Tp chớ Khoa hc v Phỏt trin 2009: Tp 7, s 3: 354 - 361 TRNG I HC NễNG NGHIP H NI354
THựC TRạNG NHU CầU Xã HộI Về ĐO TạO NGUồN NHÂN LựC KINH Tế PHáT TRIểN
CủA NƯớC TA HIệN NAY
Social Demand for Human Resource Training on Economics of
Development in Vietnam
Mai Thanh Cỳc, Nguyn Th Minh Thu
Khoa Kinh t & Phỏt trin nụng thụn, Trng i hc Nụng nghip H Ni
TểM TT
Bng phng phỏp tip cn nghiờn cu cú s tham gia, nghiờn cu ó phõn tớch thc trng nhu
cu xó hi v o to ngun nhõn lc kinh t phỏt trin t ba ngun thụng tin: (i) n v s dng
nhõn lc kinh t phỏt trin; (ii) n v o to ngnh kinh t phỏt trin, v (iii) Ngi hc
ngnh/chuyờn ngnh kinh t phỏt trin. Kt qu nghiờn cu ch ra nhu cu o to ngun nhõn lc
kinh t phỏt tri
n l rt ln, trong khi cung o to thiu ht. Ngoi ra, cũn rt nhiu vn bt cp v
cht lng v s phự hp ca sn phm o to ngun nhõn lc kinh t phỏt trin Vit Nam trong
iu kin hin nay.
T khúa: o to ngun nhõn lc, kinh t phỏt trin, ngun nhõn lc, nhu cu xó hi, tip cn
nghiờn cu cú s tham gia.
SUMMARY
Using the participatory research approach, the study has analyzed the situation of social
demands for human resource training in development-economics from three information sources: (i)
Units using human resources of development-economics, (ii) Units training human resources of
development-economics, and (iii) The former students majoring in development-economics. Research
results figure out that there is an excess of the social needs of training on human resources of
development-economics, while there is a lack of training provisions of it. Moreover, there are many
problems relevant to the quality and the suitability of the current training outputs of the development-
economics' human resources in Vietnam.
thực trạng nhu cầu xã hội về đo tạo nguồn
nhân lực kinh tế phát triển của nớc ta theo
các khía cạnh cầu nhân lực, cung nhân lực
v sản phẩm của chơng trình đo tạo kinh
tế phát triển.
2. PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
Phơng pháp tiếp cận có sự tham gia
của các bên có liên quan đợc sử dụng. Cụ
thể, trong nghiên cứu ny, chúng tôi sẽ tiếp
cận đồng thời với 3 nhóm đối tợng: (i) Đơn
vị sử dụng nhân lực kinh tế phát triển để
nghiên cứu "cầu" về nhân lực kinh tế phát
triển, (ii) Đơn vị đo tạo kinh tế phát triển
để nghiên cứu mức độ "cung" nhân lực kinh
tế phát triển, v (iii) Ngời học chuyên
ngnh kinh tế phát triển để nghiên cứu mức
độ đáp ứng về chất lợng đo tạo kinh tế
phát triển.
Về phơng pháp nghiên cứu chung, một
khung phân tích nhu cầu đo tạo đợc thiết
lập trên cơ sở tiếp cận có sự tham gia. Các
điểm nghiên cứu đợc lựa chọn ngẫu nhiên
chủ yếu ở vùng đồng bằng Bắc bộ theo 3
nhóm đối tợng có liên quan nói trên. Cụ
thể: 40 đơn vị sử dụng nhân lực trên cơ sở ba
loại hình sau: Quản lý hnh chính, Sản xuất
kinh doanh, Giáo dục v nghiên cứu; 50 cựu
học viên v sinh viên đợc đo tạo chuyên
ngnh kinh tế phát triển đang lm việc tại
các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp khác
(31,43%) có nhân lực kinh tế phát triển. Nh
vậy, ở các đơn vị sử dụng nói chung chỉ có
0,43 nhân lực kinh tế phát triển/đơn vị. Nếu
tình bình quân cho các đơn vị có sử dụng
nhân lực kinh tế l 0,49 v tơng tự ở các
đơn vị có sử dụng nhân lực kinh tế phát triển
l 1,55.
Bớc đầu có thể kết luận: Về mặt số
lợng, cầu đo tạo nguồn nhân lực cho
ngnh kinh tế phát triển trong thời kỳ hội
nhập quốc tế ở Việt Nam l d thừa. Hay nói
cách khác, chúng ta đang rất thiếu nhiều
nhân lực kinh tế phát triển. Rõ rng ở đây,
nghiên cứu mới chỉ kết luận sơ bộ về sự thiếu
hụt mặt lợng của nguồn nhân lực kinh tế
phát triển. Mặt chất của nguồn nhân lực ny
sẽ đợc khẳng định sau khi nghiên cứu cung
đo tạo nhân lực kinh tế phát triển v
sản
phẩm của chơng trình đo tạo kinh tế phát
triển.
Mai Thanh Cỳc, Nguyn Th Minh Thu
356
Thực tế bất kỳ đơn vị no cũng cần nhân
lực có chuyên môn sâu để đảm nhận một
trong các công việc sau đây: (1) Lập chiến
lợc phát triển/ phát triển kinh tế (PTKT)/
phát triển kinh tế - xã hội (PTKTXH), (2)
Xây dựng kế hoạch/ quy hoạch phát triển
động giảng dạy về kinh tế phát triển, m
ngay cả ở các đơn vị QLHC v đơn vị sản
xuất kinh doanh cũng có hoạt động ny. Đó
chính l hoạt động chuyển giao/ truyền tải
kiến thức, kinh nghiệm, cách lm... trong các
công việc thuộc về chuyên môn kinh tế phát
triển. Chính từ đó cũng phần no thể hiện sự
thiếu hụt về cầu trong chuyên môn kinh tế
phát triển tại các đơn vị sử dụng nhân lực.
ở mức độ RấT CầN, cầu tập trung vo
các công việc: Xây dựng kế hoạch/quy hoạch
phát triển (37,50%); Lập chiến lợc phát
triển/ phát triển kinh tế/ phát triển kinh tế
xã hội (32,50%)...
ở mức độ
KHÔNG CầN, điều ny thay
đổi theo từng loại công việc thuộc về chuyên
môn kinh tế phát triển. Chẳng hạn, Cầu về
Nghiên cứu khoa học về kinh tế/ kinh tế
phát triển tập trung chủ yếu ở các đơn vị GD
& NC, còn các đơn vị QLHC v SXKD l
hon ton không có. Vì thế, có tới 65% các
đơn vị sử dụng nhân lực trả lời không cần
nhân lực kinh tế phát triển cho loại hình
công việc ny.
Bảng 1. Kết quả chung về đánh giá mức độ cần nhân lực kinh tế phát triển hiện tại
của các đơn vị sử dụng nhân lực đợc nghiên cứu
Mc cn
Cỏc nhim v/hot ng
ca ngnh kinh t phỏt trin
n v s dng cỏn b
KTPT
Hình 1. Cơ cấu sử dụng nhân lực kinh tế v kinh tế phát triển
Cầu về nhân lực kinh tế phát triển
không giống nhau giữa các đơn vị. Vì thế,
trong nghiên cứu ny chúng tôi còn đi sâu
đánh giá nhu cầu về nhân lực kinh tế phát
triển ở từng loại hình đơn vị sử dụng (Khối
QLHC, khối SXKD v khối GD & NC) với
mong muốn đa ra những nhận định sát
thực về nhu cầu chung của xã hội.
Ton bộ các đơn vị sử dụng nhân lực
thuộc khối GD & NC đều sử dụng nhân lực
có chuyên môn về kinh tế nói chung. Trong
đó có 50% các đơn vị thuộc khối ny có nhân
lực kinh tế phát triển, song số nhân lực kinh
tế phát triển tính bình quân cho từng đơn vị
trong khối lại rất thấp (1 nhân lực kinh tế
phát triển/đơn vị). Tiếp sau đó l khối SXKD
(92,86% số đơn vị thuộc khối ny có nhân lực
kinh tế chung) v khối QLHC (86,36%). Tỷ lệ
các đơn vị có nhân lực kinh tế phát triển
trong các đơn vị có nhân lực kinh tế ở hai
nhóm ny rất thấp (23,08 - 26,32%) v số
nhân lực kinh tế phát triển/đơn vị có chỉ từ
0,36 - 0,50. Rõ rng ở tất các các loại hình
đơn vị sử dụng nhân lực đều đang bị thiếu
nhân lực kinh tế phát triển ở mức độ trầm
trọng về số lợng.
không quan tâm đến chuyên ngnh cụ thể
khi tuyển dụng l cao nhất (31,82%), nhng
Mai Thanh Cỳc, Nguyn Th Minh Thu
358
tỷ lệ các đơn vị cho rằng họ cần nhân lực
kinh tế phát triển lại thấp nhất (72,73%)
trong cả ba loại hình đơn vị sử dụng nhân
lực. Có thể nói rằng: Nếu các đơn vị sử dụng
nhân lực cng quan tâm sâu đến các chuyên
ngnh cụ thể trong ngnh kinh tế thì họ
cng mong muốn tìm kiếm nhân lực cho phù
hợp với yêu cầu công việc của họ, trong đó có
mong muốn tìm kiếm nhân lực kinh tế phát
triển. Đặc biệt l trong thời kỳ hội nhập kinh
tế quốc tế nh hiện nay thì nhu cầu về nhân
lực kinh tế phát triển lại cng tăng.
Mỗi loại hình đơn vị sử dụng nhân lực có
nhu cầu về nhân lực để đảm đơng các nhóm
công việc l không giống nhau. Trong nghiên
cứu ny, chúng tôi đã hệ thống 10 nhóm
công việc thuộc về chuyên môn kinh tế phát
triển để xem xét cầu nhân lực đối với từng
nhóm công việc ở từng loại hình đơn vị sử
dụng theo chiều hớng no. Các đơn vị thuộc
khối QLHC RấT CầN (có nhu cầu cao) về
nhân lực đảm đơng các công việc sau: Xây
dựng kế hoạch/quy hoạch phát triển
(45,45%), xây dựng chiến lợc phát triển
(36,36%)... Tơng tự ở khối SXKD có nhu cầu
sinh viên tốt nghiệp. Điều ny cho thấy một
sự thiếu hụt trầm trọng về cung đo tạo
nguồn nhân lực kinh tế phát triển ở nớc ta.
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vo số lợng để
kết luận 'cung' nh đã phân tích trên sẽ
không thấy hết đợc bản chất, chất lợng
của 'cung' đo tạo. Vì thế, trong nghiên cứu
'cung' ny chúng tôi tập trung tiếp cận thông
tin từ phía những nhân lực đợc đo tạo
chuyên môn về kinh tế phát triển v những
ngời ny đã v đang lm việc trong các đơn
vị sử dụng nhân lực. Chúng tôi mong muốn
khai thác chính xác những thông tin nhận
định về chất lợng đ
o tạo từ chính họ. Bởi
họ l chính l những ngời đợc tiếp nhận
kiến thức chuyên môn từ chơng trình đo
tạo kinh tế phát triển. Đồng thời, họ cũng
chính l ngời đã v đang áp dụng kiến thức
đó vo thực tiễn công việc đảm nhận. Vì thế,
các nhận định của họ về chơng trình đo
tạo sẽ sát thực v có ý nghĩa thực tiễn.
Nghiên cứu ny tiếp cận bằng email với
50 nhân lực kinh tế phát triển đã đợc đo
tạo bậc đại học tại Đại học Kinh tế quốc
dân, khoá học 1996 - 2000, trong đó 40% có
trình độ thạc sỹ, 60% l cử nhân kinh tế
phát triển, cha có ai đã v đang ở bậc học
tiến sỹ. Trong số nhân lực đang ở trình độ
cử nhân kinh tế phát triển thì có tới 33,33%