CƠ sở lý LUẬN về HÀNH VI GIAO TIẾP TRÊN MẠNG xã hội của SINH VIÊN - Pdf 54

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ
HÀNH VI GIAO TIẾP
TRÊN MẠNG XÃ HỘI
CỦA SINH VIÊN


Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Những nghiên cứu về giao tiếp
*Nghiên cứu về giao tiếp ở nước ngoài
Vấn đề về giao tiếp đã được nghiên cứu từ rất sớm trên thế
giới. Thời cổ đại, các nhà triết học như Socrate (470 - 339 TCN),
Platon (428 - 347 TCN) đã đề cập đến vấn đề giao tiếp, coi sự đối
thoại là sự giao tiếp trí tuệ của những con người biết suy nghĩ, là
sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người [14].
Bước vào thời kỳ Phục Hưng, giao tiếp được coi như là một
phương thức ứng xử có văn hóa của con người và được các nhà
nghệ thuật coi là đối tượng nghiên cứu. Trong đó, tiêu biểu là họa
sĩ thiên tài người Ý Leonardo do Vinci (1452 - 1512) đã miêu tả sự
giao tiếp mẹ - con thông qua các bức tranh nổi tiếng của mình [45].
Thế kỷ XIX, K. Mark (1818 - 1833) đã có những nghiên cứu
sâu sắc về giao tiếp trong “Bản thảo Kinh tế - Triết học”, thể hiện
ở những quan điểm cho rằng giao tiếp là khí quan biểu hiện sinh
hoạt và một trong những phương thức chiếm hữu sinh hoạt của
con người, đồng thời, thông qua giao tiếp với người khác mà có
thái độ với chính bản thân mình [24].


Bước sang thế kỷ XX, giao tiếp đã được các nhà khoa học
quan tâm với tư cách là một khoa học và được nghiên cứu trên
nhiều lĩnh vực: triết học, xã hội học, đặc biệt là tâm lý học với các
nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống.

điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng giao tiếp có thể là
một dạng hoạt động hoặc có thể là một phương thức, điều kiện
của hoạt động. Đại diện cho quan điểm theo xu hướng này là
A.A.Leonchiev. Còn quan điểm thứ hai lại cho rằng hoạt động và
giao tiếp là những phạm trù tương đối độc lập trong quá trình
thống nhất của đời sống con người. Phạm trù “hoạt động” phản
ánh mối quan hệ giữa chủ thể - khách thể, phạm trù “giao tiếp”
phản ánh mối quan hệ chủ thể - chủ thể.


Hướng thứ 2 nghiên cứu các dạng giao tiếp nghề nghiệp
trong đó giao tiếp sư phạm là một loại giao tiếp nghề nghiệp được
nhiều nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu. Có thể kể đến một vài
tác giả có những nghiên cứu về giao tiếp sư phạm như A.A.
Leonchiev với “Giao tiếp sư phạm” (1979), A.V.Petropxki với
“Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm”... và một số tác giả
khác tập trung nghiên cứu về mối quan hệ giữa giáo viên và học
sinh trong giao tiếp trường học. [33]
Những quan điểm trên mặc dù có cách tiếp cận khác nhau
nhưng đều khẳng định vai trò quyết định của giao tiếp trong sự
phát triển của loài người nói chung và trong sự phát triển nhân
cách của từng cá nhân nói riêng.
*Nghiên cứu về giao tiếp ở trong nước
Các công trình nghiên cứu về giao tiếp ở nước ta khá đa
dạng, phong phú và chia làm nhiều hướng khác nhau.
Hướng đầu tiên nghiên cứu vấn đề giao tiếp với các khía
cạnh khác nhau về bản chất của giao tiếp, vai trò, vị trí của giao
tiếp trong sự hình thành nhân cách.Có thể đề cập đến một số tác
giả như Bùi Văn Huệ “Bàn về phạm trù giao tiếp” (1981); Nguyễn
Sinh Huy, Trần trọng Thủy với “Nhập môn khoa học giao tiếp”

sóc và giáo dục trẻ, tìm hiểu các khó khăn của họ, lí giải nguyên
nhân và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp sư
phạm của các giáo viên này [15].
Nguyễn Ngọc Trinh (2013) với “Thực trạng kỹ năng giao
tiếp sư phạm của giáo viên với trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi ở một số
trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh” đã đưa ra các tiêu
chí và thang đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm của các giáo viên
đối với trẻ 4 - 5 tuổi. Dựa vào đó, tác giả tiến hành khảo sát và
đánh giá thực trạng kỹ năng giao tiếp của các giáo viên tại một số
trường mầm non trên địa bàn thành phố [39].
Nguyễn Huy Toàn (2011) với “Kỹ năng giao tiếp của học
viên Trường Trung cấp Cảnh sát nhân dân II” đã khái quát một số
vấn đề cơ bản về lý luận giao tiếp, kỹ năng, kỹ năng giao tiếp. Từ
đó, nghiên cứu thực trạng kỹ năng giao tiếp của học viên trường
Trung cấp Cảnh sát nhân dân II trong hoạt động học tập gồm kỹ
năng điều khiển quá trình giao tiếp, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng


diễn đạt. Đồng thời, đề ra các biện pháp và tổ chức thực nghiệm
nhằm đảm bảo tính khả thi của các biện pháp ấy [37].
Những nghiên cứu về hành vi giao tiếp trên mạng xã hội
*Ở nước ngoài
Các nghiên cứu về hành vi giao tiếp
Newcomb và Svehla đã nghiên cứu Thuyết hành vi giao tiếp
ABX. Theo họ, hành vi giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ phần
truyền đến phần nhận. Hành vi giao tiếp xảy ra trong tình huống
tác động trực tiếp của các cá nhân; hành vi giao tiếp là hành vi có
chủ định; hành vi giao tiếp nhằm mục đích hướng đến sự lĩnh hội;
các thành viên của nhóm trong tâm trạng liên kết với nhau [22].
Tác giả Erhard Thiel trong cuốn “Hành vi giao tiếp” đã cho

Jacobson, mô hình của Bird Whistell, Perdonici, Shanon, Weaver,


… Những nghiên cứu này chỉ ra cách thức hoạt động và các thành
tố của hành vi giao tiếp. Mặc dù các tác giả xây dựng các mô hình
khác nhau, tuy nhiên đều chỉ ra trong đó các thành tố chung như
bộ phát, bộ thu, bản thông điệp. Càng về sau, các mô hình có thêm
nhiều yếu tố hơn như môi trường truyền thông, kênh,… [6]
Các nghiên cứu về mạng xã hội
Các tác giả Trần Hữu Luyến, Trần Thị Minh Đức và Bùi Thị
Hồng Thái (2015) trong “Mạng xã hội với sinh viên” [25] đã trích
dẫn sáu hướng nghiên cứu chủ yếu về mạng xã hội trên thế giới:
Quan niệm bạn bè trên mạng xã hội, nhu cầu và lợi ích của việc sử
dụng mạng xã hội, bản sắc cá nhân thể hiện trên mạng xã hội, vấn
đề tự công khai và bảo mật thông tin trên mạng xã hội, những rủi
ro và hành vi nguy cơ từ mạng xã hội, sự phụ thuộc mạng xã hội
và nghiện mạng xã hội.
Về quan niệm bạn bè trên mạng xã hội, Adriana A. Manago
và cộng sự (2007) khẳng định những người bạn trên mạng xã hội
trở thành một phần thiết yếu trong đời sống xã hội của thanh thiếu
niên trong khi thực tế họ không có mối quan hệ bạn bè trực diện
như ngoài đời. Sự dễ dàng của liên lạc điện tử làm cho thành niên
ít quan tâm đến giao tiếp đối mặt với bạn bè của họ.


Về nhu cầu và lợi ích của mạng xã hội, Subrahmanyam và
Greenfield (2008) chỉ ra tần số giao tiếp và sự tự công khai đóng
vai trò trong giao tiếp trung gian qua máy tính và hình thành tình
bạn trực tuyến giữa các cá nhân giống như họ làm trong tương tác
mặt đối mặt và các quan hệ bạn bè ngoại tuyến. Richard M Guo

dụng intermet ngày càng tang để được thỏa mãn; Nỗ lực nhiều lần
nhưng không thành công trong việc kiểm soát, giảm hoặc ngừng
sử dụng; Kích động hoặc dễ bị kích thích khi có xu hướng giảm
hoặc ngừng sử dụng; Tiêu tốn thời gian lên mạng xã hội; Các mối
quan hệ quan trọng, hoạt động nghề nghiệp, xã hội, giải trí bị mất
hoặc có nguy cơ bị mất do sử dụng internet và các ứng dụng; Nói
dối gia đình, nhà trị liệu để che dấu thực trạng sử dụng; Sử dụng
internet để trốn tránh khó khăn hoặc giải tỏa sự hoảng loạn.


*Ở trong nước
Nghiên cứu về hành vi giao tiếp
Các nghiên cứu về hành vi giao tiếp của nước ta chủ yếu đi
sâu vào hành vi giao tiếp có văn hóa hay văn hóa giao tiếp. Có thể
kể một số các công trình nghiên cứu như:
Tác giả Hồ Sỹ Hùng (2014) với bài viết “Thực trạng giáo
dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi” đã
tìm hiểu về hành vi giao tiếp có văn hóa của trẻ thông qua các
nhóm hành vi là hành vi giao tiếp ứng xử lịch sự, lễ phép, hành vi
tham gia vào hội thoại và giao tiếp có văn hóa, hành vi biểu đạt
nhu cầu với người khác, hành vi chia sẻ sự cảm thông, giúp đỡ
người khác và hành vi tôn trọng trong giao tiếp. Từ đó, đề ra các
nhóm biện pháp nhằm nâng cao hành vi ở trẻ gồm nhóm biện
pháp giáo dục tình cảm, tổ chức môi trường hoạt động, luyện tập
và đánh giá [21].
Tác giả Hoàng Thị Phương (2002) với luận án “Một số biện
pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5 - 6 tuổi” đã
nghiên cứu thực trạng các hành vi giao tiếp có văn hóa của trẻ 5 6 tuổi thông qua các biểu hiện như biểu hiện tôn trọng lẫn nhau,
biểu hiện thiện chí trong giao tiếp, biểu hiện quan tâm đến người
khác, hiểu hiện nhân hậu, biểu hiện trung thực và các kỹ năng là

có thể gặp phải khi sử dụng mạng xã hội. Thông qua đó, nhóm tác
giả đã chỉ ra rằng tỷ lệ sinh viên sử dụng mạng xã hội rất cao với
những nhu cầu chủ yếu về giải trí và tương tác mặc dù các em rất
dễ gặp phải những áp lực khi sử dụng mạng xã hội. Đồng thời,
nhóm tác giả cũng khẳng định rằng sinh viên càng có nhu cầu sử
dụng mạng xã hội cao thì càng dễ chịu phải những áp lực, rủi ro từ
mạng xã hội. [25]
Tác giả Đỗ Công Anh (2011) với “Nghiên cứu xu hướng
phát triển mạng xã hội và đề xuất chính sách định hướng phát
triển mạng xã hội Việt Nam” đã tập trung vào các vấn đề tổng
quan thực trạng phát triển mạng xã hội trên thế giới và Việt Nam,
các bài học kinh nghiệm trong quản lý mạng xã hội, áp dụng mô
hình giải toán để nghiên cứu bản chất mạng xã hội, đè ra các
chính sách, giải pháp phát triển mạng xã hội ở Việt Nam [1].
Tác giả Hoàng Anh (2013) với “Thực trạng sử dụng mạng xã
hội Facebook của sinh viên Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật


tp.HCM” đã chỉ ra các mục đích, tính chất, nội dung sử dụng
mạng xã hội Facebook của sinh viên và các biểu hiện tâm lí của
các em khi tham gia mạng xã hội này [3].
Tác giả Đào Lê Hòa An (2013) với “Nghiên cứu về hành vi
sử dụng Facebook của con người - một thách thức mới cho tâm lí
học hiện đại” đã tập trung vào các những hành vi sử dụng internet
và Facebook ở trên thế giới và ở Việt Nam [5].
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hành vi giao
tiếp có văn hóa, văn hóa giao tiếp và mạng xã hội. Tuy nhiên, vẫn
chưa có đề tài nghiên cứu về hành vi giao tiếp trên mạng xã hội.
Vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Hành vi giao tiếp
trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa”.

hiện đại, cả hai phạm trù này đều được quan tâm. [27]


J. Piaget (1896 - 1960) - nhà tâm lý học người Thụy Sĩ lại
nhấn mạnh tính tích cực của hành vi con người và cho rằng hành
vi còn là sự tìm kiếm hoàn cảnh hay đối tượng còn thiếu hay chưa
tồn tại. Hành vi được hiểu là tính tích cực có định hướng [27].
Trong Tâm lý học Hoạt động, hành vi của con người được
xem như hoạt động, tuy ít nhiều mang yếu tố bẩm sinh, nhưng chủ
yếu chịu sự chi phối từ phía xã hội thông qua ngôn ngữ và hệ
thống các tín hiệu ý nghĩa khác.
Theo L.X. Vugotxki (1896 - 1934) thì hành vi của con người
không những là sản phẩm của tiến hóa lịch sử, là kết quả phát
triển trong thời thơ ấu, mà còn là sản phẩm phát triển của lịch sử.
Đồng thời, L.X. Vugotxki chỉ ra rằng ranh giới giữa hành vi người
và động vật nằm ở chỗ chúng có các cấu trúc hoàn toàn khác
nhau. Ở động vật, các dạng hành vi chủ yếu được hợp thành bởi
hai nhóm phản ứng. Đó là nhóm phản ứng bẩm sinh (vô điều
kiện) và nhóm tự tạo (có điều kiện). Ở con người, cấu trúc hành vi
bao gồm kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm xã hội và kinh nghiệm
kép. Kinh nghiệm lịch sử là kinh nghiệm được các thế hệ trước
truyền lại cho các thế hệ sau, nhưng không theo con đường di
truyền sinh vật mà theo con đường di truyền xã hội. Kinh nghiệm
xã hội được hiểu là những tri thức nhận được từ người khác cùng


sống, cùng hoạt động truyền lại cho nhau. Đây là một trong những
thành phần rất quan trọng trong hành vi của con người - thành
phần xã hội của hành vi con người. Kinh nghiệm kép là kinh
nghiêm được hình thành trong hoạt động lao động thực tiễn của

hành vi có những nội dung sau:
Hành vi con người là biểu hiện bên ngoài của hoạt động,
được điều chỉnh bởi các cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể.
Điều này đảm bảo cho con người tồn tại và phát triển.
Hành vi con người lúc nào cũng chịu sự quy định xã hội và
đặc trưng bởi tính mục đích, tính ý nghĩa, tính lựa chọn và tính
sáng tạo.
Hành vi con người nảy sinh khi có nhu cầu và hoàn cảnh thỏa
mãn nhu cầu ấy.


Giao tiếp
Nhà tâm lý học xã hội người Anh M.Argule lại mô tả giao
tiếp như quá trình ảnh hưởng lẫn nhau qua các hình thức tiếp xúc
khác nhau. Giao tiếp thông tin được biểu hiện bằng lời hay bằng
phi ngôn ngữ từ nhiều người đến một người giống như việc tiếp
xúc thân thể của con người trong quá trình tác động qua lại về mặt
vật lý và chuyển dịch không gian [33].
David K.Berlo định nghĩa giao tiếp là một quá trình có chủ
định hay không có chủ định, có ý thức hay không có ý thức mà
trong đó các cảm xúc và tư tưởng được diễn đạt trong các thông
điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ. Giao tiếp của con người
diễn ra ở các mức độ khác nhau: trong con người, giữa con người
với con người và công cộng. Giao tiếp của con người là một quá
trình năng động, bất thuận nghịch, tác động qua lại và có tính chất
ngữ cảnh [33].
Trong cuốn “Tâm lí học giao tiếp”, tác giả Nguyễn Văn
Đồng [14] đã đề cập đến các khái niệm giao tiếp của các tác giả
trên thế giới dưới các cách tiếp cận khác nhau: Ở góc độ tiếp cận
nhận thức, L.X.Vưgotxki cho rằng giao tiếp là quá trình chuyển

thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ [42].
Tác giả Vũ Dũng cho rằng giao tiếp là quá trình hình thành
và phát triển sự tiếp xúc giữa người với người được phát sinh từ
nhu cầu trong hoạt động chung, bao gồm sự trao đổi thông tin, xây
dựng chiến lược tương tác thống nhất tri giác và tìm hiểu người
khác [12].
Trong đề tài này, chúng tôi theo quan điểm về giao tiếp của
tác giả Nguyễn Quang Uẩn. Theo quan điểm này giao tiếp là mối
quan hệ giữa người và người, thể hiện sự tiếp xúc tâm lý giữa
người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về
thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua
lại với nhau. Hay nói cách khác, giao tiếp xác lập và vận hành các
quan hệ người - người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ
thể này với chủ thể khác [43].
Hành vi giao tiếp
Thuyết Hành vi cho rằng mọi hành vi giao tiếp - ứng xử của
cá nhân trong xã hội là quá trình tiếp nhận kích thích ngoại giới và
phản ứng đáp lại kích thích của cơ thể. Thuyết Hành vi quan tâm


nhiều hơn tới phương diện ứng xử, tác nhân kích thích của môi
trường quy định tính chất, đặc điểm của hành vi giao tiếp - ứng
xử. Hành vi giao tiếp - ứng xử là một chuỗi phản ứng trước hay
sau những thay đổi của môi trường, điều kiện bên ngoài [24].
Newcomb và Svehla cho rằng hành vi giao tiếp là sự truyền
đạt thông tin từ phần truyền đến phần nhận. Hành vi giao tiếp xảy
ra trong tình huống tác động trực tiếp của các cá nhân, là hành vi
có chủ định, nhằm mục đích hướng đến sự lĩnh hội [20].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Lâm trong cuốn “Khoa học giao
tiếp”, hành vi giao tiếp là một chuỗi hành động được thúc đẩy bởi

Hành vi giao tiếp là những biểu hiện ra bên ngoài trong quá
trình giao tiếp của chủ thể với xung quanh. Thông qua đó, phản
ánh đặc điểm, tính chất, các mối quan hệ trong giao tiếp (mối
quan hệ bạn bè, mối quan hệ làm ăn, mối quan hệ giữa các thành



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status