Chính sách xây dựng chính quyền điện tử từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN CÔNG THANH AN

CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN
ĐIỆN TỬ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HA NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN CÔNG THANH AN

CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN
ĐIỆN TỬ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành

: Chính sách công

Mã số

: 60.34.04.02


Tác giả luận văn

Nguyễn Công Thanh An


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ VÀ
CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ Ở ĐỊA PHƯƠNG ... 9
1.1. Khái niệm về Chính phủ điện tử và Chính sách xây dựng Chính quyền điện tử
ở địa phương .......................................................................................................... 9
1.2. Vấn đề Chính sách xây dựng Chính phủ điện tử và Chính quyền điện tử ở địa
phương ................................................................................................................. 13
1.3. Mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách xây dựng Chính quyền điện tử ở
địa phương ........................................................................................................... 19
1.4. Chủ thể chính sách chính sách xây dựng Chính quyền điện tử ..................... 23
1.5. Thể chế chính sách của CPĐT và Chính sách xây dựng Chính quyền điện tử ở
địa phương ............................................................................................................ 24
1.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách xây dựng CPĐT và CQĐT ở địa
phương ................................................................................................................. 26
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG
CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ........................... 33
2.1. Tổng quan tình hình phát triển chính phủ điện tử ở Việt Nam ...................... 33
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách xây dựng CQĐT tại thành phố Đà
Nẵng ................................................................................................................... 45
2.3. Đánh giá chung thực trạng Chính sách xây dựng CQĐT thành phố Đà Nẵng .56
2.4. Đánh giá thực trạng Chính quyền điện tử thành phố Đà Nẵng theo mô hình
phát triển CPĐT Gartner ...................................................................................... 64
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG
CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ..... 67

Chính quyền điện tử

CQNN

Cơ quan nhà nước

CBCCVC

Cán bộ, công chức, viên chức

CNTT

Công nghệ thông tin

CPĐT

Chính phủ điện tử

CSDL

Cơ sở dữ liệu

CBCC

Cán bộ, công chức

CCHC

Cải cách hành chính


G2E-Government to Employees

Trao đổi giữa cơ quan nhà nước với
doanh nghiệp
Trao đổi giữa cơ quan nhà nước với
người dân
Trao đổi giữa cơ quan nhà nước và cán
bộ, công chức, viên chức.

HTTT

Hệ thống thông tin

HĐND

Hội đồng nhân dân

LGSP-Local Government Service Platform

Nền tảng tích hợp, chia sẻ cấp Bộ, tỉnh


Từ viết tắt
Logistics

Giải thích
Lĩnh vực tối ưu hóa dịch vụ vận
chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến
tay người tiêu dùng



Vốn hỗ trợ phát triển chính thức

OEC - Organization for Economic
Cooperation and Development
Over The Top-OTT

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
Giải pháp cung cấp nội dung cho người
sử dụng dựa trên nền tảng Internet

PDA-Personal Digital Assistant

Thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân

BTS-Base Transceiver Station

Trạm thu phát sóng di động

TTHC

Thủ tục hành chính

UNPAN-United Nations Public

Mạng trực tuyến về hành chính công và

Administration Network

tài chính của Liên Hợp Quốc


41

của Việt Nam từ 2009 đến 2013

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu

Tên hình

hình

Trang

1.1.

Các giai đoạn của CPĐT theo mô hình của Gartner

16

2.1.

Tỷ lệ máy tính/Cán bộ nhân viên

34

2.2.

Tỷ lệ triển khai hệ thống một cửa điện tử địa phương


Kiến trúc tổng thể CQĐT thành phố Đà Nẵng

54


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 cùng với quá trình toàn cầu hóa đang
tác động mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện đến mọi mặt trong đời sống chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội trên toàn thế giới, đang tạo ra cơ hội cho những biến đổi cơ bản
và những thành công to lớn. Nhiều nước trên thế giới đã nắm bắt được cơ hội ứng
dụng CNTT&TT, phát huy thế mạnh, tăng cường năng lực kinh tế xã hội tạo ra
những biến đổi vượt bậc đưa đất nước tiến mạnh lên phía trước. Một trong những
ứng dụng mạnh mẽ và thành công của CNTT&TT là Chính phủ điện tử.
“Chính phủ điện tử là Chính phủ ứng dụng công nghệ thông tin và truyền
thông để hoạt động hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân tốt hơn”.
Chính phủ điện tử ứng dụng CNTT&TT, cùng với quá trình đổi mới tổ chức,
phương thức quản lý, quy trình điều hành, làm cho chính phủ hoạt động hiệu lực,
hiệu quả hơn, minh bạch hơn, phục vụ nhân dân tốt hơn và phát huy dân chủ mạnh
mẽ hơn. Chính phủ điện tử đang trở thành mô hình phổ biến đối với nhiều quốc gia,
cung cấp dịch vụ, thông tin trực tuyến cho mọi người dân, doanh nghiệp một cách
nhanh chóng, tiết kiệm, thuận lợi hơn ở khắp mọi nơi, mọi lúc.
Nhận thức được vai trò và xu thế phát triển tất yếu của Chính phủ điện tử,
Đảng và Chính phủ Việt Nam đang thực hiện mạnh mẽ Chương trình cải cách hành
chính giai đoạn 2010-2020, hiện đại hóa cơ quan Chính phủ, triển khai thực hiện
các quá trình tin học hóa, nâng cao chất lượng dịch vụ, xây dựng một Chính phủ
thực sự của dân, do dân và vì dân với năng lực cạnh tranh và hội nhập ngày càng
cao, từng bước xóa bỏ quan liêu, tham nhũng, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy
phát triển kinh tế-xã hội.

ngày 03/01/2015 của Chính phủ, trong đó, chỉ đạo Bộ Thông tin và Truyền thông
“trên cơ sở thành công của mô hình thí điểm Chính quyền điện tử tại Đà Nẵng, tổ
chức nhân rộng ra các địa phương và Bộ, cơ quan trong cả nước”.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác xây dựng, phát triển Chính
quyền điện tử thành phố còn gặp một số tồn tại và hạn chế. Quy trình thủ tục hành
chính của các cơ quan quản lý nhà nước thành phố Đà Nẵng chịu ảnh hưởng bởi các
quy trình, quy phạm được thống nhất theo quy định chung của cả nước. Do đó, vẫn

2


tồn tại những vướng mắc mang tính lịch sử trong các quy định về hành chính, gây
cản trở công tác ứng dụng CNTT-TT trong cải cách hành chính. Tuy đã hình thành
nền tảng ứng dụng Chính quyền điện tử thành phố Đà Nẵng, nhưng một trong
những khiếm khuyết là hệ thống này chưa thể kết nối với các hệ thống ứng dụng
CNTT ngành dọc do các bộ, ngành Trung ương triển khai trong các lĩnh vực như
Thuế, Hải quan, Bảo hiểm xã hội, Kế hoạch đầu tư, Tài nguyên môi trường,…. Đây
là những lĩnh vực có giao dịch thường xuyên với người dân và doanh nghiệp, có tác
động hết sức quan trọng đến sự nhìn nhận, mức độ hài lòng của người dân và doanh
nghiệp đối với bộ máy hành chính nhà nước. Việc hình thành quá nhiều cơ sở dữ
liệu độc lập của các sở, ban, ngành, các quận huyện gây khó khăn trọng việc quy
hoạch, tổ chức và quản lý dữ liệu tập trung, chưa có một chế tài quy định việc các
cơ quan phải theo một quy chuẩn về kiến trúc kỹ thuật khi thực hiện mô hình Chính
quyền điện tử; Việc đảm bảo an ninh mạng cho Hệ thống Chính quyền điện tử thành
phố chưa được hoàn thiện, chưa có nhiều chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực an toàn,
an ninh thông tin; Công tác kiểm tra, giám sát đánh giá chất lượng của Hệ thống
Chính quyền điện tử thành phố chưa có tính hệ thống.
Để có một nhìn nhận tổng quát toàn bộ Chính sách phát triển Chính phủ điện
tử ở Việt Nam và quá trình triển khai thực hiện Chính quyền điện tử ở thành phố Đà
Nẵng từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện công tác xây dựng Chính quyền điện

chức chính phủ và các cơ quan chính phủ. Mô hình tập trung vào các giao dịch giữa
các đối tượng trên và cải thiện các mối quan hệ này.
Đề tài mới dừng lại ở mức độ nghiên cứu chứ chưa thể xây dựng được một hệ
thống hoàn chỉnh.
- Tập bài giảng Học phần Chính phủ điện tử, Khoa Thương mại điện tử
Trường Đại học Thương mại Hà Nội.
Tập bài giảng đã đề cập khá toàn diện các vấn đề lý luận về CPĐT (Các vấn
đề lý luận chung về CPĐT, Ứng dụng CPĐT trong lĩnh vực quản lý nhà nước, cung
cấp dịch vụ công, mua sắm chính phủ, vấn đề dân chủ và một số vấn đề khác của
CPĐT, chiến lược triển khai CPĐT).
2.2. Các công trình ngoài nước
Trên thế giới đã có không ít các công trình, của các tổ chức và cá nhân, nghiên
cứu về CPĐT. Sau đây là một số công trình trong số đó:

4


- Arib-Veikko Anttiroiko (2008), Electronic Government: Concepts,
methodologies, tools and applications, Information Science Reference, Hershey,
NewYork.
- Kuno Schedler, Lukas Summermatter, Bernhard Schmidt (2004), Managing
the Electronic Government: From Vision to Practice, Information Age Publishing.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận về CPĐT, kinh nghiệm của một số
quốc gia thành công trong ứng dụng CPĐT cũng như của một số địa phương. Phân
tích xu hướng phát triển CPĐT ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam, đánh giá
thực trạng CQĐT ở thành phố Đà Nẵng nhằm đưa ra những giải pháp hoàn thiện
chính sách xây dựng CQĐT ở thành phố Đà Nẵng. Tiến tới cải tiến quy trình làm
việc của các cơ quan hành chính thành phố Đà Nẵng thông qua nền hành chính điện

trên các nghiên cứu về quy trình làm việc của các cơ quan hành chính để làm nền
tảng cho việc đề ra các nhiệm vụ, mục tiêu và giải pháp hoàn thiện chính sách xây
dựng CQĐT ở địa phương.
- Thể chế chính sách với các cơ sở pháp lý được cụ thể hóa đảm bảo sự công
bằng cho tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình phát triển CPĐT và CQĐT ở địa
phương.
- Người dân và doanh nghiệp điện tử là những yếu tố tác động đến quá trình
hoàn thiện chính sách xây dựng CQĐT ở địa phương.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và phương
pháp nghiên cứu chính sách công. Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về
chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách
công có sự tham gia của các chủ thể chính sách. Lý thuyết chính sách công được soi
sáng qua thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách
chuyên ngành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: phương sử dụng dựa trên việc thu
thập các văn bản liên quan đến chủ trương và chính sách phát triển về CPĐT ở Việt
Nam. Các văn bản do UBND thành phố Đà Nẵng ban hành trong quá trình xây
dựng hình thành nên khung kiến trúc CQĐT thành phố Đà Nẵng. Đây là những văn
bản làm cơ sở cho việc đánh giá tình hình phát triển xây dựng CQĐT ở thành phố

6


Đà Nẵng, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện chính sách xây dựng CQĐT từ thực
tiễn thành phố Đà Nẵng.
- Phương pháp chuyên gia là phương pháp sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên



Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển CPĐT và CQĐT địa
phương.
Chương 2: Thực trạng phát triển CQĐT tại thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Các đề xuất và giải pháp hoàn thiện chính sách xây dựng CQĐT từ
thực tiễn thành phố Đà Nẵng.

8


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ
VÀ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ
Ở ĐỊA PHƯƠNG
1.1. Khái niệm về Chính phủ điện tử và Chính sách xây dựng Chính
quyền điện tử ở địa phương
Chính sách công được định nghĩa như sau: “Chính sách công là một tập hợp
các quyết định có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu, giải
pháp và công cụ chính sách thực hiện giải quyết các vấn đề chính sách theo mục
tiêu tổng kết đã xác định” [14, tr.5].
Bản chất chính sách công là thái độ chính trị của Đảng cầm quyền, là sự thể
chế hóa các định hướng phát triển đất nước được định ra trong các Nghị quyết của
Đảng và do các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước ban hành. Hiến pháp Việt
nam khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và xã hội.
Đảng vạch ra cương lĩnh, chiến lược, các định hướng mục tiêu chính sách, đó chính
là căn cứ chỉ đạo để Nhà nước ban hành các chính sách cụ thể hóa đường lối chủ
trương đó và tổ chức thực hiện vào mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội với
mục đích cao nhất là sự phát triển đất nước mang lại lợi ích cho toàn thể nhân dân
với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, công bằng dân chủ và văn minh”.

bản phải bao gồm các nội dung sau:
- CPĐT là tên gọi của một chính phủ mà đặc trưng cơ bản nhất, nổi bật nhất
là cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan chính phủ nói riêng, của nhà nước
nói chung được “điện tử hóa“. Từ “chính phủ“ được hiểu là các cơ quan thực thi
công quyền ở nhiều cấp từ thấp đến cao, bao gồm cả phường-xã, quận-huyện, tỉnhthành phố, các sở, ban, ngành…cho tới cấp Chính phủ.
- CPĐT không đơn thuần là máy tính, mạng internet, mà là sự đổi mới toàn
diện các quan hệ (đặc biệt là các quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước với
công dân), các nguồn lực, các quy trình, phương thức hoạt động và bản thân nội
dung các hoạt động của chính phủ và ngay cả các quan niệm về các hoạt động đó.
- CPĐT là công nghệ tiên tiến và hữu hiệu nhất để thực hiện khái niệm “một

10


cửa’’ trong quản lý hành chính. CPĐT hiện diện như một Website của chính quyền
nhưng cấu trúc của nó được thiết kế để bộ máy quản lý nhà nước có thể cung cấp
các dịch vụ công theo nhu cầu của người dân và doanh nghiệp. Người sử dụng
không cần phải biết cơ quan nào, ở cấp nào sẽ cung cấp thông tin hay giải quyết yêu
cầu của mình.
Đó là nội dung bản chất của khái niệm CPĐT, khi nói đến CPĐT, trước hết
cần phải xét đến hai góc độ: Tình hình sử dụng Internet và CNTT&TT trong cơ
quan chính phủ; thứ hai, trong nghĩa rộng hơn đó là vai trò của các cơ quan chính
phủ trong lĩnh vực CNTT&TT phải được thống nhất.
CPĐT: Sự chuyển đổi từ trọng tâm ban, ngành → chính phủ → công dân, mô
hình lấy công dân làm trọng tâm. CPĐT không phải là mô hình tổ chức thay thế
chính phủ truyền thống, không phải là mục đích mà là phương tiện để giúp chính
phủ truyền thống hoạt động hiệu quả hơn, minh bạch hơn và hướng về nhân dân
nhiều hơn.
Chính phủ truyền thống hoạt động trên cơ sở lấy sở ban ngành làm trọng
tâm. Trên thực tế các sở, ban, ngành có thể kết nối với nhau để chia sẻ thông tin,

Xuất phát từ những quan điểm trên có thể hiểu khái niệm CPĐT như sau:
CPĐT là sự ứng dụng CNTT và truyền thông để các cơ quan chính phủ đổi mới,
làm việc hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn, cung cấp thông tin, dịch vụ công tốt
hơn cho người dân doanh nghiệp và các tổ chức; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi
hơn cho người dân thực hiện quyền dân chủ của mình trong việc tham gia quản lý
nhà nước.
Khái niệm “Chính phủ điện tử ” ngày càng được chấp nhận một cách rộng rãi
tại Việt Nam và trên thế giới. Đó là thước đo về sự đổi mới quản lý Nhà nước, thể
hiện sự vững mạnh của nền kinh tế của mỗi quốc gia.
Nhận thức được vai trò và xu thế phát triển tất yếu của CPĐT, trong thời gian
qua Đảng và Nhà nước đã và đang thực hiện mạnh mẽ chủ trương ứng dụng CNTT
nhằm cải cách hành chính, hiện đại hóa cơ quan Chính phủ, xây dựng một Chính
phủ hiệu lực, hiệu quả hơn, thực sự của dân, do dân và vì dân, nâng cao năng lực
cạnh tranh, tạo môi trường thuận lợi phát triển kinh tế-xã hội. Nhiều chương trình,
kế hoạch, đề án, dự án CNTT được triển khai rộng khắp trong CQNN các cấp, bước

12


đầu đạt được những kết quả quan trọng, tạo nền tảng phát triển CPĐT trong các giai
đoạn tiếp theo.
Trên cơ sở phân tích các đặc điểm của CSC, khái niệm CPĐT, chúng ta có
thể nhận thấy Chính sách xây dựng Chính quyền điện tử ở địa phương được hiểu
là”Chính sách xây dựng Chính quyền điện tử là một tập hợp các quyết định có liên
quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ để xây
dựng Chính quyền điện tử hướng tới một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, minh
bạch, cung cấp thông tin tốt cho người dân, tổ chức và doanh nghiệp“ [14, tr5]
1.2. Vấn đề Chính sách xây dựng Chính phủ điện tử và Chính quyền
điện tử ở địa phương
1.2.1. Các cấp độ triển khai chính phủ điện tử

mẽ vượt qua ranh giới các cơ quan, trung ương với địa phương, giữa các khu vực
(cơ quan chính phủ, tổ chức tư nhân, tổ chức phi chính phủ và cá nhân). Thông tin
và các dịch vụ được cung cấp một cách thích ứng theo từng nhu cầu riêng biệt của
khách hàng, phát huy tối đa cơ chế một cửa trên cổng giao tiếp điện tử của cơ quan
Chính phủ, tạo nên mối quan hệ gần gũi và hiệu quả giữa cơ quan chính phủ và
khách hàng.
Xây dựng CPĐT là một quá trình hình xoắn ốc mở rộng dần, trong đó 4 mức
độ trên gắn kết với nhau, tác động lên nhau và bổ sung lẫn nhau chứ không phải
tuần tự, xong mức độ này mới triển khai mức độ tiếp theo. Việc chuyển đổi CPĐT
không chỉ đơn thuần là chuyển đổi công nghệ mà là sự chuyển đổi mạnh mẽ về thiết
kế, vận hành và văn hóa của lĩnh vực công nhằm đáp ứng tốt hơn những yêu cầu
khách hàng và xu hướng của xã hội thông tin.
1.2.2. CPĐT ở trung ương và CQĐT ở địa phương
CPĐT trung ương là ứng dụng CNTT&TT để đổi mới, làm việc có hiệu lực,
hiệu quả và minh bạch hơn: cung cấp thông tin, dịch vụ tốt hơn cho chính quyền địa
phương, người dân, doanh nghiệp và các tổ chức. Giúp hoàn thành tốt hơn chức
năng nhiệm vụ của chính phủ trung ương.
CQĐT địa phương là ứng dụng CNTT&TT để đổi mới, làm việc có hiệu lực,
hiệu quả và minh bạch hơn, cung cấp thông tin, dịch vụ tốt hơn tới người dân,
doanh nghiệp và các tổ chức. Đảm bảo hoàn thành tốt hơn chức năng nhiệm vụ của
chính quyền địa phương.

14


1.2.3. Nội dung phát triển chính phủ điện tử và Chính quyền điện tử ở địa
phương
Việc phát triển Chính phủ điện tử tập trung vào các dịch vụ mà CPĐT cung
cấp, nói tới dịch vụ CPĐT là nói tới dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác
của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường

chính.
Việc phát triển CPĐT trải qua một số giai đoạn khác nhau. Cứ qua từng giai
đoạn (thực hiện và duy trì) thì tính phức tạp lại tăng thêm, nhưng giá trị mà nó
mang lại cho người dân và doanh nghiệp cũng tăng lên (trong đó có phần tăng cho
Chính phủ qua việc có thể có thêm nguồn gián thu hay trực thu).
Một mô hình CPĐT đã được sử dụng rộng rãi do hãng tư vấn và nghiên cứu
Gartner1 xây dựng nên, chỉ ra bốn giai đoạn (hay thời kỳ) của quá trình phát triển
CPĐT.

Hình 1.1. Các giai đoạn của CPĐT theo mô hình của Gartner
Giai đoạn 1- Thông tin:
Cung cấp thông tin sử dụng CNTT&TT để tăng khả năng tiếp cận thông tin
của chính phủ.
Đây là cấp độ khởi đầu của triển khai CPĐT. Ở cấp độ này chính phủ sử
dụng CNTT&TT đưa các thông tin của chính phủ lên mạng:
- Các luật và văn bản dưới luật
Gartner là công ty nghiên cứu và tư vấn về CNTT hàng đầu thế giới được thành lập năm 1979, Trụ sở chính
đặt tại Stamford, Connecticut , Hoa Kỳ. Gartner hiện có 1.435 nhà nghiên cứu, chuyên gia tư vấn và khách
hàng tại 85 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới; tổ chức hơn 60 sự kiện lớn trên phạm vi toàn cầu.
1

16


- Các chính sách báo cáo và các văn kiện khác
- Các câu hỏi, trả lời thường gặp
- Các biểu mẫu
Giúp cho người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các thông tin của
chính phủ mà không cần phải trực tiếp tới các cơ quan quản lý nhà nước/các cơ
quan chính phủ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status