B Ộ G IÁ O D Ụ C & Đ À O T Ạ O
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
BỘ Y TẾ
Dược HÀ NỘI
---- ■_*-----
NGUYỄN HUY TUấ N
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CEFAZOLIN
D ự PHÒNG NHIỄM KHU ẩ N t r o n g p h ẫ u
THUẬT LẤY THAI Và u x ơ Tử CUNg
TẠi VIỆN BẢO VỆ BÀ MẸ VÀ TRẺ s ơ SINH
LUẬN VĂN THẠC s ĩ
Dược HỌC
Chuyên n g à n h : Dược lý - Dược lâm sàng
Mã số
:
0 3 .0 2 .0 2
HƯỚNC DẪN KHOA HỌC:
TS. Nguyễn Đức Vy
PG S.TS. H oàng Kim Huyền
C3G
: Cephalosporin thế hệ 3
s
: Mức độ nhạy cảm của vi khuẩn với kháng sinh
R
: Mức độ đề kháng của vi khuẩn với kháng sinh
SPK
: Sản phụ khoa
PTLT
: Phẫu thuật lấy thai
UXTC
: Phẫu thuật cắt tử cung do u xơ
Tiêm IV
: Tiêm tĩnh mạch
Tiêm IM
: Gentamycin
Metr
: Metronidazol
Linco
: Lincomycin
Aug
: Augmetin
Una
: Unasyn
M Ụ C LỤC
Lời cảm ơn
Chữ viết tắt
Mục lục
Trang
1.
Phần 1:
Đặt vấn đề
việc sử dụng kháng sinh dự phòng nhiễm khuẩn sau
phẫu thuật
2.4.
Một số nguyên tắc sử dụng kháng sinh dự phòng nhiễm
8
khuẩn sau phẫu Ihuật
2.5.
Độ nhạy cảm của một số vi khuẩn thường gặp trong
15
ngoại khoa với kháng sinh
2.6.
Một số nghiên cứu sử dụng kháng sinh dự phòng
19
trong phẫu thuật sản phụ khoa
2.8.
Tổng quan về Cefazolin và các kháng sinh sử dụng
25
trong nghiên cứu.
Cách lựa chọn bênh nhân
35
Nơi thực hiện
36
Kiểm tra tiền sử dị ứng kháng sinh
36
Phác đồ sử dụng kháng sinh dự phòng
36
Cách theo dõi và đánh giá kết quả
38
Sử dụng kháng sinh điều trị sau mổ
40
Xử lý sô' liệu
40
Kết quả nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả của sử dụng kháng sinh dự phòng
54
Nhiệt độ cơ Ihể
54
Tinh trạng vết mổ sau phẫu thuật
61
Tỷ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật
64
Theo dõi tác dụng không mong muốn và các tai biến
66
khi sử dụng kháng sinh
Đánh giá tính kinh tế của việc sử dụng Cefazolin so với
67
các kháng sinh khác
Hàn luận
Những khó khăn, thuận lợi của việc chọn mẫu
5.7.
Đánh giá tính kinh tế của việc sử dụng Cefazolin
88
Kết luận và đề xuất
90
Phần 6
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Danh sách bệnh nhân trong nghiên cứu
PHẦN I
ĐẶT VAN ĐỂ
•
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật nói chung, công nghệ
kháng sinh đã có những tiến bộ vượt bậc cung cấp ngày càng nhiều các loại
kháng sinh có tác dụng đặc trị hoặc phổ tác dụng rộng trên nhiều loại vi
khuẩn. Bên cạnh những thành công không thể phủ nhận trong điều trị nhiễm
khuẩn, chúng ta cũng thấy được những vấn đề nảy sinh do nguy cơ thất hại
chống nhiễm khuẩn của kháng sinh ngày một gia tăng. Một trong những
nguy cơ đó là sự kháng kháng sinh. Tinh trạng kháng thuốc của vi khuẩn
phác đồ sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật sản phụ khoa, lừng
bước giải quyết vấn đề sử dụng kháng sinh: An toàn, hợp lý, hiệu quả và
kinh tế.
Để góp phần đánh giá vai trò của việc sử dụng kháng sinh dự phòng
Irong phẫu thuật sản phụ khoa và lựa chọn thêm phác đồ mới áp dụng cho
dự phòng nhiễm khuẩn sau phẫu thuật với chi phí thấp hơn, chúng tôi chọn
đế tài:
" Nghiên cứu sử dụng Cefazolin dự phòng nhiễm khuẩn trong
phẫu thuật lấy thai và u xơ tử cung tại Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh"
với mục tiêu:
1- Đánh giá kết quả việc sử dụng Cefazolin dự phòng nhiễm khuẩn
trong phẫu thuật lấy thai và cắt tử cung do u xơ .
2 - Bước đầu đưa ra những đề nghị sử dụng Cefazolin dự phòng cho
các phẫu thuật Sản và phụ khoa thông thường từ tuyến tỉnh írở lên.
PHẦN 2
TỔNG QUAN
2.1. MỞ ĐẨU
Vấn đề kháng sinh dự phòng nhiễn khuẩn sau phẫu thuật đã được đề
cập đến từ hơn nửa thế kỷ nay kể từ khi bác sĩ Fleming phát hiện ra
Penicillin( 1938) và Domagk phát hiện Sulfamid (1935)[29] nhưng sử dụng
kháng sinh dự phòng như thế nào cho hiệu quả thì cho tới năm 1967 dựa trên
lý thuyết và kết quả thực nghiệm của Miles và Bruke, các phác đồ về kháng
sinh dự phòng mới đựơc đề ra và chứng tỏ được hiệu quả [26]. Theo nghiên
cứu của Miles và Bruke, dùng kháng sinh dự phòng đúng sẽ giảm được 50%
nguy cơ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật [26]; [29J.
Quyết định sử dụng kháng sinh dự phòng dựa trên nhiều nhân tố khác
nhau. Năm 1964 Hội đồng nghiên cứu Quốc gia Mỹ đã đưa ra bậc thang
phân loại đối với phẫu thuật theo khả năng bị nhiễm khuẩn như sau [2],[25]:
tổ chức phẫu thuật bị hoại tử hoặc nhiễm phân....
Đôí với hai loại phẫu thuật dưới thì không thể tránh khỏi sự nhiễm
khuẩn. Đối với hai loại mổ trên, về nguyên tắc có thể đảm bảo tránh được
nhiễm khuẩn.
Trong phẫu thuật Sản phụ khoa, phần lớn các phẫu thuật thuộc loại
thứ hai.
Việc phân loại các phẫu thuật có ý nghĩa trong điều trị, giúp cho việc
lựa chọn phác đồ hợp lý và có thể tiên lượng kết quả điều trị lâm sàng
[2]; [17]; [26].
Tỷ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật đối với từng loại phãu thuật theo
thang phân loại trên có thể được dự đoán trước, tỷ lệ này như sau [13]; [25]:
+ 1% - 2% đối với phẫu thuật sạch
+ 5% -10% đối với phẫu thuật sạch bị nhiễm.
+ 15% - 20% đối với phẫu thuật đã nhiểm khuẩn.
+ Trên 40% đối với phẫu thuật bẩn.
Ngoài ra nguy cơ nhiễm khuẩn còn phụ thuộc vào thời gian nằm viện,
thời gian nằm viện càng dài thì nguy cơ nhiễm khuẩn càng cao ( nhiễm
khuẩn chéo nội viện). Các yếu tố khác như chế độ dinh dưỡng, sử dụng đồng
thời các chất ức chế miễn dịch, tinh trạng của bệnh nhân, kinh nghiệm của
phẫu thuật viên, sự chăm sóc hậu phẫu, thời gian tiến hành phẫu thuật, mổ
cấp cứu hay mổ phiên.... cũng có vai trò nhất định gây ảnh hưởng lớn đến
nguy cơ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật [13];[29].
2.2. YÀI NÉT VỂ PHẪU THUẬT LÂY THAI VÀ PHAU t h u ậ t
CẮT TỬ CUNG DO u x ơ :
2.2.1. Phẫu thuật lấy thai :[18];[19]
+ K hái niệm: Là phãu thuật sản khoa trong đó thai nhi, rau thai được
lấy ra từ đường rạch qua tử cung, thành bụng. PTLT trong trường hợp đẻ
+Metr. Trong đa số trường hợp sử dụng kháng sinh dự phòng, liều kháng
sinh đầu tiên được tiêm ngay khi khởi mê.
2.3. SINH BỆNH HỌC CỦA NHIÊM KHUAN VÊT M ổ VÀ c ơ SỞ
CỦA VIỆC SỬ DỤNG KHÁNG SINH D ự PHÒNG NHIÊM KHUAN
SAU PHẪU THUẬT [ 17]; [13]; [29]; [26]:
Theo Miles và Bruke, theo đường rạch phẫu thuật, tổ chức vô khuẩn sẽ
có nguy cơ nhiễm khuẩn bởi các vi khuẩn xâm nhập từ bên ngoài ở thời
điểm đó. Hệ thống bảo vệ của cơ thể (dịch thể và tế bào), do không được
chuẩn bị trước nên không tức thời phản ứng và có hiệu quả để chống lại sự
xâm nhập của vi khuẩn. Mặt khác tổ chức bị tổn thương là môi trường thuận
lợi cho vi khuẩn phát triển. Khi các yếu tố nhiễm khuẩn lấn át được hệ thống
bảo vệ của cơ thể thì nhiễm khuẩn vết mổ được hình thành.
Khi đóng vết mổ, vi khuẩn được khư trú tại chỗ do sự đông máu cục
bộ trong lòng mạch và cơ chế viêm sớm, nhờ vậy mà vi khuẩn tránh được sự
tấn công của hệ miễn dịch và các tác nhân kháng khuẩn. Điều đó giải thích
tại sao cho kháng sinh sau phẫu thuật ít có hiệu quả hoặc để có hiệu quả cần
một lượng kháng sinh đủ lớn, thời gian sử dụng cần dài ngày hơn.
Phương pháp sử dụng kháng sinh dự phòng nhiễm khuẩn sau phẫu
thuật hợp lý và có khoa học được Miles và Bruke thiết lập năm 1967, cụ thể
cho kháng sinh trước phẫu thuật tại thời điểm thích hợp để kháng sinh thẩm
thấu tới tổ chức đạt đủ nồng độ có hiệu lực kháng khuẩn trong suốt quá trình
phẫu thuật. Như vậy vết thương đã được bảo vệ khỏi sự nhiễm khuẩn trong
khi hệ thống bảo vệ của cơ thể chưa kịp đáp ứng có hiệu quả, thời gian đó
gọi là giai đoạn mẫn cảm (giai đoạn dễ nhiễm khuẩn) [17];[26]. Như vậy dự
phòng nhiễm khuẩn có hiệu quả chỉ khi cho kháng sinh trước mổ tại thời
điểm thích hợp chứ không phải bắt đầu khi đã phẫu thuật và kéo dài nhiều
ngày.
không dùng KS(%)
5,9
2,6
10,2
4,3
6,8
3,2
6,4
3,8
Penicillin +
Streptomycin
Penicillin+
(1953)
Streptomycin
Slevens
Chloramphenicol
sau 3 giờ thì hiệu quả dự phòng nhiễm khuẩn không còn nữa.
Có thể đưa thuốc theo đường tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch, đặt trực tràng
hoặc uống nhưng đường tĩnh mạch được khuyến khích hơn cả.
*
Tiêm tĩnh mạch: Tốt nhất là đưa thuốc sau khởi mê đặc biệt trong
phẫu thuật tim mạch. Tuy nhiên có thể đưa trước thời điểm mổ khoảng nửa
giờ đến một giờ nếu là loại kháng sinh phải truyền tĩnh mạch ngắn.
*
Tiêm bắp: Dễ thực hiện, tương đối an toàn nhưng có nhược điểm là
nồng độ thuốc trong máu sau khi tiêm bắp thường chỉ bằng 1/3 đến 1/2 so
với tiêm tĩnh mạch và thời điểm để thuốc đạt đến nồng độ tối đa cũng chậm
hơn. (Xem bảng 2.2). Nếu đưa thuốc theo đường tiêm bắp thì nên tiêm trước
khi phẫu thuật từ 30 phút đến 1 giờ. [17]; [37]
Bảng 2.2: Sự dao động nồng độ Cefazolin trong huyết tương theo
đường tiêm khác nhau
Nồng độ
5
15
30
54,3
29,3
106,8
73,7
45,6
16,5
Tiêm tĩnh mạch 1g
188,4
135,8
* Đường trực tràng: Có thể đặt trực tràng viên đạn Metronidazol cho
các phẫu thuật vùng chậu và vùng bụng( đại tràng, trực tràng, tử cung,.... ).
Trong điều kiện nước ta, dạng thuốc đạn không phổ biến và bảo quản có khó
khăn nên ít được sử dụng. Nếu có dùng đặt trực tràng thì nên đặt trước phẫu
thuật khoảng 2 giờ.
* Đường uống: Chỉ nên cho uống kháng sinh trong các trường hợp
phẫu thuật theo kế hoạch để sát khuẩn ruột chuẩn bị cho phẫu thuật đường
tiêu hoá, khi đó kháng sinh được uống vào ngày hôm trước. .Trường hợp này
nên chọn loại ít hấp thu như Neomycin. Chỉ nên coi sử dụng theo đường này
là nhằm mục đích hỗ trợ và vẫn dùng kháng sinh tiêm ngay trước khi mổ để
đảm bảo nồng độ kháng sinh trong máu vẫn cao nhất khi rạch dao.
Tóm lại đưa kháng sinh trước phẫu thuật là bắt buộc
Biểu đồ 2.1: Thời điểm đưa thuốc so với thời điểm phẫu thuật và
tỷ lệ nhiễm khuẩn sau phãu thuật
Dù chọn đường đưa thuốc nào thì nguyên tắc chung vẫn là bảo đảm
kháng sinh có nồng độ cao nhất lúc rạch dao. Khi đó hiệu quả kháng sinh sẽ
phát huy tối đa vào lúc khả năng vi khuẩn thâm nhập vào cơ thể cao nhất,
ngăn chặn kịp thời không cho vi khuẩn đến các tổ chức xa vết mổ( tỷ lệ
nhiễm khuẩn bội nhiễm các vùng xa vết mổ cao gấp 4 - 5 lần tại vết mổ, hay
gặp nhất là nhiễm khuẩn thận, phổi..)- Nếu đưa kháng sinh chậm hơn 3 giờ
sau mổ thì hiệu quả dự phòng không còn nữa. Lúc này kháng sinh phải được
sử dụng theo nguyên tắc điều trị, nghĩa là cần dùng liều cao, kéo dài, gây ra
nhiều tác dụng phụ, tốn kém cho bệnh nhân.
Củng cần lưu ý:
Không được đổ kháng sinh trực tiếp vào vết mổ vì như vậy có thể gây
loét do tác dụng kích ứng của thuốc và làm chậm quá trình lên sẹo của vết
mổ. Kháng sinh dùng tại chỗ chỉ nên sử dụng trong phẫu thuật mắt vì kháng
sinh toàn thân thấm rất ít qua dịch nhãn cầu. Trong trường hợp này phải sử
dụng dạng bào chế dành để tra mắt.
2.4.2 Chọn lựa kháng sinh theo loại phẫu thuật
Nên chọn loại phổ rộng, có tác dụng được lên các vi khuẩn gây bệnh
hay gặp nhất trong loại phãu thuật đó do mỗi loại phẫu thuật thường tạo ra
các vết mổ có thể bị nhiễm khuẩn bởi một số loại vi khuẩn khác nhau.
Thông thường các kháng sinh được lựa chọn theo bảng 2.3 dưới đây
Khi lựa chọn kháng sinh cho dự phòng, người ta không chỉ quan tâm
đến phổ tác dụng mà còn cần quan tâm đến các đặc tính dược động học của
thuốc, đặc biệt là thời gian bán thải và khả năng khuyếch tán của chúng đến
các mô.
Dạ dày - Tá
S.aureus. kỵ khí ở miệng
c 1G hoặc C2G, 1g/lần, cách
tràng
E.coli và các vi khuẩn gram(-)
6-8 h/lần, trong 48h
Đại tràng - Trực E. coli và vi khuẩn Gram(-)
C1G hoặcC2G, 1g/lần, kết
tràng
hợpMetronidazol 500mg/lần
Kỵ khí,đặc biệt ỉà B.ữagilis
trong 24h
Ruột thừa
E.coli và các vi khuẩn gram(-)
Metronidazol 500mg hoặc
Kỵ khí, đặc biệt là B.fragilis
S.aureus, s. epidermidis
C1G hoặc C2G, lg/lần, 6h -
Kỵ khí ở miệng
8h/lần ,trong 48h
E.coli và các vi khuẩn gram(-)
Túi mật
S. aureus
C lG h o ặc C2G, lg/lần, 1-2
E.coli và các vi khuẩn gram(-)
liều cách nhau 6h - 8h
Kỵ khí ( nếu có tắc mật)
2.4.3. Độ dài đợt điêu trị phải đúng:
Về nguyên tắc chỉ sử dụng kháng sinh đến khi hết nguy cơ thâm nhập
của vi khuẩn, không kéo dài quá 24 giờ sau mổ
Vì liều đầu tiên được dùng ngay khi khởi mê nên sau khi phẫu thuật
kết thúc chỉ cần dùng từ 1 - 2 liều nữa là đủ. Số lần dùng thuốc tuỳ thuộc vào
loại phẫu thuật, thời gian phẫu thuật, t |/2 của kháng sinh được chọn. Không
toàn phần
tl/2
1 lần
(1/kg)
(mi/min)
(giờ)
500mg
0,76- 0,85
76 ± 16
6 - 8 ,2
Ampicillin
Ig
0,2-0,3
294 ± 58
1 ±0,1
lg
0,12
6 5 -6 9
2 ± 0 ,2
Cefalothin
lg
0,26
472
0,5-0,6
Cefalexin
lg
0,26
250 - 290
0,8
Cefuroxim
Ig
0,22
124
1,7-1,8
Gentamicin
80mg
0,24-0,32
90-120
2,0-2,5
Fluoro-
Perfloxacin
400mg
1,2-1,8
120- 150
10-12
A. Clavulanic
2.5 ĐỘ NHẠY CẢM CỦA MỘT s ố VI KHUAN t h ư ờ n g g ặ p
TRONG NGOẠI KHOA VỚI KHÁNG SINH:
Để nhìn nhận một cách tổng thể về việc sử dụng kháng sinh, sự kháng
kháng sinh, chúng tôi đã tham khảo thêm một vài công trình nghiên cứu về
tình hình kháng kháng sinh của một số vi khuẩn thường gặp ở các cơ sở điều
trị.
2.5.1. Tình hình vi khuẩn kháng thuốc tại các bệnh viện khác
2.5.1.1. Mức độ kháng thuốc của các chủng vi khuẩn gây bệnh ử phía
Bắc Việt Nam năm 2000
Trong năm 2000, chương trình Giám sát quốc gia về tính kháng thuốc
của một số vi khuẩn gây bệnh hay gặp đã thu thập được 2711 chủng vi
khuẩn gây bệnh từ lâm sàng tại một số bệnh viện lớn ở các khu vực khác
nhau ở miền Bắc Việt Nam [3]. Theo báo cáo thì vi khuẩn gram (-) chiếm tới
69,24% chủ yếu là E.coli(23,75%); P.aeruginosa( 13,24%); Enterobacter sp
(6,42%), cầu khuẩn gram (+) chiếm 30,76% ,trong đó tụ cầu vàng S.aureus
vẫn là vi khuẩn đứng hàng thứ hai sau E. coli (chiếm tới 52,04% các trường
hợp nhiễm khuẩn gram (+). Kết quả báo cáo được ghi trong bảng 2.5
2.5.1.2. Tình hình kháng thuốc kháng sinh của các vi khuẩn gây viêm
nhiễm đường sinh dục ở phụ nữ tuổi sinh đẻ
Theo công trình nghiên cứu của PGS. TS. Lê Thị Oanh và các cộng sự
tại bộ môn vi sinh Đại học Y Hà Nội tiến hành nghiên cứu trên 2718 phụ nữ
ở các quận huyện của Hà Nội và các tỉnh phụ cận thì sự kháng kháng sinh
của một số chủng vi khuẩn hay gây nhiễm khuẩn phụ khoa được báo cáo ở
các bảng 2.6 và 2.7 [5J:
-
18,7
-
11,0
Ceftriaxon
55,9
18,9
-
13,9
Ceftazidim
34,4
4,9
-
14,3
Cephalotin
30,0
24,4
56,6
15,5
Ciprofloxacin
30,3
27,5
41,8
13,9
-
73,5
-
12,0
5,6
0
17,9
25,6
56,5
Cephalotin
17,9
17,9
64,2
Ceftriaxon
55
5
40
Gentamicin
94,9
0
5,1
93,7
6,3
0
Gentamicin
90,6
6,3
3,1
Cỉoramphenicol
49,1
0
50,9
Co - trimoxazol
62,5
9,4
28,1
79.32
2
Cefazolin
312
19,23
80,76
3
Cefotaxim
312
13,14
86,85
4
Ceforanid
302
10,92
Tên kháng sinh
Tổng sô chủng
Kháng (%)
Nhạy cảm(%)
1
Ampicillin
281
56,22
43,77
2
Cefazolin
309
18,87
81,12
3
Chloramphenicol
284
54,92
45,09
Một số kháng sinh có sự nhạy cảm với một số chủng vi khuẩn khác,
kết quả được ghi ở bảng 2.10. Trên 80% số chủng vi khuẩn còn nhạy cảm
với các Cephalosporin như Cefbtaxim, Cefazolin, Ceforanid (Bảng 2.10).
Bảng 2.10 : Sự nhạy cảm với kháng sinh của các chủng khác:
S.aureus
Steptococcus
STT
Tên kháng
sinh
Kháng
Nhạy cảin
Kháng
Nhạy cảm
(%)
(%)
Cefotaxirn
16,54
83,45
14,61
85,38
4
Ceforanid
14,08
85,91
12,59
87,40
5
Vancomycin
13,33
86,66
Thông qua tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn, việc lựa chọn
các kháng sinh sử dụng trong mỗi bệnh viện cần được xem xét kỹ hơn cho
phù hợp với từng bệnh viện, mô hình bệnh lật, tỷ lệ các chủng vi khuẩn....vv.
2.6. VÀI NÉT VỂ NGHIÊN c ú u s ử DỤNG KHÁNG SINH D ự
PHÒNG TRONG PHAU t h u ậ t SẢN-PHỤ KHOA:
2.6.1 Một số công trình nghiên cứu trên thế giới:
2.6.1.1. Allen & Coll-1972[24] sử dụng Cefalothin trong nghiên cứu 98
bệnh nhân phẫu thuật cắt tử cung đường bụng với liều lg tiêm tĩnh mạch khi
khởi mê . Tỷ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật 4,1% so với 50% nhiễm khuẩn
nếu không dùng kháng sinh
2.6.1.2. Holman-1978[30] sử đụng Cefazolin dự phòng cho 84 bệnh nhân
phẫu thuật cắt tử cung đường âm đạo do u xơ tử cung với liều 1g tiêm tĩnh
mạch khi khởi mê. Tỷ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật là 5%.
2.6.1.3. Polk-1980 [35] sử dụng Cefazolin dự phòng trong phẫu thuật cắt tử
cung do u xơ trên 86 bệnh nhân với tổng liều 2g chia 2 lẩn, tiêm tĩnh mạch.
Mũi thứ nhất lg khi khởi mê. Sau 8 giờ dùng mũi hai. Tỷ lệ nhiễm khuẩn
sau phẫu là 2%.
2.6.1.4. Mickal-1980[34] sử dụng Cefoxitin trong nghiên cứu dự phòng trên
125 bệnh nhân phẫu thuật cắt bỏ tử cung đường âm đạo với tổng liều 2g chia
2 lần, tiêm tĩnh mạch. Mũi thứ nhất lg khi khởi mê, sau 4 giờ tiêm mũi hai.
Tỷ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật 10,3%2.6.1.5. Giuliani.B; Periti.E; Mecacci.F [28] nghiên cứu trên 1021 bệnh nhân
mổ lấy thai trong đó có 597 bệnh nhân mổ có chuẩn bị, 424 bệnh nhân mổ
cấp cứu và 814 bệnh nhân mổ phụ khoa trong đó có 373 bệnh nhân cắt âm
hộ hoàn toàn, 248 bệnh nhân cắt tử cung, 193 bệnh nhân mổ bóc tách u xơ
tại khoa sản phụ thuộc trường đại học Florence, Italy từ giữa năm 1997 đến
năm 1998. Nhóm nghiên cứu sử dụng lg hoặc 2g Cephalosporin thế hệ I
hoặc II tiêm tĩnh mạch. Với nhóm bệnh nhân phãu thuật phụ khoa, liều đầu