BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TÊ
V " "" ]•
^■
'
T R t ó N G Đ Ạ I H Ọ C DU Ợ C H À N Ộ I
Lê Thị Kim Thanh
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CEFOT AXIM
LÀM KHÁNG SINH D ự PHÒNG NHIễ M KH u ẨN
SAU PHẪU THUẬT SẢN PHỤ KHOA
^ Ề jn h từ ề ễ t ^ h jụ L &ẢJễL "TÔCL n ệ i
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Dược HỌC
Chuyên ngành Dược lâm sàng
Mã số: 60.73.05
Người hướng dẫn: PGS.TS. H oàng Kim Huyền.
Ths. Nguyễn Huy Bạo
f
QMm- \
luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn:
- Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Bộ môn Dược lâm sàng và
các thầy cô giáo trường đại học Dược Hà Nội đã dạy dỗ và giúp đỡ tôi
trong suốt những năm tháng học tập và thực hiện luận văn.
-
Ban giám đốc, cán bộ và nhân viên các khoa phòng Kê hoạch tổng
hợp, khoa Dược, phòng Mổ, khoa A5, A4, A3, A l, dịch vụ và xét nghiệm
của Bệnh viện Phụ sản Hà nội đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình
thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn những người thân trong gia đình cùng
toàn thể bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên và giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Hà Nội, ngày 24 tháng 12 năm 2003.
Lê Thi Kim Thanh.
M Ụ C LỤ C
Số thứ tự
Chương 1
Trang
Đặt vấn đề
1
7
1. 2 .
Tinh hình nghiên cứu kháng sinh dự phòng nhiễm khuẩn
trong phẫu thuật sản phụ khoa.
10
1.2.1
Tình hình nghiên cứu trên thế giới.
10
1.2.2
Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam.
11
1.2.3
Tinh hình sử dụng kháng sinh tại bệnh viện Phụ sản Hà
Nội
12
1.3.
Chọn cỡ mẫu nghiên cứu.
17
2 . 1.2
Kháng sinh trong nghiên cứu.
18
2.2.
2 .2.1
2 . 2.2
2.2.3
2.2.4
2.3.
Phương pháp nghiên cứu
18
18
19
19
Chương 3
T iêu ch u ẩn lựa ch ọ n
C ách lựa ch ọ n
Đ ịa đ iểm và thời g ian thực hiện.
T heo dõi và đ án h giá k ết quả.
3.2.
3.2.1
3.2.2
Đánh giá hiệu quả sử dụng kháng sinh dự phòng của
mẫu nghiên cứu
Mức độ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật
Thời gian điều trị sau phẫu thuật
3 .3
.
40
41
48
Đánh giá tính kinh tế của kháng sinh trong nghiên cứu.
51
3 3 1
Chi phí cho kháng sinh dự phòng.
51
3.3.2
C hi p h í ch o k h án g sinh phải bổ x u n g sau phẫu th u ật
55
4.2.2
Đánh giá theo đặc điểm liên quan đến phẫu thuật.
58
4.3.
Khả năng dự phòng nhiễm khuẩn của Cefotaxim
61
Khả năng diệt vi khuẩn trong phẫu thuật sản phụ khoa
61
4.3.1
Khả năng phân bô'và nồng độ đạt hiệu quả diệt khuẩn.
62
4.4.
Đánh giá hiệu quả dự phòng nhiễm khuẩn của nghiên
cứu.
63
Đánh giá tính an toàn và tiện lợi trong điều trị.
71
4.6.1
Tính an toàn
71
4.6.2
Sự tiện lợi của sử dụng kháng sinh dự phòng.
71
Kết luận và kiến nghị
1.
.2.
68
68
72
Kết luận
72
1.3
15
1.4
Nồng độ trong huyết thanh của 2 kháng sinh dùng trong
nghiên cứu dự phòng nhiễm khuẩn sau phẫu thuật Sản
Phụ khoa tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
^^
Nồng độ đỉnh của Cefotaxim Ig trong huyết
tương/huyết thanh sau tiêm tĩnh mạch và tiêm bắp.
15
^g
Hoạt tính vi khuẩn học của Cefotaxim trên các nhân tố
gây bệnh chủ yếu.
16
ị
Cách sử dụng kháng sinh trong nghiên cứu với 2 phác
đồ riêng cho Sản Phụ khoa.
Tỉ lệ đổi mầu nước ối trong phẫu thuật lấy thai.
30
^^
Phân nhóm theo số lần sinh con thuộc phẫu thuật lấy
thai.
31
Tỉ lệ đối tượng nghiên cứu có tiền sử viêm âm đạo, cổ tử
cung thuộc lô phẫu thuật phụ khoa.
32
So sánh các nhóm nghiên cứu dựa trên các đặc điểm của
đối tượng nghiên cứu thuộc phẫu thuật lấy thai.
34
So sánh các nhóm nghiên cứu dựa trên các đặc điểm của
đối tượng nghiên cứu thuộc phẫu thuật phụ khoa.
34
3.10
Phân loại đối tưọfng nghiên cứu theo loại phẫu thuật:
Phân nhóm đối tượng nghiên cứu theo độ dài phẫu thuật
39
T .
Theo dõi thân nhiệt của sản phụ những ngày sau phẫu
thuật
41
T ^
Theo dõi sự thay đổi thân nhiệt của bệnh nhân sau phẫu
thuật phụ khoa.
42
3.16
Tỉ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật lấy thai
43
3.17
Tỉ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật phụ khoa
45
^ ^
g
5 1
52
Tỉ lệ vi khuẩn thường gặp trong nhiễm khuẩn Sản Phụ
khoa tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
52
So sánh tỉ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật Sản Phụ khoa
có sử dụng kháng sinh dự phòng của một số nghiên cứu
trong và ngoài nước.
55
4 .2
Chi phí về sử dụng kháng sinh dự phòng trong Sản Phụ
khoa tại bệnh viện Phụ sản Trung ương và Phụ sản Ha
Nôi.
7
4.3
40
2
ộ
Biểu diễn tỉ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật lấy thai
44
2
q
Biểu diễn tỉ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật phụ khoa
45
47
ọ
Biểu diễn tỉ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật sản phụ
khoa. _
_
Biểu diễn thời gian điều trị sau phẫu thuật lấy thai
ỊQ
Biểu diễn thời gian điều trị sau phẫu thuật phụ khoa
CHTM
CNTC
ĐTNC
KSDP;
KCYNTK:
Nhóm I:
Nhóm II:
Nhóm III
Đẻ chỉ huy tĩnh mạch.
Chửa ngoài tử cung.
Đối tượng nghiên cứu
Kháng sinh dự phòng.
Không có ý nghĩa thống kê.
Nhóm dùng Claforan của Roussel - Pháp
Nhóm dùng Cefotaxim của XNDPTU 1
Nhóm dùng Zinacef của Glaxo W ellcome
NKSPT
N h iễm k h u ẩn sau P hẫu th u ật
PTSPK
P hẫu th u ật sản phụ k h o a
SPK
Sản ph ụ k h o a
đích dự phòng ngoài việc làm giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật còn góp phần
giảm chi phí điều trị và hạn chế sự kháng thuốc của vi khuẩn. Với ưu thế đó việc sử
dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật được áp dụng rộng rãi và ngày càng tăng
trên thế giới. Mỗi năm tại Pháp và một số nước châu Âu, số sử dụng kháng sinh dự
phòng nhiễm khuẩn chiếm 1/3 trường hợp có điều trị kháng sinh.
Bệnh viện Phụ sản Hà Nội là bệnh viện đầu ngành Sản - Phụ khoa của thành phố
Hà Nội với 250 giường, hàng năm tỉ lệ khám và điều trị so với chỉ tiêu thường vượt từ
30 đến 60%, trong đó phẫu thuật vượt trên 50%. Điều này đã kéo theo sự tăng chi phí
trong đó có kháng sinh. Phấn đấu làm giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật là một
chỉ tiêu quan trọng trong công tác nâng cao chất lượng điều trị. Vì vậy từ năm 1997.
Hội đồng khoa học của Bệnh viện đã tiến hành triển khai nghiên cứu sử dụng kháng
sinh dự phòng nhằm khống chế nhiễm khuẩn sau phẫu thuật và xây dựng các phác đồ
kháng sinh dự phòng để đưa vào phác đồ điều trị chuẩn của Bệnh viện, từng bước giải
quyết vấn đề sử dụng kháng sinh theo phương châm “Hợp lý - An toàn - Hiệu quả Kinh tế” .
Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã nghiên cứu thành công và đưa vào sử dụng rộng
rãi trong lâm sàng hai phác đồ kháng sinh dự phòng (Zinacef 3g và Augmentin 3.6g),
chiếm trên 80% phẫu thuật sản - phụ khoa và sự ưu việt của sử dụng kháng sinh dự
phòng trong phẫu thuật đang được khẳng định tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
Hiện nay do tình trạng sử dụng kháng sinh bất hợp lý và đặc biệt là lạưi dụng kháng
sinh ngày càng gia tăng, tạo ra nhiều chủng vi khuẩn kháng kháng sinh đã làm giảm
hiệu quả phòng chống nhiễn khuẩn của nhiều kháng sinh đặc hiệu. Qua khảo sát tình
hình kháng kháng sinh tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Zinacef và Augmetin là kháng
sinh đang có tỉ lệ kháng kháng sinh tăng cao, trong khi đó Cefotaxim là kháng sinh có
tỉ lệ kháng kháng sinh thấp nhất trong nhóm Cephalosporin đồng thời có giá thành
thấp hcfn. Vì vậy để nâng cao hiệu quả dự phòng nhiễm khuẩn sau phẫu thuật với chi
phí thấp, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
‘‘N ghiên cứu sử dụng Cefotaxim làm kháng sinh dự phòng nhiễm khuẩn sau phẫu
thuật Sản P hụ khoa tại B ệnh viện P hụ sản H à N ộ i”
vết khâu nội tạng) mà có thể xảy ra tại đường hô hấp trên, hậu quả của sự ứ đọng dịch
tiết trong sau quá trình gây mê hoặc nhiễm khuẩn đường tiết niệu có thể xảy ra sau khi
đặt ống thông dẫn lưu nước tiểu. Trong nghiên cứu của mình Childs đã chỉ ra rằng 7080% các trường hợp nhiễm khuẩn đường tiết niệu tại các bệnh viện ở Mỹ là do các
thao tác đặt ống thông dẫn lưu nước tiểu bằng tay. Tác giả cũng chỉ ra rằng việc sử
dụng kháng sinh dự phòng đúng cách có thể làm giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn liên quan đến
phẫu thuật, thậm chí có thể còn 0%.
Mặc dù số lượng người bệnh sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật
ngày càng tăng, hàng năm có tới 30% các trường hợp được điều trị kháng sinh dự
phòng trong phẫu thuật. Tuy nhiên một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng: việc sử dụng
kháng sinh bất hợp lý và đặc biệt việc lạm dụng kháng sinh đang có xu hướng ngày
càng phổ biến và gia tăng, điều này làm tăng chi phí điều trị và nguy hiểm nhất là tạo
ra nhiều chủng vi khuẩn kháng kháng sinh. Vì vậy việc sử dụng kháng sinh dự phòng
không những làm giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật, giảm chi phí điều trị mà còn
giảm tới mức thấp nhất tạo chủng kháng kháng sinh.
Nhiều nghiên cứu đã nhận định rằng: sử dụng kháng sinh dự phòng là phương
pháp ưu việt trong phòng chống nhiễm khuẩn sau phẫu thuật và chỉ đạt hiệu quả cao
khi đảm bảo đủ các yếu tố sau:
-
Môi trường thực hiện phẫu thuật phải đảm bảo vô khuẩn.
-
Loại phẫu thuật đủ điều kiện sử dụng kháng sinh dự phòng.
-
Thuốc kháng sinh phù hợp với loại phẫu thuật.
đến tiết niệu, đường mật, tiêu hoá có nhiễm khuẩn, điều kiện vô khuẩn kém. Tỉ lệ
nhiễm khuẩn thông thường >15%, nếu có kháng sinh giảm 30%, nếu có kháng sinh tỉ lệ nhiễm khuẩn sẽ giảm.
Việc phân loại các phẫu thuật có ý nghĩa trong điều trị, giúp cho việc lựa chọn phác đồ
điều trị hợp lý và có thể tiên lượng được kết quả trên lâm sàng.
1.1.1.2.
Các phẫu thuật Sản Phụ khoa trong nghiên cứu ;
Phần lớn phẫu thuật Sản Phụ khoa thuộc phẫu thuật loại II (Phẫu thuật sạch - nhiễm).
•
Phẫu thuật ìẩy thai: Là những phẫu thuật phải can thiệp khi thai không đẻ theo đường
âm đạo được hoặc là có nguy cơ đe doạ đến tính mạng của người mẹ hay thai nhi.
-
Các chỉ định phẫu thuật lấy thai thực hiện trong nghiên cứu bao gồm:
+ Bất cân xứng giữa thai nhi và khung chậu mẹ.
+ Đẻ chỉ huy tĩnh mạch thất bại, thai suy.
+ Ngôi thai bất thưòỉng, thai to.
+ Mổ cũ, nghiệm pháp lọt thất bại.
+ Các kháng sinh phối hợp là:
Nhóm Betalactam + Aminoglycosid: Ampicilin + Gentamicin
Nhóm Betalactam + dẫn chất 5-Nitro-Imidazol: Ampicilin + Metronidazol Trong
đa số trường hợp kháng sinh dự phòng được sử dụng ngay khi khởi mê.
1.1.2.
Sinh bệnh học của nhiễm khuẩn vết m ổ và cơ sở của phương pháp kháng sinh
dự phòng nhiễm khuẩn sau phẫu thuật:
Theo Miles và Bruke:
Tổ chức vô khuẩn của cơ thể sẽ có nguy cơ nhiễm khuẩn bởi các vi khuẩn xâm
nhập từ bên ngoài vào theo đường mổ tại thời điểm phẫu thuật. Lúc này hệ thống bảo
vệ của cơ thể (dịch thể và tế bào) do chưa được chuẩn bị trước nên không phản ứng tức
thời để chống lại sự xâm nhập này, trong khi đó tổ chức bị tổn thương là môi trường
rất thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn, và khi các yếu tố nhiễm khuẩn lấn át được
hệ thống bảo vệ của cơ thể thì nhiễm khuẩn vết mổ tất yếu xảy ra.
Mặt khác khi đóng vết mổ, vi khuẩn được khu trú tại chỗ do sự đông máu cục bộ
trong lòng mạch và cơ chế viêm sớm, nhờ vậy vi khuẩn tránh được sự tấn công của hệ
miễn dịch và các tác nhân kháng khuẩn, chính điều này làm giảm hiệu lực của kháng
sinh điều trị sau phẫu thuật và để đạt được hiệu quả cần phải có một lượng kháng sinh
đủ lớn cùng thời gian điều trị kéo dài hơn.
Nhận thức được rằng giai đoạn thực hiện phẫu thuật chính là giai đoạn dễ nhiễm
khuẩn nhất và để hạn chế nhiễm khuẩn sau phẫu thuật thì phải đưa được kháng sinh
vào cơ thể trước phẫu thuật ở thời điểm thích hợp chứ không phải khi đã bắt đầu phẫu
thuật và kéo dài nhiều ngày sau đó.
Do vậy, năm 1967 Miles và Bruke đã nghiên cứu và đưa ra phương pháp sử dụng
“kháng sinh dự phòng” bằng cách đưa kháng sinh vào thời điểm thích hợp trước phẫu
thuật để kháng sinh đủ thời gian thẩm thấu tới tổ chức với nồng độ có hiệu lực kháng
khuẩn trong suốt thời gian phẫu thuật, bảo vộ được vết mổ khỏi bị nhiễm khuẩn trong
vào đúng lúc khả năng vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể là cao nhất, kịp thời ngăn chặn
không cho vi khuẩn đến được các tổ chức xa vết mổ. N ếu đưa thuốc vào cơ th ể bằng
đường tiêm tĩnh mạch lúc tiền mê thì tỉ lệ nhiễm khuẩn thấp nhất, nếu đưa trước
phẫu thuật 2 giờ hay sau phẫu thuật 3 giờ thì hiệu quả dự phòng nhiễm khuẩn không
còn nữa, vì vậy đưa kháng sinh trước phẫu thuật là bắt buộc.
+ Tùy theo đặc điểm của từng loại phẫu thuật ta có thể đưa thuốc theo đường tiêm
bắp, uống hoặc đặt trực tràng nhưng tiêm tĩnh mạch vẫn được khuyên khích hơn cả do
nhanh đạt đến nồng độ tối đa và sử dụng thuận lợi trong phẫu thuật [38].
Thời gian điều trị:
+
Chỉ sử dụng kháng sinh đến khi hết nguy cơ thâm nhập của vi khuẩn, không kéo
dài quá 24 giờ sau phẫu thuật. Số lần dùng thuốc phụ thuộc vào loại phâu thuật, thời
gian phẫu thuật, thời gian bán thải của kháng sinh, vì liều đầu tiên dùng khi tiền mê
nên sau phẫu thuật chỉ cần từ 1 đến 2 liều và đa số các trưòfng hợp chỉ cần dùng 1 liều
là đủ.
+
Thời gian điều trị còn phụ thuộc vào thực trạng của vùng phẫu thuật, tình trạng
bệnh nhân, tay nghề phẫu thuật viên, điều kiện vệ sinh vô khuẩn phục vụ cho phẫu
thuật, chăm sóc hậu p h ẫ u ,....
Tính kinh tế:
Chọn thuốc đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn trên và có giá thành thấp nhất.
S ử dụng kháng sinh d ự p h òng ch ỉ hiệu quả khi thực hiện đúng 03 nguyên tắc sau:
Thời điểm đưa thuốc đúng:
Phải đưa kháng sinh trước lúc rạch da và không sớm hcín 2 giờ trước phẫu thuật (thông
G r(-).
trong 48 giờ)
C2G
cách
hoặc
C3G
6giờ-8giờ/lần,
S.aureus, S.epidermidis, Kị khí CIG, C2G, C3G liều duy nhất
Tai-mũi-họng
Túi mật
Dạ dày - Tá tràng
Đại tràng - Trực
ở miệng, E.coli và các vi khuẩn
Ig hoặc Gentamicin l,5mg/kg
G r(-).
và Clindamicin óOOmg.
hợp Metronidazol 0,5g/lần/24
tràng
kết
giờ.
Ruột thừa
E.coli và các vi khuẩn Gr (-).
Metronidazol
0,5g
hoặc
KỊ khí, đặc biệt là B.fragUis.
Ureidopenicillin 4-5g (liều duy
nhất).
E.coli và các vi khuẩn Gr (-),
Sản - Phụ khoa
hoặc
C2G
về việc sử dụng kháng sinh dự phòng nhiễm khuẩn trong phẫu thuật nói chung cũng
như trong phẫu thuật sản phụ khoa nói riêng. Chúng ta hãy điểm qua một số công
trình nghiên cứu đã thành công:
•
Năm 1980 Polk: sử dụng Cefazolin làm kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật với liều
2g tiêm tĩnh mạch chia 2 lần (mũi thứ nhất tiêm khi khởi mê và mũi thứ hai tiêm sau
8 giờ) cho 86 bệnh nhân trong phẫu thuật cắt tử cung do u xơ tử cung, kết quả: tỉ lệ
nhiễm khuẩn sau phẫu thuật là 2% [36].
•
Năm 1980 Mickal cùng cộng sự: sử dụng Cefoxitin làm kháng sinh dự phòng cắt tử
cung đưòỉng âm đạo với liều 2g tiêm tĩnh mạch chia 2 lần (mũi thứ nhất tiêm khi khởi
mê và mũi thứ hai tiêm sau 4 giờ) cho 125 bệnh nhân, kết quả: tỉ lệ nhiễm khuẩn sau
phẫu thuật là 10,3% [34],
•
Năm 1999 nhóm nghiên cứu Giuliani.B, Periti.E và Mecacci.F: sử dụng các kháng
sinh nhóm Cephalosporin thế hệ I hoặc II làm kháng sinh dự phòng với liều 1 hoặc 2g
tiêm tĩnh mạch trên 1021 bệnh nhân phẫu thuật lấy thai và 814 bệnh nhân phẫu thuật
phụ khoa. Kết quả: lô phẫu thuật lấy thai tỉ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật là 1,5% và
lô phẫu thuật phụ khoa tỉ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật là 2,8%, thời gian điều trị
trung bình cả 2 lô là 8 ngày [29].
•
Năm 2000 nhóm nghiên cứu Nhật bản Haynshi.H, Yaginuma.Y, Yamashita.T,
Morizaki.A, Isiya.T, Katou.Y và Ishikawa.M: tiến hành thực nghiêm lâm sàng trên
đưa vào thực hành lâm sàng như sau:
•
Năm 1995, Trần Danh Linh nghiên cứu sử dụng kháng sinh dự phòng là Biclinocillin
tiêm bắp vói 3 liều 1.000.000 đơn vị cho 120 bệnh nhân phẫu thuật sản phụ khoa. Kết
quả: tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ sau phẫu thuật không khác sử dụng kháng sinh điều trị
nhưng sử dụng kháng sinh dự phòng đạt hiệu quả về kinh tế, giảm công phục vụ và
đặc biệt là mang lại sự dễ chịu cho bệnh nhân [20].
•
Năm 1996, Nguyễn Học Hải và Nguyễn Tuyết Mai nghiên cứu sử dụng Unasyn l,5g
(Ampicillin Ig + Sulbactam 0,5g) trong dự phòng nhiễm khuẩn sau phẫu thuật phụ
khoa cho 30 bệnh nhân. Kết quả cho thấy tỉ lệ nhiễm vết mổ khuẩn thành bụng sau
phẫu thuật là 0% và đạt hiệu quả kinh tế cao, đem lại tiện lợi cho bệnh nhân, giảm
công phục vụ của nhân viên y tế so với phác đồ sử dụng kháng sinh điều trị [13].
•
Năm 1997, Bùi Sưofng và Cộng sự nghiên cứu sử dụng Cefuroxim (tổng liều 3g) trong
dự phòng nhiễm khuẩn sau phẫu thuật sản phụ khoa trên 408 bệnh nhân có đối chứng
với 400 bệnh nhân sử dụng kháng sinh điều trị tại bệnh viện Phụ sản Hà nội. Kết quả:
với các phẫu thuật cắt tủ cung và phẫu thuật lấy thai mà có ối vỡ sớm
Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh, so sánh đối chứng với nhóm sử dụng các phác đồ
kháng sinh dự phòng khác hiện đang được thực hiện tại viện.
Kết quả: tỉ lệ bệnh nhân không nhiễm khuẩn đạt 97,37%, không có tình trạng nhiễm
khuẩn vết mổ sau phẫu thuật ở nhóm nghiên cứu, sử dụng an toàn, không có tác dụng
phụ, không có dị ứng thuốc, sử dụng tiện lợi, tiết kiệm chi phí cho người bệnh [26],
1.2.3. Tình hình sử dụng kháng sinh tại bệnh viện Phụ sản H à nội:
•
Giai đoạn trước 1997: Chỉ sử dụng kháng sinh điều trị với một số phác đồ như sau:
-
Phác đồ I: ị3Lactam (Ampicilin, Unasyn, Augmentin) + Aminozid (Gentamicin,
Tobramicin, Amikacin).
-
Phác đồ II: Áp dụng với các trường hợp điều trị như trên nhưng không kết quả
phải điều trị bổ sung thêm:
+ Metronidazol (Tiêm truyền tĩnh mạch)
+ Hoặc một loại kháng sinh nhóm Cephalosporin thế hệ II hoặc III.
13
•
Giai đoạn sau 1997:
Đề tài nghiên cứu dùng Zinacef (Cefuroxime) và đề tài nghiên cứu sử dụng
Augmentin (Amoxilin + axit Clavulanic) làm kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật
Enterobacter.spp
Số
mẫu
T ỉlệ %
kháng
Số
mẫu
T ỉ lệ %
kháng
Ampicillin
287
83,94
111
93,7
Cefalotin
119
48,74
91,7
50
160
29,4
37
50,8
31
67,8
140
56,5
114
53,5
21,27
102
41,2
Tỉ lệ kháng kháng sinh của một s ố vi khuẩn hay gặp trong sản phụ khoa
tại Bệnh viện Phụ sản Hà nội trong 3 năm 1999 - 2001.
E.coli
s. pyogenes
S.saprophyticus
K. pneum onia
Kháng sinh
SỐ
mẫu
Tỉ lệ %
kháng
Số
mẫu
Tỉ lệ %
kháng
Số
mẫu
Tỉ lệ %
kháng
26
23,0
54
25,9
17
64,7
Cefuroxim
45
53,3
33
27,3
38
18,4
17
64,7
37,5
24
62,5
Qua kết quả báo cáo tháng 5 năm 2002 về hoạt động 3.6.3.1 của viện Y học lâm sàng
các bệnh nhiệt đới thuộc chương trình hoạt động giám sát quốc gia về tính kháng
thuốc của vi khuẩn gây bệnh thường gặp về: “Tinh hình kháng kháng sinh của các
loài vi khuẩn gây bệnh ở các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện và tuyến cộng đồng ở Việt
nam từ đầu năm 1999 đến 2001” [5], đồng thời có so sánh với kết quả theo dõi tình
hình vi khuẩn kháng kháng sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà nội từ báo cáo của phòng
xét nghiệm Bệnh viện. Chúng tôi nhận thấy Cefotaxim hiện đang là kháng sinh có tỉ
lệ kháng kháng sinh thấp nhất tại Bệnh viện và đã quyết định chọn Cefotaxim làm
kháng sinh dự phòng trong phác đồ nghiên cứu.
15
1.3.2. M ột sô' thông số dược động học của Cefotaxim:
Bảng 1.4: Nồng độ trong huyết thanh của 2 kháng sinh dùng trong nghiên cứu dự
phòng nhiễm khuẩn sau phẫu thuật sản phụ khoa tại Phụ sản Hà nội.
Tên
Tm
L iề u l
quốc tê
1
0
0
0
2g
205
100
2
0.3
0
0
0,75g
73
37
1
thuốc
TTnh mạch
Tiêm bắp
05 p h ú t
30 p h ú t
6 giờ
08 giờ
101.7
45
1
0
20.5
1
0
16
16
Proteus mirabilis
0.4
Proteus (indole dương tính)
0.3
Pseudomonas aeruginosa
64
Vi khuẩn Gram dươnư:
Staphylococcus aureus
Staphylococcus epidermidis
Streptococcus pyogenes (nhóm A)
2
Streptococcus preum oniae
Streptococcus faecalis
3
3
0.1
0.1
256
(enterococcus).
N=
1 ,9 6 ^ x 0 ,0 2 6 x 0 ,9 7 4
^-------------------
«
243
0 ,0 2 2
Từ số liệu N « 243, chúng tôi dự kiến thực hiện 300 mẫu với mong muốn tăng độ
chuẩn xác của nghiên cứu.
Các mẫu nghiên cứu được sắp xếp như sau;
-
Phẫu thuật lấy thai: 150 sản phụ chia làm 3 nhóm.
+ Nhóm nghiên cứu I (sử dụng Claforan): 50 sản phụ.
+ Nhóm nghiên cứu II (sử dụng Cefotaxim): 50 sản phụ.
+ Nhóm đối chứng (sử dụng Zinacef): 50 sản phụ.
-
Phẫu thuật phụ khoa: 150 người bệnh.
+ Nhóm nghiên cứu I (sử dụng Claforan): 50 người bệnh.
+ Nhóm nghiên cứu II (sử dụng Cefotaxim): 50 người bệnh.
+ Nhóm đối chứng (sử dụng Zinacef): 50 người bệnh.
\