ĐỀ ÁN XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ TỈNH HẬU GIANG - Pdf 54

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
--o0o--

ĐỀ ÁN

XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ
TỈNH HẬU GIANG

Tháng 6/2017

Đề án xây dựng Chính quyền điện tử tỉnh Hậu Giang


ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
--o0o--

ĐỀ ÁN

XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ
TỈNH HẬU GIANG

ĐƠN VỊ LẬP ĐỀ ÁN
SỞ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

ĐƠN VỊ THẨM ĐỊNH
SỞ NỘI VỤ

Hậu Giang, 6/2017

Đề án xây dựng Chính quyền điện tử tỉnh Hậu Giang


1. Các văn bản của Trung ương
2. Các văn bản của tỉnh

11

13

III. Lý do xây dựng Đề án

14

1. Nhằm phát huy hơn nữa kết quả đạt được

14

2. Phát triển ứng dụng CNTT trong thời kỳ hội nhập

14

3. Sự cần thiết phải xây dựng Đề án Chính quyền điện tử
a) Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao

15

15

b) Cần thiết xây dựng Chính quyền điện tử tỉnh Hậu Giang

16


d) Về kinh phí đầu tư.........................................................................................22
e) Về cơ chế, chính sách....................................................................................22
Phần III: NỘI DUNG ĐỀ ÁN

24

I. Mục tiêu và phạm vi Đề án

24

1. Mục tiêu tổng quát
2. Mục tiêu cụ thể

24

24

a) Xây dựng và hoàn thiện hạ tầng CNTT24
b) Ứng dụng rộng rãi CNTT trong hoạt động nội bộ

25

c) Cung cấp thông tin, dịch vụ công trực tuyến 25
d) Đào tạo, tập huấn cho CBCCVC và hướng dẫn, giới thiệu cho người dân sử
dụng và khai thác tiện ích Chính quyền điện tử 26
3. Phạm vi đề án

26

II. Kiến trúc tổng thể Chính quyền điện tử tỉnh Hậu Giang

30

f) Cơ cấu tổ chức và chính sách hỗ trợ

31

g) Trụ sở làm việc

32

i) Cơ sở vật chất trang thiết bị

33

2. Nâng cấp và hoàn thiện hạ tầng CNTT 33
a) Hoàn thiện Trung tâm dữ liệu 33
b) Hoàn thiện đường truyền mạng tốc độ cao, mạng cục bộ
c) Bổ sung, nâng cấp trang thiết bị

34

3. Triển khai phần mềm nền tảng và phần mềm ứng dụng
a) Trang bị phần mềm nền tảng

34

34

34


VI. Giải pháp thực hiện

40

1. Tuyên truyền nâng cao nhận thức
2. Về huy động vốn đầu tư 40
3. Nguồn nhân lực 41

40

36

35

35


4. Cơ chế, chính sách

41

VII. Phân công nhiệm vụ 41
1. Sở Thông tin và Truyền thông 41
2. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh

42

3. Sở Nội vụ 42
4. Sở Tư pháp



44

5. Đánh giá chung về hiệu quả đầu tư theo Đề án
Phụ lục 1

43

45

46

DANH SÁCH CÁC ĐƠN VỊ THUỘC PHẠM VI TRIỂN KHAI
Phụ lục 2

47

THIẾT BỊ TẠI TRUNG TÂM HÀNH CHÍNH CÔNG TỈNH 47
Phụ lục 3

48

THIẾT BỊ TẠI UBND CẤP HUYỆN
Phụ lục 4

48

49

THIẾT BỊ TẠI UBND CẤP XÃ 49

Cải cách hành chính

DVCTT, DVC

Dịch vụ công trực tuyến, Dịch vụ công

NSD

G2B

Người sử dụng: Người dân, doanh nghiệp đối
với dịch vụ công trực tuyến và cán bộ công
chức, viên chức đối với các ứng dụng trong cơ
quan nhà nước
Chính phủ và doanh nghiệp

G2C

Chính phủ và người dân

G2E

Chính phủ và cán bộ công chức, viên chức

G2G

Cơ quan chính phủ và cơ quan chính phủ

ICT




làm giảm tiêu cực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh,
quốc phòng.
Hiện nay, có nhiều định nghĩa về CPĐT. Trong Đề án này, Chính phủ
điện tử được hiểu như hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông tại Công
văn số 1178/BTTTT-THH ngày 21/04/2015: “Chính phủ điện tử là chính phủ
ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông nhằm tăng hiệu quả hoạt động
của các cơ quan chính phủ, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn”.
(Chính phủ điện tử theo mô hình cấp tỉnh hoặc thành phố gọi là Chính quyền
điện tử).
Các dịch vụ của CPĐT cơ bản bao gồm các nhóm dịch vụ:
- G2C: Chính phủ cung cấp thông tin và dịch vụ cho người dân;
- G2B: Chính phủ cung cấp thông tin và dịch vụ cho doanh nghiệp;
- G2G: Cung cấp thông tin và các dịch vụ liên quan giữa các cơ quan
Chính phủ với nhau;
- G2E: Chính phủ cung cấp các thông tin và dịch vụ cho cán bộ, công
chức.
Trong quá trình triển khai CPĐT, đặc biệt tại các nước phát triển, lợi
ích mà CPĐT mang lại được thể hiện rất rõ, thậm chí có thể định lượng
được.

2


Hình 1: Các dịch vụ của CPĐT
Phát triển CPĐT là quá trình lâu dài, liên tục, qua các giai đoạn khác
nhau; cứ qua từng giai đoạn thì tính phức tạp lại tăng thêm, nhưng giá trị mà
nó mang lại cho người dân và doanh nghiệp cũng tăng lên. Việc phân chia các
giai đoạn phát triển CPĐT nhằm xác định mức độ phát triển của CPĐT cũng

và doanh nghiệp (trong G2C và G2B) cũng tăng. Các giao dịch hoàn chỉnh có
thể thực hiện mọi nơi mà không cần đi đến cơ quan hành chính. Giai đoạn 3 là
phức tạp bởi các vấn đề an ninh, chữ ký số xuất hiện là cần thiết để cho phép
thực hiện các dịch vụ một cách hợp pháp trên môi trường Internet. Ở giai
đoạn này, các quy trình trao đổi dữ liệu nội bộ giữa các cơ quan (G2G) phải
được nâng cấp để cung cấp dịch vụ được tốt. Chính quyền cần ban hành
những quy định cụ thể để cho phép thực hiện các giao dịch không sử dụng tài
liệu bằng giấy. Rõ ràng, giai đoạn này chỉ có thể thực hiện được khi đã thực
hiện cải cách hành chính (với cơ chế một cửa điện tử, cơ chế một cửa liên
thông điện tử) theo Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm
2015 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một
cửa, cơ chế một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương.
Giai đoạn 4: Chuyển đổi, giai đoạn này là mục tiêu dài hạn của các cơ
quan Chính phủ. Ngoài việc thực hiện các chức năng trong giai đoạn 3, CPĐT
giai đoạn này cung cấp cho người dân một điểm truy cập duy nhất tới các cơ
quan Chính phủ để thực hiện mọi giao dịch, các hoạt động của cơ quan Chính
phủ là minh bạch với người dân; giai đoạn thứ tư là khi mọi hệ thống thông
tin được tích hợp hoàn toàn, các dịch vụ điện tử không còn bị giới hạn bởi các
ranh giới hành chính. Khi đó, công chúng có thể hưởng các dịch vụ G2C và
G2B tại một bàn giao dịch (điểm giao dịch ảo). Ở giai đoạn này, tiết kiệm chi
phí, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu của tổ chức, công dân đã đạt được các mức
cao.
(Tham khảo nguồn từ Khung kiến trúc Chính phủ điện tử phiên bản 1.0
ngày 21/5/2014 của BTTTT)
2. Xu hướng phát triển Chính phủ điện tử
Chính phủ điện tử hiện nay đã là một khái niệm được nhiều người biết
đến. Nhiều quốc gia đã phát triển Chính phủ điện tử để thực hiện tốt hơn vai
trò của Chính phủ đối với công dân. Trao đổi thông tin, tương tác giữa người
dân và Chính phủ trên môi trường mạng ngày càng hiệu quả, đáp ứng ngày

kiến trúc là Kiến trúc Chính phủ điện tử của quốc gia, Kiến trúc Chính quyền
điện tử của tỉnh.
- Xây dựng Trung tâm hành chính công: là không nhất thiết công dân
phải giao dịch trực tuyến với hệ thống Chính phủ điện tử. Trung tâm hành
chính công và ứng dụng một cửa điện tử sẽ giúp người dân điện tử hóa giao
dịch của mình với cơ quan nhà nước. Người dân sẽ được hưởng thành quả của
Chính phủ điện tử, được giao dịch trong môi trường minh bạch, văn minh mà
không bị áp lực buộc phải làm chủ công nghệ để giao dịch với Chính phủ điện
tử.
- Thu hút nhân lực CNTT, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực
chuyên môn để đáp ứng yêu cầu xây dựng, triển khai và vận hành các ứng
dụng CNTT của hệ thống Chính quyền điện tử. Đầu tư bổ sung, nâng cấp
hoàn thiện hạ tầng CNTT làm cơ sở để triển khai hệ thống ứng dụng của
Chính quyền điện tử. Ngoài nguồn kinh phí, nguồn nhân lực là yếu tố quyết
định đến khả năng triển khai thành công và duy trì hoạt động của hệ thống
5


Chính quyền điện tử. Mặt khác, hệ thống Chính quyền điện tử bản thân nó chỉ
là một hệ thống kỹ thuật, công nghệ, nó chỉ phát huy giá trị khi cán bộ, công
chức thường xuyên khai thác tiện ích phục vụ cái người dân cần, và người dân
cảm nhận được ngày càng cần đến nó.
- Chính quyền điện tử ngày càng phát triển thì vấn đề an toàn, an ninh
thông tin ngày càng quan trọng; thông tin lưu trữ và trao đổi trên mạng càng
có ý nghĩa với cá nhân, tổ chức thì càng thu hút các hoạt động truy cập trái
phép; các giao dịch giữa người dân và nhà nước chỉ có hiệu lực khi nội dung
giao dịch không thể thay đổi trong quá trình thực hiện và xác thực được đối
tượng giao dịch là cơ quan nào, công dân, tổ chức, doanh nghiệp nào (sử dụng
chữ ký số và kết nối an toàn trên Internet). Hạ tầng CNTT đáp ứng yêu cầu an
toàn thông tin và các quy định về an toàn, an ninh thông tin là vấn đề quan

bằng ngân sách Chính phủ dành cho các cơ quan công quyền, các viện nghiên
cứu và các trường học truy cập với mức giá thấp.
Hướng đến việc xây dựng CPĐT phải xây dựng hạ tầng CNTT tốt,
nâng cao hiệu quả và tính minh bạch của hệ thống dịch vụ công, và đặc biệt là
phải hỗ trợ phát triển công dân điện tử. Kinh nghiệm thực tiễn của Hàn Quốc
trong vấn đề này là Chính phủ đã chú trọng đào tạo 10 triệu công dân trên
tổng dân số 48 triệu dân sử dụng thông thạo CNTT với mục đích kích thích
nhu cầu sử dụng công nghệ cao trong công chúng.
b) Singapore
Cũng giống như ở Việt Nam, ở Singapore vào thời gian đầu triển khai,
rất nhiều người nghĩ rằng việc triển khai CPĐT tập trung chính vào việc xây
dựng các cổng điện tử (portal), tự động hóa các quy trình quản lý, cung cấp
dịch vụ công trực tuyến 24/7... Vì vậy, khi bắt tay vào triển khai họ lập tức
tiến hành khảo sát, thu thập thông tin rồi tập trung vào thiết kế, lập trình, trang
bị máy móc thiết bị, đào tạo... Nhưng thật sự, đó là sự nhầm lẫn vì tựu chung
lại đó là các vấn đề kỹ thuật, một thành phần rất nhỏ, thứ yếu của Chính phủ
điện tử.
Ngay sau khi nhận ra sai lầm đó, Chính phủ Singapore khẳng định,
muốn triển khai thành công CPĐT thì trước tiên phải xác định thật rõ mục
tiêu cần phải đạt được, những việc cần làm, các nguồn lực cần huy động, kế
hoạch và lộ trình thực hiện... rồi đặt tất cả trong một tổng thể chung. Nói cách
khác, để xây dựng thành công CPĐT cần thực hiện 05 nguyên tắc sau đây:
- Thứ nhất, CPĐT là cơ chế thực hiện các hoạt động nghiệp vụ của
Chính phủ trên nền công nghệ thông tin và truyền thông. Nói cụ thể hơn là
những quy trình xử lý công việc của các cơ quan quản lý nhà nước nhằm cung
cấp các dịch vụ công đến người dân.
- Thứ 2, CPĐT chỉ có thể thành công khi mục tiêu và tầm nhìn chung
phải được thống nhất từ cấp cao nhất của quốc gia đến cấp thừa hành thấp
nhất. Nói cách khác, nhận thức về CPĐT phải nhất quán, rộng khắp và như
nhau trong toàn bộ bộ máy nhà nước.

họ yêu cầu. Người dân không còn phải đứng xếp hàng hàng giờ bên ngoài trụ
sở của cơ quan Chính phủ để được gặp các quan chức có trách nhiệm và sau
đó phải chờ đợi điện thoại trả lời yêu cầu của mình hàng tuần hay thậm chí
hàng tháng.
- Thống nhất, kết hợp các dịch vụ có liên quan: Thật không thuận tiện
cho các cá nhân và doanh nghiệp khi phải thực hiện nhiều giao dịch riêng lẻ
với Chính phủ để đạt được một mục tiêu duy nhất. Để hạn chế nhược điểm
này, Chính phủ Úc đã áp dụng biện pháp phân các dịch vụ liên quan đến nhau
thành từng nhóm, từ đó các dịch vụ liên quan đến nhau có thể được thực hiện
thông qua một giao dịch duy nhất.
- Tăng cường sự tham gia của công dân vào Chính phủ: Chính phủ
có thể sử dụng Internet để tăng tính minh bạch trong các hoạt động của Chính
phủ và tạo mối quan hệ chặt chẽ hơn với công chúng. Khi mọi người ngày
càng quen với việc tìm kiếm thông tin và sử dụng dịch vụ công trên mạng thì
họ lại càng mong chờ một mối liên hệ ở cấp độ cao hơn với Chính phủ. Điều
này lại càng đem lại nhiều lợi ích cho Chính phủ khi mà công chúng ngày
8


càng quan tâm tới hoạt động của Chính phủ. Tính minh bạch và lòng tin của
công chúng vào Chính phủ ngày càng được củng cố.
3.2 Một số điển hình triển khai Chính quyền điện tử các tỉnh
Trong số các địa phương triển khai tích cực ứng dụng CNTT có một số
đơn vị đã bước đầu xây dựng và hình thành mô hình Chính quyền điện tử cấp
tỉnh, trước tiên có thể kể tới thành phố Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Quảng Ninh
và một số tỉnh khác. Các địa phương này đã chủ động xây dựng và phê duyệt
mô hình Chính quyền điện tử thống nhất trong toàn tỉnh/thành phố nhằm quy
hoạch nhóm các ứng dụng nghiệp vụ cho từng ngành, cũng như nhóm các ứng
dụng, dịch vụ kỹ thuật cơ bản dùng chung cho toàn bộ hệ thống Chính quyền
điện tử, phục vụ kết nối liên thông cho các ứng dụng CNTT trong hoạt động

dụng, trước mắt tập trung vào hệ thống Một cửa điện tử của các sở, quận,
huyện. Nhờ đó, dễ dàng duy trì, nâng cấp, mở rộng và nhanh chóng cung cấp
thông tin về tình trạng xử lý, giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính cho người
dân, doanh nghiệp trên phạm vi toàn thành phố.
Với quan điểm triển khai đến đâu hiệu quả đến đó, thành phố Hồ Chí
Minh đang tiếp tục thí điểm và mở rộng triển khai ứng dụng công nghệ thông
tin "Loang" theo kiến trúc thông tin để hướng tới phục vụ tốt hơn cho người
dân và doanh nghiệp. Bằng cách này, giúp thành phố định hình lộ trình xây
dựng từ hạ tầng, nguồn nhân lực, cơ chế chính sách và từng bước hoàn thiện
hệ thống ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước.
- Bên cạnh đó, Quảng Ninh cũng là một địa phương chủ động xây dựng
Chính quyền điện tử với quyết tâm chính trị cao, thông qua “Đề án xây dựng
Chính quyền điện tử tỉnh Quảng Ninh” với các vấn đề nổi bật đó là:
+ Tầm nhìn chiến lược, quyết tâm thay đổi mô hình xử lý; phá tan rào
cản lợi ích cục bộ; quyết tâm đầu tư tập trung; Ban Chỉ đạo Cải cách hành
chính do Chủ tịch UBND tỉnh trực tiếp chỉ đạo; trên ủng hộ dưới đồng thuận,
dân hưởng lợi.
+ Trong Đề án xây dựng Chính quyền điện tử thành phố Quảng Ninh,
công việc trọng tâm nổi bật là: Triển khai mô hình Trung tâm Hành chính
công và xác định đây là 01 trong 03 khâu đột phá chiến lược, có tác động đặc
biệt quan trọng đến việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Qua hai năm, Quảng Ninh đưa Trung tâm vào hoạt động, báo cáo hoạt
động 2015 của Trung tâm cho thấy: Tỉnh Quảng Ninh chuẩn hóa và đưa
Trung tâm giải quyết 96% TTHC, các thủ tục đưa vào đã được rà soát cắt
giảm 40% lượng thời gian giải quyết so với thời gian quy định của pháp luật.
Hiện nay, việc giải quyết hồ sơ và trả kết quả đúng hạn tại Trung tâm tỉnh là
99,5 % (trong đó, trước hẹn đạt tỷ lệ từ 40% trở lên); Trung tâm cấp huyện là
98,9%. Trong tổng số thủ tục đưa vào Trung tâm giải quyết có 50% giải quyết
theo hình thức trực tuyến mức 3 – 4, số còn lại giải quyết theo hình thức trực
tiếp; tổ chức, công dân đến giao dịch tại Trung tâm mỗi năm khoảng 75.000

Trung ương về tăng cường công tác đảm bảo an toàn thông tin mạng;
- Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 17 tháng 6 năm 2014 của Thủ tướng
Chính phủ về tăng cường công tác đảm bảo an ninh và an toàn thông tin mạng
trong tình hình mới;
- Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01 tháng 7 năm 2014 của Bộ Chính trị
về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát
triển bền vững và hội nhập quốc tế;
- Quyết định số 26-QĐ/TW ngày 01 tháng 10 năm 2014 của Ban Chấp
hành Trung ương về việc ban hành Chương trình ứng dụng công nghệ thông
tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước giai đoạn 2015 – 2020;
- Quyết định số 80/2014/QĐ-TTg ngày 30 tháng 12 năm 2014 của Thủ
tướng Chính phủ Quy định thí điểm về thuê dịch vụ công nghệ thông tin trong
cơ quan nhà nước;
11


- Nghị quyết số 26/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ
ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin
đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế;
- Văn bản số 1178/BTTTT-THH ngày 21 tháng 4 năm 2015 của Bộ
Thông tin và Truyền thông về việc ban hành Khung kiến trúc Chính phủ điện
tử Việt Nam, phiên bản 1.0;
- Quyết định số 714/QĐ-TTg ngày 22 tháng 5 năm 2015 của Thủ tướng
Chính phủ ban hành Danh mục cơ sở dữ liệu quốc gia cần ưu tiên triển khai
tạo nền tảng Chính phủ điện tử;
- Văn bản số 2634/BTTTT-THH ngày 17 tháng 8 năm 2015 của Bộ
Thông tin và Truyền thông về hướng dẫn xây dựng kế hoạch ứng dụng công
nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016-2020;
- Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ

- Chương trình số 02/CTr-UBND ngày 06 tháng 01 năm 2016 của
UBND tỉnh Hậu Giang ban hành Chương trình cải cách hành chính, xây dựng
hệ thống chính quyền và phòng chống tham nhũng, lãng phí giai đoạn 2016 2020;
- Kế hoạch số 51/KH-UBND ngày 9 tháng 6 năm 2016 của UBND tỉnh
về Cải cách hành chính tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2016 – 2020.

III. Lý do xây dựng Đề án
1. Nhằm phát huy hơn nữa kết quả đạt được
Trong những năm qua, việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền
thông của tỉnh Hậu Giang đã có bước phát triển khá, góp phần nâng cao hiệu
quả trong quản lý nhà nước và phát triển kinh tế xã hội. Ứng dụng CNTT
trong hoạt động của các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển
biến tích cực; việc xử lý văn bản trên môi trường mạng ngày càng phát huy
hiệu quả.
Hiện nay, hầu hết các sở, ngành, UBND cấp huyện đều ứng dụng cổng
Quản lý văn bản của tỉnh rất hiệu quả trong xử lý văn bản và liên thông văn
bản với Văn phòng Chính phủ. Tuy nhiên, hệ thống này cần phải được triển
khai đến các UBND cấp xã, phòng ban của UBND cấp huyện và sở, ngành
(kể cả ngành dọc của Trung ương trên địa bàn tỉnh) để phát huy hơn nữa tính
hiệu quả trong công tác quản lý điều hành ở cả 3 cấp chính quyền.
Hơn nữa, phần mềm Một cửa điện tử của tỉnh đã được triển khai khá
hiệu quả tại Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả của các sở, ngành, UBND cấp
huyện và 76 UBND xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, phần mềm này chưa có

13


tính năng liên thông 3 cấp nên chưa thể tiếp nhận giải quyết TTHC theo cơ
chế Một cửa liên thông điện tử.
Ngoài ra, tỉnh cũng đã bắt đầu ứng dụng phần mềm Quản lý cán bộ,

UBND các tỉnh, thành phố:
“Bố trí đủ ngân sách cho xây dựng Chính quyền điện tử; thực hiện kết
nối liên thông phần mềm quản lý văn bản tất cả các sở, ngành, đơn vị cấp
huyện, cấp xã hoàn thành trước ngày 01/01/2017; thực hiện cung cấp dịch vụ
14


công qua mạng điện tử theo hướng dẫn của các bộ, ngành liên quan và tích
hợp lên Cổng thông tin điện tử Quốc gia”.
3. Sự cần thiết phải xây dựng Đề án Chính quyền điện tử
a) Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao
Theo Nghị quyết số 36a/NQ-CP, có 05 nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ,
Ngành Trung ương và các tỉnh thành địa phương thực hiện, gồm:
- “Triển khai các giải pháp để nâng cao cả ba nhóm chỉ số về dịch vụ
công trực tuyến (OSI), hạ tầng viễn thông (TII) và nguồn nhân lực (HCI) theo
phương pháp đánh giá Chính phủ điện tử của LHQ.
- Xây dựng hệ thống điện tử thông suốt, kết nối và liên thông văn bản
điện tử, dữ liệu điện tử từ Chính phủ đến cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Tạo lập
môi trường điện tử để người dân giám sát và đóng góp cho hoạt động của
chính quyền các cấp.
- Thiết lập Cổng dịch vụ công Quốc gia tại một địa chỉ duy nhất trên
mạng điện tử (Một cửa điện tử Quốc gia) trên cơ sở hình thành từ các hệ
thống thông tin về: Thủ tục hành chính, dân cư, đất đai - xây dựng và doanh
nghiệp để cấp phép, thực hiện các thủ tục liên quan đến người dân, doanh
nghiệp.
- Ứng dụng CNTT gắn kết chặt chẽ với công cuộc cải cách hành chính
và các nhiệm vụ, giải pháp về nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện môi
trường kinh doanh; triển khai thực hiện ứng dụng CNTT kết hợp với Hệ thống
quản lý chất lượng ISO (ISO điện tử).
- Nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng viễn thông, bảo đảm chất lượng

I. Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin
1. Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật
Hiện nay, có 80% số CBCCVC được trang bị máy tính để làm việc;
100% sở, ngành, UBND cấp huyện, cấp xã trên địa bàn tỉnh đều có mạng
LAN có kết nối Internet. Tỉnh có hệ thống Hội nghị truyền hình trực tuyến
đến các UBND cấp huyện; 100% sở, ngành, UBND cấp huyện có cổng/trang
thông tin điện tử. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các ứng dụng
CNTT thông qua môi trường mạng.
16


Trung tâm dữ liệu của tỉnh đã được đầu tư với hệ thống sao lưu dự
phòng SAN, công nghệ ảo hóa VMware, có trang thiết bị bảo mật ở mức cơ
bản. Tuy nhiên, các máy chủ hiện đang hết tài nguyên (RAM và dung lượng ổ
đĩa cứng), một số thiết bị cũ, lỗi thời. Hệ thống thư điện tử hoạt động không
ổn định (chậm và thường xuyên không gửi/nhận được). Hạ tầng phục vụ
không đảm bảo, an toàn như UPS, một số ổ đĩa cứng đã bị hỏng,...Do đó cần
phải nâng cấp, khắc phục, mở rộng để đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình
hình hiện tại và giai đoạn tiếp theo.
- Sơ đồ hệ thống Trung tâm dữ liệu hiện tại:

- Sơ đồ hệ thống Trung tâm dữ liệu sẽ xây dựng mới:

17


2. Đánh giá hạ tầng kỹ thuật về sự phù hợp với Chính quyền điện
tử
Nhìn chung, hạ tầng kỹ thuật CNTT đã đáp ứng được phần nào nhu cầu
hiện tại để triển khai các ứng dụng CNTT nhưng chỉ đạt được mức độ hoàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status