi Sơn Cẩm có độ cao trên 200m.
c. Khí hậu thủy văn [8]
* Khu mỏ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa
và mùa khô. Mùa mưa vào tháng 5 đến tháng 10. Lưu lượng mưa trong mùa thay đổi
từ 1.800 - 2.000mm, chủ yếu tập trung vào các tháng 7, 8, 9, hướng gió Nam và Đông
Nam, nhiệt độ không khí cao nhất trong năm từ 37 - 38
o
C (vào tháng 7 và 8). Mùa khô
từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, không khí khô ráo, lượng mưa nhỏ, hướng gió Bắc,
Đông Bắc. Nhiệt độ mùa này thấp, trung bình từ 10 - 15
o
C, có những ngày lạnh nhất
giảm xuống đến 3 - 4
o
C.
* Hệ thống sông suối
Khu vực Khánh Hòa có hai hệ thống suối chính: Hệ thống suối chảy theo phương
và hệ thống suối chảy vuông góc với đường phương các vỉa than. Hệ thống suối chảy
theo phương các vỉa than, đáng kể nhất là suối Huyền. Đây là con suối lớn chạy gần
như dọc theo trung tâm khu mỏ theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Hệ thống suối chảy
vuông góc với đường phương các vỉa than, phải kể đến suối Làng Ngò, đây là hợp lưu
của các suối: Suối Nước và suối Tràm Hồng. Suối Làng Ngò hợp với suối Huyền tạo
nên suối Nam Tiền, suối Nam Tiền đổ ra suối Tân Long ở phía Đông Bắc khu mỏ.
đất công nghiệp; còn lại là 784
ha sử dụng cho các mục đích
khác.
- Số hộ phi nông nghiệp là 26
hộ. Thu nhập bình quân là 1.476
nghìn đồng/tháng.người. Sản
lượng lương thực quy thóc
khoảng 4.030 tấn/ha.
- Thương mại – dịch vụ: Trong
năm 2008, giá cả thị trường thế
giới có nhiều biến động, lạm
phát tăng cao làm ảnh hưởng
không nhỏ tới các hộ kinh
doanh dịch vụ trên địa bàn. Tuy
nhiên, các hộ kinh doanh trên
điạ bàn vẫn duy trì được các
hoạt động kinh doanh, đa dạng
các mặt hàng, mở rộng ngành
nghề đảm bảo thu nhập và thực
hiện nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ.
- Trong tổng số
648,4 ha đất.
Trong đó, có
346,72 ha là đất
nông nghiệp;
71,22 ha đất công
nghiệp; còn lại là
33,92 ha sử dụng
cho các mục đích
khác.
1
Trường
tiểu học
cơ sở
1
1
3
Trường
THCS
1
1
2
Trường
mẫu giáo
1
1
3
Trạm y tế
1
1
4
Nhà văn
hóa
16
10
1 17
Nghĩa
y
ban Nhân dân.
- 10% là đường
đất; 90% đường bê
tông.
- Tất cả thôn , xóm
có đường giao
thông đến ca
́
c U
̉
y
ban Nhân dân.
- 15% là đường
đất; 70% đường bê
tông; 15% đường
cấp phối
2.3. Điện, nƣớc
- Tỷ lệ số hộ có điện: 100%
- Chưa có hệ thống cấp nước
sạch, sử dụng nước giếng đào.
- Tỷ lệ số hộ có
điê
̣
n: 100%
- Tỷ lệ các hộ có
điê
̣
n: 3.539/5.539
1.451 người; nữ là 1.464
người.
- Tỷ lệ tăng dân số trung
bình: 84%.
- Xã Sơn Cẩm có 13.056
người với 5.539 hộ dân.
Trung bình 3,7 người/ hộ.
Trong đó, nam là 4.105
người; nữ là 3.610 người.
- Số người trong độ tuổi lao
động là 3.150 người.
- Tỷ lệ tăng dân số trung
bình: 0,3%.
18
2. Công tác văn hóa xã hội
- Các hoạt động văn hóa xã hội tại khu vực ngày càng được quan tâm và phát triển . Xã
có nhà văn hóa, đây là nơi tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước
cũng như tổ chức các hoạt động văn hoá xã hội theo nếp sống mới. Các tổ chức, đoàn
thể như hội Phụ nữ, hội Người cao tuổi, hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, hội Chữ
thập đỏ, y tế, Mặt trận tổ quốc hoạt động thường xuyên và hiệu quả. Công tác Đảng
phối hợp với các tổ chức xã hội khác thực sự đi vào đời sống của nhân dân, nhằm nâng
cao nhận thức của nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước thời kỳ mới.
- Các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao của xã cũng rất phát triển. Thường xuyên tổ
chức và tham gia đầy đủ các hoạt động như các hội thi văn nghệ, giải cầu lông, bóng đá
cấp huyện, cấp tỉnh.
3. Tình hình y tế
- Số y sỹ trong trạm xá: 02
người;
- Số y sỹ trong trạm xá: 03
người;
- Số y tá: 2 người;
- Số giường bệnh: 03 giường;
- Số lượt bệnh nhân khám
chữa bệnh: 2.744 người.
Trong đó, số lượt bệnh nhân
ngoại trú là 2.700 người.
- Số người mắc bệnh truyền
nhiễm là: 7 người. Người mắc
bệnh mãn tính: 770; số người
mắc bệnh nghề nghiệp: 1.767
người; số người mắc bệnh xã
hội khác: 200 người.
4. Tình hình giáo dục
- Số học sinh trên toàn xã
là: 859 học sinh;
- Số giáo viên: 73 người;
- Trình độ dân trí được xếp
vào loại: thấp.
- Số học sinh trên toàn xã
là: 375 học sinh;
- Số giáo viên: 42 người;
- Trình độ dân trí được
xếp vào loại: thấp.
- Số học sinh trên toàn xã là: