TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
___________________
ĐÁNH GIÁ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI
Hà Nội - Năm 2016
i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
___________________
SINH VIÊN: NGUYỄN ĐÌNH HỒNG
ĐÁNH GIÁ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI
Chuyên ngành
: Quản lý đất đai
Mã ngành
: 52850103
trình thực tập.
Với điều kiện thời gian có hạn cũng như kinh nghiệm hạn chế của một sinh
viên nên đồ án của em không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong sự đóng góp
và chỉ bảo của các thầy cô giáo để đồ án tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 24 tháng 06 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Đình Hồng
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................ ii
MỤC LỤC............................................................................................................. iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................................ vi
DANH MỤC CÁC BẢNG ................................................................................... vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................... viii
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................... 1
2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu .......................................................................... 2
a. Mục đích...................................................................................................................................2
b. Yêu cầu nghiên cứu .................................................................................................................3
3. Cấu trúc của đồ án ............................................................................................... 3
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU............................................ 4
1.1. Khái quát về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất .............. 4
1.1.1. Một số khái niệm ...............................................................................................................4
1.1.2. Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất .....................6
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp ............................................................................ 44
2.3.2. Phương pháp điều tra chọn mẫu .................................................................................... 44
2.3.4. Phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) ........... 45
2.3.5. Xây dựng thang đo và các biến quan sát ....................................................................... 46
2.3.6. Phương pháp kế thừa...................................................................................................... 47
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................... 48
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai ............... 48
3.1.1. Điều kiện tự nhiên .......................................................................................................... 48
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Bảo Thắng ................................................................. 54
3.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất tại huyện Bảo Thắng................................... 65
3.2.1. Tình hình quản lý nhà nước về đất đai........................................................................... 65
3.2.2. Tình hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Bảo Thắng .................................................. 73
3.3. Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thực hiện Dự án Hạ tầng kỹ thuật
sau kè bờ tả sông Hồng, khu vực cầu Phố Lu huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai..................... 77
iv
3.3.1. Giới thiệu khái quát về dự án ......................................................................................... 77
3.3.2. Đối tượng được bồi thường, hỗ trợ của Dự án .............................................................. 79
3.3.3. Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án ......................................... 83
3.4. Đánh giá mức độ tham gia của người dân trong thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi thực hiện dự án ................................................................................... 89
3.4.1. Đánh giá mức độ tham gia của người dân về việc người dân được thông báo về công
tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ............................................................................................ 92
3.4.2. Đánh giá mức độ tham gia của người dân về việc góp ý hoàn thiện phương án bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư ........................................................................................................ 98
3.4.3. Đánh giá mức độ tham gia của người dân về việc giám sát của người dân trong công
tác tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ............................................................. 100
3.4.4. Đánh giá mức độ tham gia của người dân về việc người dân tham gia vào quá trình ra
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
Chữ viết tắt
BĐS
BT
BQL
CN- TTCN
DS-KHHGĐ
Bất động sản
Bồi thường
Ban quản lý
Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp
Dân số - kế hoạch hóa gia đình
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Giải phóng mặt bằng
Quyền sở hữu
Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Hội đồng nhân dân
Hộ gia đình, cá nhân
Hỗ trợ
Khu công nghiệp
Kế hoạch
Kế hoạch hóa gia đình
Kinh tế thị trường
Một thành viên
Nghị định
Nông lâm nghiệp và thủy sản
Phòng Tài nguyên và Môi trường
Quyết định
Sử dụng đất
Sản xuất kinh doanh
Tổ dân phố
Tái định cư
Thu hồi đất
Trung học phổ thông
Trách nhiệm hữu hạn
Thị trấn
Trung ương
cư ............................................................................................................................................. 106
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Mức độ tham gia của người dân .............................................................................. 17
Hình 2.1 Các mức độ đánh giá sự tham gia của người dân khi thực hiện Dự án................... 43
viii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là yếu tố tham
gia trực tiếp vào quá trình sản xuất nông nghiệp, làm địa bàn phân bố dân cư, xây
dựng các công trình kết cấu hạ tầng, sản xuất kinh doanh, cơ sở kinh tế, văn hóa...
Cùng với sự phát triển của xã hội, đất đai được sử dụng vào nhiều mục đích khác
nhau và nhu cầu sử dụng đất đai ngày càng tăng lên. Việc sử dụng đất có hiệu quả
cả về kinh tế - xã hội và tính bền vững môi trường ngày càng có ý nghĩa. Sử dụng
đất đai vào các mục đích an ninh - quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước, đặc biệt là các dự án phát triển đô thị, dự
án sản xuất, kinh doanh phát triển kinh tế là một tất yếu khách quan trong quá trình
phát triển công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Thu hồi đất không chỉ là một phương thức thực hiện quyền đại diện chủ sở
hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước mà còn là giải pháp đáp ứng các nhu cầu sử
dụng đất của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Trên thực tế, thu
hồi đất là hoạt động khó khăn, phức tạp và dễ phát sinh tham nhũng, tranh chấp,
khiếu kiện, bởi hoạt động này trực tiếp đụng chạm đến lợi ích của nhiều chủ thể
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại các dự án trên địa bàn huyện còn tồn tại một số
vướng mắc, khó khăn và sự tham gia của người dân còn hạn chế.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá sự
tham gia của người dân trong thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn huyện Bảo Thắng,
tỉnh Lào Cai".
2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
a. Mục đích
- Tìm hiểu kết quả thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại dự án
Hạ tầng kỹ thuật sau kè bờ tả sông Hồng, khu vực cầu Phố Lu, huyện Bảo Thắng,
tỉnh Lào Cai.
- Tìm hiểu sự tham gia của người dân trong thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư của dự án.
- Đánh giá kết quả thực hiện và sự tham gia của người dân trong bồi thường,
2
hỗ trợ, tái định cư tại dự án và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và nâng cao hiệu quả sự tham gia của người dân
trong quá trình thực hiện công tác này trên địa bàn huyện Bảo Thắng.
b. Yêu cầu nghiên cứu
- Nắm vững chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất và hệ thống các văn bản có liên quan.
- Nguồn số liệu, tài liệu điều tra, thu thập phải có độ tin cậy, chính xác, trung
thực và khách quan.
- Việc tổng hợp, phân tích, đánh giá số liệu, tài liệu điều tra, thu thập được có
độ tin cậy, chính xác, trung thực và khách quan, phản ánh đúng quá trình thực hiện
các chính sách liên quan đến đề tài trên địa bàn nghiên cứu.
- Những kiến nghị, đề xuất đưa ra phải có tính khả thi và phù hợp với thực tế
của địa phương nhằm góp phần hoàn thiện việc thực hiện tốt công tác bồi thường,
bởi một cơ quan hành chính có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Được thực hiện theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ và được quy định riêng
đối với từng trường hợp. [3]
b. Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Theo Bộ luật Dân sự năm 2015 thì bồi thường là việc đền bù những thiệt hại
về vật chất, về tinh thần mà mình gây ra cho người khác, thiệt hại phải được bồi
thường toàn bộ và kịp thời; các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức
bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi
thường một lần hoặc nhiều lần; khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế
thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ
4
quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
Bồi thường có nghĩa trả lại tương xứng giá trị hoặc công lao cho một chủ thể
nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác. Theo quy định tại Khoản 6,
Điều 4, Luật đất đai năm 2003: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà
nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị
thu hồi đất”.
Trong quá trình triển khai thi hành Luật, việc xác định thiệt hại, mức độ thiệt
hại, đối tượng được bồi thường cần được xem xét một cách toàn diện, cụ thể hơn:
- Về xác định đối tượng được bồi thường: đối tượng bị ảnh hưởng từ việc thu
hồi đất không chỉ là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi mà còn bao gồm
cả người đang sư dụng đất thuê, người sử dụng đất lân cận và những người có lợi
ích liên quan.
- Về xác định thiệt hại: ngoài các thiệt hại về đất, nhà cửa và tài sản khác gắn
liền với đất còn có những thiệt hại khác mà mà người sử dụng đất cần phải được bồi
thường như: thiệt hại về nguồn nước sinh hoạt, cây trồng, vật nuôi, các chi phí đầu
tư vào đất, thiệt hại do mất địa thế kinh doanh …[3]
Khoản 11, Điều 3, Luật đất đai năm 2013 đã đưa ra cách giải thích từ ngữ:
ở cho người bị thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở.
e. Giá đất
Giá đất là giá trị của quyển sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích đất do
Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất. Có
những phương pháp xác định giá đất được áp dụng hiện nay là: phương pháp so
sánh trực tiếp, phương pháp thu nhập; phương pháp chiết trừ và phương pháp thặng
dư. Tùy vào từng loại đất khác nhau sẽ áp dụng các phương pháp khác nhau để xác
định giá đất [3].
1.1.2. Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
a. Bản chất chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta
Quyền sở hữu đất đai
Theo quy định tại Điều 158, Luật dân sự năm 2015: “Quyền sở hữu bao gồm
quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo
quy định của pháp luật.”. Trong đó, “Tài sản bao gồm bất động sản và động sản”,
6
bất động sản bao gồm đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản
khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng [21].
Quyền sở hữu đất đai bao gồm ba quyền năng cơ bản sau: Quyền chiếm hữu
đất đai, quyền sử dụng đất đai và quyền định đoạt đất đai. Hiến pháp và các quy
định của pháp luật về đất đai khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
đại diện là chủ sở hữu, Nhà nước thực hiện đầy đủ các quyền của chủ sở hữu. Với
việc Nhà nước là đại diện chủ sở hữu về đất đai thì quyền sở hữu về đất đai có
những đặc điểm sau:
- Quyền của Nhà nước về chiếm hữu đất đai
Nhà nước các cấp tự nắm giữ tổng tài nguyên đất đai thuộc phạm vi lãnh thổ
của mình, sự nắm giữ này là tuyệt đối và không điều kiện, không thời hạn. Để tổ
chức việc sử dụng đất, Nhà nước quyết định giao một phần quyền chiếm hữu của
mình cho người sử dụng trên những thửa đất, khu đất cụ thể với một thời gian hạn
sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình, các nhân để sử dụng vào các mục đích
dưới các hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, không thu tiền sử dụng đất và
cho thuê đất.
Quyền sử dụng đất là một tính chất đặc thù của pháp luật đất đai Việt Nam.
Trên cơ sở khẳng định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, pháp luật đất đai đã từng
bước phát triển, hoàn chỉnh các quy định về “người sử dụng đất” và “các quyền sử
dụng đất”, theo đó “người sử dụng đất” ngày càng được mở rộng là các tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân trong nước, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt
Nam; “quyền sử dụng đất” bao gồm: chuyển đổi, chuyển nhượng , cho thuê, cho
thuê lại, để thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng
quyền sử dụng đất và được thực hiện thông qua các giao dịch dân sự [3].
b. Chính sách phân phối địa tô trong quản lý đất đai theo cơ chế thị trường
Địa tô và quyền sở hữu, quyền sử dụng đất đai
Địa tô là một phạm trù kinh tế gắn liền với chế độ sở hữu đất đai, là hình thái
dưới đó quyền sở hữu đất đai được thực hiện về mặt kinh tế tức là đem lại thu nhập
cho người sở hữu. Theo các nhà kinh tế học thì các chi phí phải thanh toán để sử
dụng đất đai gọi là địa tô (ngày nay thông thường gọi là thuế sử dụng đất). Theo
8
thuật ngữ của kinh tế học cổ điển, địa tô là một dạng hình đặc trưng của thu nhập
mà chủ sở hữu đất đai nhận được.
Liên quan đến vấn đề địa tô, quyền sở hữu và quyền sử dụng phải được phân
định rõ giữa các chủ thể và phải được quy định trong các đạo luật quan trọng như
Hiến pháp, Bộ Luật Dân sự, Luật Đất đai,… Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm
hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Còn quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản;
quyền này chỉ là một trong ba quyền của chủ sở hữu. Đối với Việt Nam, quyền sở
hữu đất đai thuộc về toàn dân và do Nhà nước là đại diện, còn các người sử dụng
Địa tô và giá đất
Về nguyên lý, giá cả hình thành trên cơ sở giá trị, nhưng giá cả thị trường còn
phụ thuộc và bị tác động của rất nhiều yếu tố như quan hệ cung - cầu, tâm lý và hiểu
biết. Vì vậy, dù Nhà nước có định giá chính xác đến bao nhiêu thì giá đất giao dịch
trên thị trường sẽ luôn luôn sai lệch so với giá đất do Nhà nước quy định, và thường
là chênh lệch theo xu hướng cao hơn. Nhà nước tiếp tục điều chỉnh tăng giá đất cho
sát với giá giao dịch trên thị trường đến lượt nó lại là tác nhân tác động, thúc đẩy
tăng giá trao đổi trên thị trường làm cho cuộc rượt đuổi tiếp tục diễn ra và là tác
nhân làm giá đất trên thị trường tiếp tục tăng lên không có điểm dừng.
Trong khi giá đất của Nhà nước quy định chưa tiến sát được với giá đất trao
đổi trên thị trường, Nhà nước tiếp tục chấp nhận sử dụng chính sách hai giá: giá do
Nhà nước xác định khi giao đất, cho thuê đất hoặc tính thuế đất thường thấp hơn giá
xác định để bồi thường khi thu hồi đất. Khi Nhà nước thay đổi quy hoạch hoặc đầu
tư hạ tầng, thu hút phát triển các hoạt động kinh tế xã hội... làm tăng giá trị đất đai
thì người sử dụng đất hoặc nhà đầu tư được hưởng trọn giá trị gia tăng của đất đai,
kể cả trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Chính hạn chế trong việc phân phối lợi ích khi giá trị đất đai tăng lên là động cơ
thúc đẩy đầu cơ đất đai và là nhân tố thúc đẩy giá đất thị trường tăng lên, tạo ra
nhiều nghịch lý như: nền kinh tế kém phát triển, mức thu nhập thấp nhưng giá đất
liên tục tăng lên không thu hút được đầu tư; người có đất bị thu hồi dù có nhận được
mức tiền bồi thường lớn hơn mức sinh lợi của đất mang lại, song vẫn không hài
lòng vì lợi ích sau khi thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất không được phân
10
chia thỏa đáng từ đó phát sinh khiếu kiện [17].
Để giải quyết tận gốc những mâu thuẫn và nghịch lý như trên, cần xác định
một cơ chế hình thành giá đất độc lập với những biến động bất thường của giá cả
mua bán, trao đổi đất đai trên thị trường, đồng thời phải có một cơ chế phân phối lợi
ích hợp lý khi giá đất gia tăng.
c. Quan hệ lợi ích kinh tế - xã hội giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng
đất trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Giải quyết lợi ích kinh tế - xã hội không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu về vật chất
của mỗi chủ thể tham gia trong quan hệ đất đai mà còn phải đảm bảo công bằng
giữa các chủ thể, tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển đúng hướng và cho sự phát
triển của các lợi ích khác [42].
Có thể thấy một phần nguồn lực đất đai vẫn chưa được sử dụng có hiệu quả,
tác động đến mục tiêu kinh tế - xã hội, tăng trưởng kinh tế và gây thất thu cho ngân
sách nhà nước mà nguyên nhân chủ yếu còn chưa giải quyết được quan hệ lợi ích
kinh tế - xã hội trong các quan hệ đất đai giữa nhà nước, nhà đầu tư và người có đất
bị thu hồi (3 bên). Tình trạng chung hiện nay mới chỉ chú trọng đến lợi ích trước
mắt, nhắm đến khoản lợi nhuận từ đất đai (do quy hoạch) mang lại, các chủ thể
đang ra sức khai thác, chuyển nhượng, cho thuê, chuyển đổi nhiều diện tích đất đai
màu mỡ sang các loại đất phi nông nghiệp, trong khi tình trạng người dân thiếu việc
làm, chuyển đổi nghề nghiệp chưa được coi trọng. Quan hệ lợi ích giữa 3 bên hiện
nay còn nhiều bất cập: người sử dụng đất bị thu hồi luôn mong muốn được bồi
thường thỏa đáng, các nhà đầu tư muốn tối đa hóa lợi nhuận bằng mọi cách, trong
khi đó Nhà nước chỉ thực hiện thu các khoản với mức thu thấp và trong nhiều
trường hợp còn bị khấu trừ hết bởi tiền bồi thường mà nhà đầu tư đã ứng trước [2].
Cũng như các loại tài nguyên thiên nhiên khác, đất đai hàm chứa những giá trị
khác nhau: giá trị sử dụng trực tiếp (ví dụ giá trị về quyền sử dụng đất trên thị
trường…) giá trị sử dụng gián tiếp (giá trị sinh thái, môi trường,…) và giá trị vô
hình (giá trị mang tính tâm linh, thiêng liêng …). Vì vậy, mức bồi thường cho người
dân khi bị thu hồi đất như thế nào cho hợp lý và hài hòa lợi ích cần được giải quyết
trong thực tế quản lý và sử dụng đất của chúng ta.
Hiện nay, những lợi nhuận mà các nhà đầu tư có được mà một phần là do họ
12
không xử lý môi trường và gây ô nhiễm môi trường cho xã hội, cộng đồng địa
năm 2013) đã được thông qua và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2014 đã có những nội dung đổi mới nhằm phù hợp với sự phát triển của đất
nước, đáp ứng với những yêu cầu trong thời đại công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Lần
đầu tiên Hiến pháp viết hoa chữ “Nhân dân” nhằm khẳng định bản chất nhà nước do
dân, vì dân và tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Như vậy có thể thấy,
sự tham của người dân vào việc quản lý Nhà nước đang ngày càng được đề cao
[34].
Hiện nay, chưa có cách giải thích từ ngữ hoặc định nghĩa về “người dân” một
cách chính thức. Bên cạnh đó, nhiều tài liệu đánh đồng các thuật ngữ “người dân”,
“cộng đồng”, “nhân dân” khi nói tới sự tham gia của các tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân tham gia vào trong một quyết định, một dự án nào đó.
Chính vì thế trong đồ án này, tác giả sử dụng thuật ngữ “người dân” với cách
hiểu: Người dân là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân và tổ chức đang sử dụng, quản
lý đất có đất bị thu hồi khi Nhà nước thu hồi đất.
b. Sự tham gia của người dân
Khái niệm
- Sự tham gia:
Tham gia - participation được dịch thành 2 từ tham dự và tham gia. Theo GS
Tô Duy Hợp thì tham dự là tham gia ở mức thấp còn tham gia là tham dự ở mức
cao. Và phương pháp luận tham gia là phương pháp luận đi từ dưới lên tức là đi từ
người dân và trở thành khoa học [25].
Sự tham gia là một quá trình mà qua đó những bên có liên quan sẽ có ảnh
hưởng đối với định hướng phát triển, kiểm soát các nguồn lực và các quyết định có
ảnh hưởng đến họ [4]. Sự tham gia không phải là ngẫu nhiên mà cần phải được xúc
tác. Người quản lí (Nhà nước) cần quan tâm về mặt tiến độ và cũng cần để cho đối
tượng tham gia (người dân) kiểm soát những gì đang diễn ra [33].
- Sự tham gia của người dân:
Sự tham gia của người dân là quá trình trong đó người dân tác động vào trong
quá trình thực hiện một quyết định, một dự án. Các hoạt động của cá nhân không có
cần gì, những khả năng đóng góp, đồng thuận của họ.
- Sự tham gia của người dân cải thiện cả quá trình, đưa đến những kết quả và
15