HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ THANH TRÀ
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM, TP HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
------- -------
NGUYỄN THỊ THANH TRÀ
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM, TP HÀ NỘI
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Ngọc Hướng
HÀ NỘI – 2016
ii
LỜI CAM ĐOAN
tin phục vụ đề tài nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã động
viên, khuyến khích, giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành luận văn./.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Trà
ii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng
vi
Danh mục sơ đồ
viii
Trích yếu luận văn ix
Phần 1. Mở đầu
1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
1
iii
3.2. Phương pháp nghiên cứu 33
3.2.1. Phương pháp tiếp cận
33
3.2.2. Phương pháp thu thập dữ liệu 33
3.2.3. Phương pháp xử lý, phân tích số liệu 35
3.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
36
3.3.1. Chỉ tiêu thể hiện sự đầu tư cho sản xuất cây ăn quả 36
3.3.2. Chỉ tiêu thực trạng phát triển theo chiều rộng 36
3.3.3. Chỉ tiêu phát triển theo chiều sâu
36
Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận37
4.1. Thực trạng phát triển sản xuất cây ăn quả huyện Gia Lâm, TP Hà Nội 37
4.1.1. Quy hoạch vùng phát triển sản xuất cây ăn quả giai đoạn 2011-2015 37
4.1.2. Diện tích, năng suất, sản lượng 38
4.1.3. Thực trạng huy động nguồn lực, phương thức sản xuất của hộ 43
4.1.4. Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả huyện Gia Lâm 52
4.1.5. Tình hình tiêu thụ 55
4.1.6. Thực trạng xây dựng và tăng cường các liên kết trong sản xuất và tiêu thụ
cây ăn quả trên địa bàn huyện Gia Lâm
60
4.2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất cây ăn quả huyện
Gia Lâm, TP Hà Nội 65
4.2.1. Các yếu tố tự nhiên 65
4.2.2. Các yếu tố kinh tế - xã hội
65
TNDN
TP
TTCN
TW
UBND
XD
Nghĩa tiếng Việt
Bảo vệ thực vật
Doanh nghiệp
Dịch vụ nông nghiệp
Giá trị gia tăng
Giá trị sản xuất
Hợp tác xã
Khoa học kỹ thuật
Nông nghiệp
Thương mại dịch vụ
Thu nhập cá nhân
Thu nhập doanh nghiệp
Thành phố
Tiểu thủ công nghiệp
Trung ương
Ủy ban nhân dân
Xây dựng
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tình hình đất đai của huyện Gia Lâm giai đoạn 2013- 2015........25
v
năm 2015.....................................................................................................64
Bảng 4.21: Dự báo tình hình dân số giai đoạn 2015-2020..............................65
Bảng 4.22: Tình hình lao động sản xuất cây ăn quả.......................................66
vi
Bảng 4.23: Đầu tư công cho sản xuất cây ăn quả tại huyện Gia Lâm giai
đoạn 2013-2015...........................................................................................70
Bảng 4.24: Đầu tư công cho sản xuất cây ăn quả tại các xã được điều tra giai
đoạn 2013-2015...........................................................................................70
Bảng 4.25: Tình hình chuyển giao khoa học kỹ thuật sản xuất cây ăn quả tại
huyện Gia Lâm giai đoạn 2013-2015........................................................71
Bảng 4.26: Quy hoạch, định hướng phát triển sản xuất cây ăn quả huyện
Gia Lâm đến năm 2020..............................................................................76
Bảng 4.27: Quy hoạch, định hướng phát triển sản xuất cây ăn quả tập trung tại
các xã, thị trấn đến năm 2020.......................................................................77
DANH MỤC SƠ ĐỒ
vii
Sơ đồ 4.1: Kênh tiêu thụ ổi găng .....................................................................56
Sơ đồ 4.2: Kênh tiêu thụ sản phẩm chuối tiêu hồng.......................................57
Sơ đồ 4.3: Kênh tiêu thụ cam Canh.................................................................58
Sơ đồ 4.4: Liên kết dọc trong sản xuất cây ăn quả huyện Gia Lâm.....................63
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Thị Thanh Trà.
Đông Dư, Phú Thị và Đa Tốn, với mỗi loại cây ăn quả chọn 40 mẫu để điều tra.
Số liệu, thông tin được xử lý, phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả, so
sánh và phương pháp chuyên gia.
Trong giai đoạn vừa qua, sản xuất cây ăn quả trên địa bàn huyện Gia Lâm
đã có sự phát triển tương đối tích cực cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Nhờ có những
định hướng, quy hoạch và chính sách hỗ trợ tích cực của chính quyền, đoàn thể
và sự quyết tâm của người dân, việc sản xuất cây ăn quả của huyện đã phát triển
đúng hướng. Các hộ đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ lúa kém chất
lượng sang sản xuất cây ăn quả, tập trung vào các loại quả đặc sản, mũi nhọn, có
thương hiệu như ổi găng, chuối tiêu hồng, cam canh. Giai đoạn 2011-2015, diện
ix
tích thực tế trồng cây ăn quả đạt 854,6 ha, vượt chỉ tiêu quy hoạch, đã chuyển
70ha đất trũng sang trồng cây ăn quả. Giai đoạn 2013-2015, năng suất, sản lượng
cây ăn quả của huyện có xu hướng tăng nhưng còn chậm, chưa rõ nét. Dù vậy,
nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, phù hợp nên nhìn chung, cơ bản việc sản xuất
cây ăn quả đã đem lại thu nhập tương đối cao so với trồng lúa, một ha cây ăn quả
cho thu nhập từ 200-300 triệu đồng.
Mặc dù đã có những thành tựu không nhỏ, sản xuất cây ăn quả trên địa bàn
huyện Gia Lâm vẫn còn những tồn tại, hạn chế, đó là liên kết trong quá trình sản
xuất tuy đã hình thành nhưng còn rất yếu, các mô hình liên kết dọc còn giản đơn,
số lượng rất ít, liên kết ngang còn thiếu chặt chẽ dẫn đến sản xuất, tiêu thụ còn
nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, có những hạn chế khác như quy mô sản xuất tập
trung chưa lớn, còn manh mún, kinh tế Hợp tác xã và trang trại phát triển chậm;
việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, sản xuất tự do không
theo quy trình, tiêu chuẩn; kinh phí cho đầu tư phát triển còn chưa được đầu tư
đúng mức, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng đủ yêu cầu phát triển.
Trong các nhân tố ảnh hưởng, nhóm nhân tố kinh tế - xã hội là nhóm nhân
tế cao, cho thu nhập trung bình 300-400 triệu đồng/ha (ổi, táo Đông Dư; cam
canh tại Đa Tốn, Kim Lan).
Huyện Gia Lâm là vùng đất có tiềm năng phát triển sản xuất cây ăn quả,
nhiều loại có thể trở thành đặc sản. Tuy nhiên, quá trình sản xuất cây ăn quả ở
huyện Gia Lâm còn nhiều vấn đề bất cập, đó là: sản lượng chưa tương xứng với
tiềm năng, quy trình sản xuất còn chưa đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, tình
trạng sử dụng hóa chất, thuốc trừ sâu trong thời gian gần đây gia tăng (đặc biệt
với chuối, ổi găng bốn mùa) dẫn đến chất lượng thấp, năng lực cạnh tranh hạn
chế. Hơn nữa, với tiến trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, quỹ đất nông
nghiệp ngày càng bị thu hẹp thì bài toán phát triển sản xuất cây ăn quả càng trở
thành vấn đề cấp thiết để duy trì những sản phẩm nông nghiệp có giá trị cao, đảm
bảo đời sống cho người nông dân.
Vì những lý do nói trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển sản
xuất cây ăn quả trên địa bàn huyện Gia Lâm, TP Hà Nội”.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng, đề xuất
các giải pháp phát triển sản xuất cây ăn quả trên địa bàn huyện Gia Lâm, TP Hà
Nội.
1
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất
cây ăn quả.
- Đánh giá thực trạng, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản
xuất cây ăn quả trên địa bàn huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển sản xuất cây ăn quả trên địa bàn huyện
Gia Lâm, TP Hà Nội.
CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài đã hệ thống hóa, làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn về phát triển sản
xuất nông nghiệp nói chung, phát triển sản xuất cây ăn quả nói riêng và thông
qua đó, rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình phát triển sản xuất cây
ăn quả.
Đề tài đã phản ánh rõ thực trạng phát triển sản xuất cây ăn quả trên địa bàn
huyện Gia Lâm (các nghiên cứu trước đây chưa tiến hành, chỉ phản ánh thực
trạng phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung, nông sản hàng hóa hoặc thực
trạng sản xuất một loại cây ăn quả riêng biệt của huyện như ổi Đông Dư, cam
đường canh…). Theo đó, làm rõ mức độ phát triển sản xuất cây ăn quả theo chiều
rộng, phản ánh đúng thực trạng phát triển sản xuất cây ăn quả theo chiều sâu.
Nghiên cứu tiến hành phân biệt kết quả điều tra theo hai nhóm hộ có năng suất
cao và có năng suất thấp, từ đó làm sáng tỏ sự khác biệt về phương thức sản xuất
của hai nhóm hộ, từ đó góp phần xác định rõ mức độ ảnh hưởng của các yếu tố
đến chất lượng, hiệu quả sản xuất. Đề tài cơ bản phản ánh được thực trạng xây
dựng các mối liên kết trong sản xuất cây ăn quả của huyện Gia Lâm, từ những
liên kết giản đơn đến các mô hình liên kết khép kín từ khâu cung cấp các yếu tố
đầu vào cho quá trình sản xuất đến bao tiêu sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm đầu
ra.
Đề tài xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất cây ăn quả trên địa
bàn huyện Gia Lâm. Trong đó, tập trung đi sâu nghiên cứu sự ảnh hưởng của các
chính sách đến sự phát triển sản xuất cây ăn quả của huyện Gia Lâm thông qua
kết quả thực hiện theo các mục tiêu của Đề án quy hoạch vùng sản xuất cây ăn
quả giai đoạn 2011-2015, so sánh, đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu cụ
thể của Đề án. Từ đó, có cơ sở để đóng góp cho Đề án quy hoạch vùng sản xuất
đối với cây ăn quả ở giai đoạn tiếp theo.
3
thể thiếu được trong đời sống con người và mức tiêu thụ ngày càng tăng.
Cây ăn quả là loại cây có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao. Trong
những năm gần đây, cây ăn quả góp phần tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấu
4
cây trồng nông nghiệp, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải tạo môi trường sinh
thái nhất là các tỉnh trung du miền núi. Trong xu thế phát triển kinh tế – xã hội
hiện nay, khi mà vấn đề lương thực cơ bản đã được giải quyết, đời sống nông dân
được cải thiện thì nhu cầu về tiêu thụ sản phẩm quả ngày càng cao cả về số lượng
lẫn chất lượng. Có thể nói rằng cây ăn quả có vai trò hết sức to lớn đối với con
người. Cụ thể là:
Quả dùng cho bữa ăn hàng ngày:
Các loại quả là nguồn dinh dưỡng quý giá của con người ở mọi lứa tuổi và
ngành nghề khác nhau. Trong quả có loại đường dễ tiêu, các axit hữu cơ, prôtêin,
lipit, chất khoáng, pectin, tananh, các hợp chất thơm và các chất khác có nhiều
loại vitamin khác như A, B1, B2, B6,C,PP. Đặc biệt là vitamin C rất cần thiết cho
cơ thể con người, vitamin A cần thiết cho trẻ em. Trong khẩu phần ăn của con
người không những cần đầy đủ calo mà cần có vitamin, muối khoáng, các axit
hữu cơ và các hoạt chất khác để các hoạt động sinh lý được tiến hành bình
thường.Nhu cầu về calo dựa vào việc cung cấp đạm, mỡ, hydrat cacbon từ động
vật và thực vật, còn vitamin và các hoạt chất khác thì chủ yếu dựa vào quả và rau
(Trần Như Ý và cs., 2000).
Sản xuất cây ăn quả cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế
biến và xuất khẩu:
Vai trò cung cấp nguyên liệu cho công nghệ chế biến và xuất khẩu đã tác
động tới sự phát triển của công nghiệp, tạo nguồn ngoại tệ mạnh cho sự phát triển
kinh tế nhất là những nước chưa phát triển, đặc biệt là Việt Nam. Vào đầu những
năm 60, ngành công nghiệp chế biến rau quả của Việt Nam đã được hình thành
Đặc điểm kỹ thuật: Cây ăn quả là loại cây trồng cạn, có tính chịu hạn cao,
không kén đất, với khả năng này nó tận dụng được đất đai không thể trồng được
cây lương thực, với kỹ thuật canh tác trên đất dốc, cây ăn quả có thể trụ lại và
phát triển bình thường, sau thời kỳ kiến thiết cơ bản (thường từ 3-4 năm) đến thời
kỳ sản xuất kinh doanh, thời kì này kéo dài vài chục năm thậm chí kéo dài cả
trăm năm. Cho tới nay vẫn chưa xác định chắc chắn chu kì sản xuất của nó là bao
nhiêu năm, điểm này rất thuận lợi cho việc sản xuất. Tuy nhiên, do đặc điểm về
kỹ thuật trong sản xuất dẫn đến tính thời vụ cao nếu chuyên môn hoá quá sâu
(Trần Như Ý và cs., 2000).
Để giảm bớt tính thời vụ trong việc phát triển ngành cây ăn quả cần lưu ý
mấy vấn đề sau:
- Thực hiện chuyên môn hoá sản xuất kết hợp với phát triển tổng hợp bằng
cách kết hợp cơ cấu cây ăn quả hợp lý, kết hợp cây ăn quả với các loại cây trồng
và vật nuôi khác. Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý để sử dụng tối đa lực lượng lao
động và sở dụng hợp lý các loại vật tư kỹ thuật.
- Tạo ra các giống cây ăn quả cho sản phẩm không trùng nhau trong một
năm (cây trái vụ) để hạn chế tính thời vụ.
2.1.4. Nội dung phát triển sản xuất cây ăn quả
2.1.4.1. Quy hoạch vùng phát triển các loại cây ăn quả
6
Quy hoạch vùng phát triển sản xuất cây ăn quả theo thế mạnh và đặc điểm
tự nhiên của từng vùng, thích hợp với từng loại cây ăn quả, tập trung phát triển
theo hướng chuyên canh đặc sản.
Sau khi xác định chọn vùng phát triển, tiến hành công bố rộng rãi và triển
khai thực hiện các chính sách hỗ trợ khuyến khích, áp dụng công nghệ cao, xây
dựng hạ tầng sản xuất, thương hiệu, quảng bá sản phẩm… để tạo điều kiện cho
các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tích cực chuyển đổi và phát triển cây ăn quả.
Giống, khoa học kĩ thuật: giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp
đến quá trình sản xuất cây ăn quả. Nếu như đầu tư như nhau nhưng giống khác
nhau sẽ cho năng suất khác nhau. Giống tốt là những giống có khả năng thích
nghi với điều kiện tự nhiên, tổ chức sản xuất, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt,
cho năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt. Ngày nay, với sự phát triển của
KHKT hiện đại, nhiều loại giống có năng suất cao, chất lượng tốt được đưa vào
sản xuất. Tuy nhiên, muốn khai thác và phát huy được tiềm năng của từng địa
phương cần phải bố trí, lựa chọn những giống cây ăn quả thích hợp với điều kiện
của từng vùng, từng địa phương, vận dụng tốt khoa học kĩ thuật để nâng cao
được hiệu quả sản xuất.
Vốn sản xuất: vốn được hiểu là những tư liệu sản xuất như máy móc,
thiết bị, phương tiện vận tải, kho tàng, cơ sở hạ tầng và kỹ thuật. Theo nghĩa
chung, vốn là giá trị của toàn bộ đầu vào bao gồm những tài sản, vật phẩm, các
nguồn tài chính dùng cho sản xuất kinh doanh nông nghiệp (Đỗ Kim Chung và
cs., 2009).
Để phát triển sản xuất cây ăn quả, vốn phải được sử dụng hợp lý, huy động
vốn có hiệu quả, phân bổ vốn hợp lý cho từng hoạt động sản xuất. Để đánh giá
hiệu quả sử dụng vốn, có thể sử dụng một số chỉ tiêu như: mức trang bị vốn (quy
mô vốn của hộ trồng cây ăn quả), khả năng huy động vốn (tỷ lệ vốn chủ sở hữu
và vốn nợ), tình hình phân bổ vốn (tỷ lệ vốn đầu tư cho các khâu như sản xuất,
marketing,...), chỉ tiêu thể hiện hiệu quả sử dụng vốn bao gồm: giá trị sản
phẩm/một đồng vốn, tổng lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận...
Tài nguyên thiên nhiên và môi trường : Tài nguyên thiên nhiên và môi
trường được coi là nguồn lực quan trọng của nông nghiệp nói chung và sản xuất
cây ăn quả nói riêng. Tài nguyên thiên nhiên là sản phẩm tự nhiên để con người
tiến hành sản xuất hoặc dùng nó làm môi trường sản xuất. Tài nguyên thiên nhiên
bao gồm đất đai, sông hồ, thực vật, động vật, rừng, biển. Các tài nguyên này dù
trực tiếp hay gián tiếp đều ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất cây ăn quả. Các
mối liên hệ sinh thái, kinh tế-kỹ thuật giữa tài nguyên thiên nhiên và môi trường
được vùng sản xuất hàng hóa đủ lớn, dễ dàng tiếp cận thị trường, đảm bảo đầu ra.
- Nhà khoa học: Nhà khoa học giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình này
nhằm giúp nông dân nâng cao năng suất, chất lượng, giảm chi phí sản xuất...
nhưng việc thiếu những cơ chế rõ ràng khiến vai trò của "nhà" này không được
đề cao. Sự tham gia của các nhà khoa học hiện nay còn ít và hạn chế.
- Nhà doanh nghiệp: doanh nghiệp là cơ sở sản xuất kinh doanh với mục
đích kiếm lời là chính. Các doanh nghiệp hiện nay còn lo sợ đầu tư vào lĩnh vực
nhiều rủi ro này. Đặc biệt là khu vực tư nhân, khó khăn lớn nhất chính là việc
thiếu vốn, sự quan tâm hỗ trợ của các "nhà" khác, và lại phải chịu rủi ro cao khi
ứng vốn cho nông dân. Trong trường hợp xảy ra thiên tai hay các nguyên nhân
bất khả kháng không trả được nợ, doanh nghiệp phải kéo dài thời gian nợ ngân
hàng làm tăng vốn vay, giá thành sản phẩm tăng ảnh hưởng đến hoạt động tài
9
chính. Vì vậy, doanh nghiệp khi ký hợp đồng còn ngần ngại đầu tư cho sản xuất
kinh doanh nông - lâm - ngư nghiệp vì đầu tư thì cao nhưng tỷ lệ rủi ro lớn.
2.1.4.4. Tăng cường xây dựng hệ thống tiêu thụ và phân phối sản phẩm
Mặt hàng trái cây có tính chất đặc thù là không để được lâu, dễ hư hỏng nên
đòi hỏi có các biệp pháp bảo quản chế biến thích hợp, cần được phân phối tiêu
thụ đúng thời gian.
Tiêu thụ là khâu quan trọng nhất trong bất kỳ quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh nào. Vì có tiêu thụ được hàng hóa thì mới thu hồi được vốn để tiếp
tục đầu tư sản xuất tiếp theo. Nhưng tiêu thụ luôn là một khâu khó khăn, đặc biệt
là tiêu thụ hàng nông sản là thực phẩm tươi, dễ bị hư hỏng nên đòi hỏi phải tiêu
thụ ngay nếu không qua chế biến. Hiện nay, tiêu thụ sản phẩm là vấn đề khó khăn
nhất của người sản xuất, đặc biệt là người nông dân. Nguyên nhân do thị trường
nông thôn còn hạn chế, nông dân vẫn chưa quen với nền kinh tế thị trường, chưa
biết nắm bắt và khai thác nhu cầu đa dạng của thị trường, cho nên sản xuất chưa
nhiều nước khác. Các hệ thống giao thông đường bộ, đường biển và hàng không
thuận tiện cho việc giao lưu hàng hóa quốc tế và khu vực.
2.1.5.2. Yếu tố kinh tế xã hội
* Quy mô, cấu trúc dân số: Quy mô dân số, cấu trúc dân tộc và dân cư ảnh
hưởng trực tiếp đến sự phát triển nông nghiệp nói chung và sản xuất cây ăn quả
nói riêng. Mức bình quân về tài nguyên (diện tích đất nông nghiệp/đầu người),
ảnh hưởng rất lớn đến sự phân bổ, khai thác và sử dụng tài nguyên, do đó, ảnh
hưởng đến sự phát triển sản xuất cây ăn quả. Quy mô dân số còn ảnh hưởng đến
cầu của thị trường về sản phẩm cây ăn quả. Do đó, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
việc phân bổ sử dụng tài nguyên vào sản xuất – kinh doanh các sản phẩm ăn quả.
Cấu trúc dân tộc, bản sắc văn hóa cũng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển sản xuất
cây ăn quả.
* Lao động: là yếu tố sản xuất, là nhân tố quyết định đến sự phát triển của
các ngành trong đó có ngành rau quả. Theo số liệu năm 2014 của Tổng cục
Thống kê, 33,1% dân số Việt Nam sống tại khu vực thành thị và 66,9% tại các
vùng nông thôn. Do vậy, có thể nói lực lượng lao động của nước ta rất dồi dào và
có thể cung cấp đủ lao động cho sản xuất cây ăn quả. Người nông dân nước ta
cần cù sáng tạo, qua nhiều thế hệ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trồng trọt,
chọn giống rau đậu, cam, quýt, bưởi, hồng, xoài, chôm chôm, thanh long. Nông
dân ở nhiều vùng rau quả truyền thống đã thu được năng suất và lợi nhuận cao.
Tuy nhiên, chỉ với kinh nghiệm thì nhiều vấn đề chưa giải quyết được, nhất là
các khâu như: giống, phòng trừ sâu bệnh, xử lý sau thu hoạch.Nhìn chung, trình
độ dân trí của nước ta còn thấp so với nhiều nước trên thế giới.
* Thể chế và chính sách của chính phủ can thiệp vào nền nông nghiệp. Các
chính phủ vì những mục tiêu kinh tế, chính trị và xã hội khác nhau đã có các
chính sách, cách can thiệp khác nhau vào nền nông nghiệp để thỏa mãn các mục
tiêu của quốc gia đó. Do đó, chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung và
11
cả nước, đạt 298 nghìn ha (chiếm 37,9% tổng diện tích cây ăn quả cả nước);
vùng Đông Nam Bộ đứng hàng thứ hai, với diện tích 187 nghìn ha (chiếm 23,8%
tổng diện tích cây ăn quả cả nước).Những năm gần đây, diện tích cây ăn quả có
tốc độ phát triển chậm (chỉ hơn 1% năm). Tuy nhiên, nhờ tác động của tiến bộ
khoa học kỹ thuật, chuyển đổi giống cây trồng, sản xuất chuyên canh và trình độ
12