VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ MINH HOÀ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 60.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN KHẮC BÌNH
HÀ NỘI, năm 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sỹ Chính sách công “Thực hiện Chính
sách giáo dục phổ thông từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” là công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Lê Minh Hoà
CNH, HĐH
: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CSVC-KT
: Cơ sở vật chất – kỹ thuật
CBQL
: Cán bộ quản lý
GDPT
: Giáo dục phổ thông
GDTX
: Giáo dục thường xuyên
GD&ĐT
: Giáo dục và Đào tạo
KT- XH
: Kinh tế - xã hội.
QLNN
Tên bảng
Trang
2.1.
Kết quả cụ thể của bậc THCS trong 2 năm học 2010 và 2015
35
2.2.
Kết quả cụ thể của THPT trong 2 năm học 2010- 2016
36
bảng
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách giáo dục và đào tạo luôn đóng vai trò quan trọng trong việc
hoạch định chính sách công ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Trong hệ thống giáo
dục quốc dân của Việt Nam, Giáo dục phổ thông (GDPT) được nhìn nhận như một
bậc giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt, là nền tảng của toàn bộ hệ thống, nó đặt
những cơ sở ban đầu rất quan trọng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của
các lứa tuổi nhi đồng, thiếu niên và thanh niên, giúp học sinh phát triển toàn diện về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thành nhân
cách.
nguồn nhân lực chất lượng cao.
Sự phát triển KT- XH và quá trình đô thị hoá của thành phố Đà Nẵng trong
những năm qua đã có những tác động tích cực, tạo ra nguồn lực để xây dựng và hoàn
thiện các chính sách, cơ chế về giáo dục và đào tạo, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện
chương trình và chất lượng giáo dục, thực hiện nghiêm túc Luật Giáo dục. Để đạt
được mục tiêu đó, Uỷ ban nhân dân (UBND) thành phố đã ban hành Quyết định
2159/QĐ-UBND, ngày 31/03/2010 về Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành giáo
dục và đào tạo thành phố Đà Nẵng đến năm 2020, tạo hành lang cho việc hoạch định
cũng như tổ chức thực hiện tốt chính sách giáo dục đào tạo phổ thông trên địa bàn
thành phố.
Để chính sách GDPT đem lại hiệu quả trong thời gian đến, việc tìm hiểu vấn
đề thực hiện chính sách GDPT, các nguyên nhân, các giải pháp chính sách GDPT
hiện nay luôn được quan tâm và đây cũng là nội dung nghiên cứu của đề tài này.Tuy
nhiên, hiệu quả của một chính sách công, chính sách GDPT ở nước ta phải được đánh
giá khách quan, toàn diện trên cơ sở khoa học về chính sách công và tiếp tục hoàn
thiện, phát triển chính sách giáo dục nói chung và chính sách GDPT nói riêng phù
hợp với thực tiễn. Chính sách GDPT ở nước ta có được thể hiện đầy đủ các công
đoạn trong quy trình chính sách hay không? Chính sách GDPT được tổ chức thực
hiện ở các địa phương có đem lại hiệu quả như thiết kế ban đầu hay không?, là những
vấn đề, câu hỏi cần được nghiên cứu, giải đáp ở Trung ương và các địa phương trong
đó có thành phố Đà nẵng. Thành phố Đà Nẵng cũng là một trong những tỉnh, thành
2
đang thực thi chính sách GDPT theo chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đem lại
những kết quả khả quan, tuy nhiên việc triển khai thực hiện chính sách GDPT vẫn
còn nhiều bất cập, các cơ quan chuyên môn vẫn chưa được tiếp cận với lý thuyết của
một quy trình chính sách công, do đó hiệu quả trong thực thi chính sách công nói
chung, chính sách GDPT nói riêng chưa cao.
Để đánh giá đúng thực trạng GDPT và việc thực hiện chính sách GDPT, và
phân tích về trình độ chuyên môn thấp và năng lực hạn chế của đội ngũ cán bộ,
công chức, viên chức giáo dục là một trong những nguyên nhân làm cho việc thực
thi chính sách giáo dục đạt hiệu quả thấp; làm ảnh hưởng đến công cuộc phát triển
giáo dục ở các địa phương cũng như tác động không tốt đến sự nghiệp phát triển
giáo dục của nước ta trong giai đoạn hiện nay (Báo cáo Khoa học tại Hội thảo về
Đào tạo sau đại học chuyên Quản lý giáo dục tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
tháng 5 năm 2015).
Nghiên cứu về Thực hiện chính sách xã hội hóa trong giáo dục của tác giả
Trần Khánh Đức, Tạp chí Giáo dục số 5 năm 2012 đã đề cập đến những thành tựu
và bất cập trong việc thực hiện chính sách xã hội hóa trong GDPT ở nước ta trong
thời kỳ hội nhập.
Một số bài viết nghiên cứu về GDPT: “Một số cơ hội để đánh giá thực trạng
giáo dục phổ thông” của Hồ Thiệu Tùng đăng trên báo tuổi trẻ ngày 10/02/2003;
“Phát huy việc tự học trong trường phổ thông trung học” của tác giả Nguyễn Cảnh
Toàn đăng trên báo Giáo dục và Thời đại ngày 10/02/2003; “Chất lượng giáo dục
phổ thông – một vấn đề cấp bách” của tác giả Nguyễn Cảnh Toàn đăng trên báo
Văn nghệ ngày 11/10/2003; “Chạy trường” làm chất lượng giáo dục đi xuống của
tác giả Nguyễn Lân Dũng (Tạp chí Văn nghệ Quân đội, ngày 12/9/2009)… đưa ra
những phân tích nhận định về GDPT những năm đổi mới đất nước.
Nhận định về những thành tựu và hạn chế của giáo dục và đào tạo Việt Nam
trong những năm thực hiện đổi mới, chỉ ra nguyên nhân và đưa ra những kiến nghị,
để giáo dục nói chung và GDPT nói riêng thực sự trở thành “quốc sách hàng đầu”
là những vấn đề được đề cập đến trong các bài viết: “Đổi mới có tính cách mạng
nền giáo dục và đào tạo của nước nhà” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; “Cải cách
giáo dục từ khâu đột phát nào?” của tác giả Nguyễn Ngọc Lanh; “Để giáo dục và
đào tạo thực sự trở thành quốc sách hàng đầu” của tác giả Phạm Ngọc Minh;
4
“Ngành giáo dục - đào tạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và triển
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp tổ chức thực hiện chính sách GDPT trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách GDPT từ năm 2010 đến nay trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
- Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, luận văn vận dụng cách
tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và luận văn triệt để vận dụng phương pháp
nghiên cứu chính sách công. Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu
trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công
có sự tham gia của các chủ thể chính sách. Lý thuyết chính sách công được soi sáng
qua thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên
ngành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, được sử dụng để thu
thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài
nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà
nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo
cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên
quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách GDPT ở nước ta nói chung và
thực tế thành phố Đà Nẵng nói riêng. Đồng thời, thu thập các tài liệu của các tổ
chức và học giả quốc tế liên quan đến đề tài trong thời gian qua.
Thu tập, tìm hiểu và vận dụng các lý thuyết của ngành chính sách xã hội liên
quan đến vấn đề chính sách GDPT.
Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu là phương pháp được dùng khá
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách GDPT ở thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách GDPT tại thành phố
Đà Nẵng.
7
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
1.1. Tổ chức thực hiện chính sách giáo dục phổ thông
1.1.1. Khái niệm tổ chức thực hiện chính sách giáo dục và đào tạo, tổ chức
thực hiện chính sách giáo dục phổ thông
Thực hiện chính sách giáo dục là một khâu quan trọng trong chu trình chính
sách công. Trong thực tiễn có nhiều loại chính sách khác nhau, xuất phát từ tầm quan
trọng của giáo dục và đào tạo, chính sách GDPT là một trong những chính sách quan
trọng. Chính sách giáo dục và đào tạo nhằm phát triển giáo dục và đào tạo với tư cách
là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực phát triển xã hội và có tác động mạnh mẽ
đến sự phát triển của mỗi quốc gia.
Theo Từ điển Bách khoa: Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có
mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao
động sản xuất, nó được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội
những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người. Đây là một hiện tượng xã hội
đặc trưng của xã hội loài người. Giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài người, trở
thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi
giai đoạn phát triển của xã hội. Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất
mở rộng sức lao động xã hội, một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã
hội phát triển về mọi mặt. Giáo dục mang tính lịch sử cụ thể, tính chất, mục đích,
nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục biến đổi theo các giai đoạn
phát triển của xã hội, theo các chế độ chính trị - kinh tế của xã hội.
thì việc thực thi chính sách GDPT sẽ đạt kết quả tốt.
1.1.2. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục
Cơ cấu tổ chức: (Xem Phụ lục 1).
1.1.3. Chức năng quản lý nhà nước (QLNN) về giáo dục cấp tỉnh, thành
phố
Theo Nghị định 115/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ quy định
trách nhiệm QLNN về giáo dục:
1.1.3.1. Trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục của UBND cấp tỉnh:
UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm trước Chính phủ về phát triển giáo dục, thực hiện
9
chức năng QLNN về giáo dục trên địa bàn tỉnh:
Xây dựng và trình hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định quy hoạch, kế hoạch,
chương trình, dự án, chính sách phát triển giáo dục trên địa bàn; chỉ đạo, hướng dẫn,
kiểm tra và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, chính sách
phát triển giáo dục sau khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật
về giáo dục; ban hành các chính sách của địa phương để phát triển giáo dục trên địa
bàn.
Bảo đảm chất lượng giáo dục mầm non, GDPT, giáo dục thường xuyên và
giáo dục trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) do địa phương quản lý; giám sát việc
bảo đảm chất lượng giáo dục của các cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học và trung cấp
chuyên nghiệp khác theo quy định của pháp luật; chỉ đạo và tổ chức thực hiện phổ
cập giáo dục, chống mù chữ và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn.
Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo
theo định kỳ và hàng năm về tổ chức và hoạt động giáo dục trên địa bàn tỉnh với Bộ
Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT).
Quản lý các cơ sở giáo dục
- Quản lý hành chính theo lãnh thổ các trường đại học, cao đẳng trực thuộc các
biên chế công chức cho cơ quan Sở GD&ĐT .
Quản lý, kiểm tra việc sử dụng ngân sách nhà nước chi cho giáo dục theo quy
định của Luật Ngân sách nhà nước và phân cấp quản lý ngân sách hiện hành; việc
thu, chi học phí, lệ phí và các khoản thu hợp pháp khác đối với các cơ sở giáo dục
thuộc trách nhiệm quản lý của UBND cấp tỉnh; huy động các nguồn lực cho giáo
dục, xã hội hóa giáo dục để phát triển giáo dục trên địa bàn tỉnh.
Chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà
nước và các chính sách của địa phương để bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm của các cơ sở giáo dục.
Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các cơ sở giáo dục trong việc tổ chức thực hiện
việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục.
Chỉ đạo và thực hiện công tác hợp tác quốc tế về giáo dục.
Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện phong trào thi đua; quyết định khen
thưởng các tổ chức, cá nhân có nhiều công lao đối với sự phát triển giáo dục trên
địa bàn.
11
Chỉ đạo việc kiểm tra việc tuân thủ pháp luật về giáo dục trong việc bảo đảm
các điều kiện về thành lập trường, hoạt động giáo dục, mở ngành đào tạo; công khai
chất lượng giáo dục, công khai các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục; việc đào
tạo gắn với nhu cầu xã hội theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT đối với các cơ sở giáo
dục đại học được quy định tại điểm a khoản 5 Điều 6 Nghị định này.
Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác cải cách hành chính, công
tác thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí; thanh tra, kiểm tra, giải
quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị và xử lý vi phạm về giáo dục theo quy định của
pháp luật.
QLNN các cơ sở dịch vụ tư vấn, đưa người đi du học tự túc theo quy định của
pháp luật.
1.1.3.2. Trách nhiệm của Sở Giáo dục và Đào tạo: Sở GD&ĐT có trách nhiệm
hiện, kiểm tra, thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng, luân chuyển, biệt phái, đào tạo,
đào tạo lại, bồi dưỡng, thực hiện chính sách đối với nhà giáo và CBQL giáo dục
trên địa bàn tỉnh.
Quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, luân chuyển, cách chức,
giáng chức người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu, công nhận hội đồng trường
các cơ sở giáo dục trực thuộc; công nhận, không công nhận hội đồng quản trị, chủ
tịch hội đồng quản trị, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các cơ sở giáo dục ngoài công
lập thuộc quyền quản lý, bao gồm cả các trường cao đẳng tư thục đóng trên địa bàn
tỉnh.
Chủ trì xây dựng để cụ thể hóa các tiêu chuẩn, định mức kinh phí giáo dục tại
địa phương; lập dự toán ngân sách giáo dục đối với các cơ sở giáo dục trực thuộc sở;
quyết định phân bổ, giao dự toán ngân sách được giao cho giáo dục đối với các cơ sở
giáo dục trực thuộc sở sau khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; phối hợp với Sở
Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư xác định, cân đối ngân sách nhà nước chi cho giáo
dục hàng năm của địa phương, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; hướng dẫn, kiểm
tra, giám sát việc sử dụng ngân sách nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác cho
giáo dục trên địa bàn tỉnh.
Hướng dẫn, tổ chức thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục, huy động các nguồn
lực để phát triển giáo dục; ban hành các quy định để bảo đảm quyền tự chủ, nghĩa vụ
tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục trực thuộc; quản lý tài chính, tài sản, cơ sở
vật chất được giao theo quy định của pháp luật.
13
Giúp UBND cấp tỉnh thực hiện kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật về
giáo dục trong việc bảo đảm các điều kiện thành lập trường, hoạt động giáo dục, mở
ngành đào tạo, công khai chất lượng giáo dục, công khai điều kiện bảo đảm chất
lượng giáo dục, việc đào tạo gắn với nhu cầu xã hội đối với các cơ sở giáo dục đại
học được quy định tại điểm a khoản 5 Điều 6 Nghị định này.
Thực hiện cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng,
được mọi người chấp hành thực hiện. Việc điều chỉnh kế hoạch cũng do cấp có
thẩm quyền thông qua kế hoạch quyết định.
1.2.2. Phổ biến, tuyên truyền chính sách
Sau khi kế hoạch tổ chức thực thi chính sách giáo dục được thông qua, Sở
GD&ĐT tiến hành tổ chức triển khai thực hiện theo kế hoạch. Việc trước tiên cần
làm trong quá trình này là tuyên truyền vận động CBQL nhà trường, giáo viên, học
sinh và nhân dân tham gia thực hiện chính sách. Đây là một hoạt động quan trọng,
có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách. Phổ biến,
tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân
tham gia thực thi hiểu rõ mục đích, yêu cầu của chính sách GDPT; về tính đúng đắn
của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khải thi của chính
sách… để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của Nhà nước về giáo dục.
Đồng thời còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận
thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để
chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu
chính sách giáo dục và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện
chính sách giáo dục được giao.
Việc làm này cần được tăng cường đầu tư về trình độ chuyên môn, phẩm chất
chính trị, về trang thiết bị kỹ thuật… nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền vận
động. Trong thực tế có không ít cơ quan, địa phương do thiếu năng lực tuyên
truyền, vận động đã làm cho chính sách giáo dục bị biến dạng, làm cho lòng tin của
dân chúng vào Nhà nước bị giảm sút.
Việc phổ biến, tuyên truyền cần phải được thực hiện thường xuyên, bằng
nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng tiếp nhận; gián
tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng… Ví dụ: Tuyên truyền về vận động trẻ
em 6 tuổi đến tuổi vào lớp 1.
15
16
1.2.5. Điều chỉnh chính sách
Chính sách GDPT trong quá trình thực thi do tác động của nhiều yếu tố sẽ bộc
lộ sự bất cập. Điều chỉnh chính sách GDPT là một hoạt động cần thiết diễn ra
thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực thi chính sách GDPT. Nó được thực hiện
bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cho chính sách ngày càng phù hợp với yêu
cầu quản lý và tình hình thực tế. Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách
thì được quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế, việc điều chỉnh
các biện pháp, cơ chế chính sách diễn ra rất linh hoạt, vì thế Sở GD&ĐT chủ động
điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách để thực hiện có hiệu quả chính sách, miễn
là không làm thay đổi mục tiêu của chính sách giáo dục.
Một nguyên tắc cần phải chấp hành khi điều chỉnh chính sách là: để chính
sách tiếp tục tồn tại. Chỉ được điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu,
hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế. Nếu điều chỉnh làm thay
đổi mục tiêu, nghĩa là làm thay đổi chính sách thì coi như chính sách không tồn tại.
Hoạt động điều chỉnh chính sách đòi hỏi phải chính xác, hợp lý, nếu không sẽ
làm sai lệch, biến dạng chính sách, làm cho chính sách trở nên kém hiệu quả, thậm
chí không tồn tại được. Muốn vậy, Sở GD&ĐT phải thường xuyên theo dõi, kiểm
tra, đôn đốc thực thi mới kịp thời phát hiện những sai sót để kịp thời điều chỉnh, bổ
sung.
1.2.6. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
Thực thi chính sách GDPT diễn ra trên địa bàn rộng và do nhiều cơ quan, tổ
chức, các nhân tham gia. Các điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và môi
trường ở các vùng, miền, địa phương không giống nhau, cũng như trình độ, năng
lực tổ chức điều hành của cán bộ, công chức trong và ngoài ngành giáo dục, không
đồng đều, do vậy Sở GD&ĐT phải tiến hành theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực
thi chính sách giáo dục. Qua đó, các mục tiêu và biện pháp của chính sách lại được
khẳng định để nhắc nhở mỗi cán bộ, công chức, giáo viên, học sinh, mỗi đối tượng
thi chính sách giáo dục.
Đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi chính
sách giáo dục ở cấp thành phố là Sở GD&ĐT (cơ quan tham mưu QLNN về giáo dục
được UBND thành phố giao). Ngoài ra còn xem xét cả vai trò, chức năng của các tổ
chức chính trị, chính trị - xã hội và xã hội trong việc tham gia thực thi chính sách. Cơ
sở để đánh giá tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách giáo dục là kế
18
hoạch được giao và những nội quy, quy chế được xây dựng. Đồng thời còn kết hợp sử
dụng các văn bản liên tịch giữa cơ quan nhà nước với các tổ chức xã hội và các văn bản
quy phạm khác để xem xét tình hình phối hợp chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách
của các tổ chức chính trị và xã hội với Nhà nước. Bên cạnh đó còn xem xét đánh giá
việc thực thi của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách bao gồm: CBQL Sở
GD&ĐT, các bộ công chức, viên chức, CBQL nhà trường, giáo viên, học sinh và các
đối tượng khác thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách GDPT. Thước đo
đánh giá kết quả thực thi của các đối tượng này là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu
chính sách GDPT và ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách GDPT trong
từng điều kiện về không gian và thời gian.
1.3. Ý nghĩa, tầm quan trọng của tổ chức thực hiện giáo dục phổ thông
Thực thi chính sách công là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đối với việc thành
công hay thất bại của một chính sách. Hoạt động này mang lại những ý nghĩa to lớn:
tổ chức thực thi chính sách là giai đoạn biến ý đồ chính sách thành hiện thực; tổ chức
thực thi chính sách để từng bước thực hiện mục tiêu chính sách và mục tiêu chung;
thực thi chính sách là để khẳng định tính đúng đắn của chính sách; qua thực thi giúp
cho chính sách ngày càng hoàn chỉnh.
Giáo dục phổ thông giành cho lứa tuổi từ 6 đến 18 tuổi, cấp học này cung cấp
những kiến thức phổ thông, cơ bản ban đầu giúp tuổi trẻ có thể tiếp tục học nghề
hoặc học lên và cũng có thể đi vào cuộc sống tự nuôi sống mình và cống hiến cho
như thành phố Đà Nẵng…
1.4. Những yêu cầu cơ bản đối với tổ chức thực hiện chính sách giáo dục
phổ thông
1.4.1. Yêu cầu thực hiện mục tiêu
Mục tiêu chính sách GDPT phải được thực hiện cụ thể, rõ ràng, chính xác.
Đây là yêu cầu quan trọng đầu tiên để thu hút mọi hoạt động thực thi chính sách
GDPT theo một định hướng. Thực thi chính sách GDPT là những hoạt động cụ thể
của các cơ quan quản lý nhà nước và các đối tượng chính sách nhằm đạt những
mục tiêu trực tiếp. Ứng với mỗi mục tiêu trực tiếp này là những chương trình, dự
án cụ thể. Kết quả thực thi chính sách GDPT theo quá trình hoạt động trong từng
thời kỳ được lượng hóa bằng những thước đo cụ thể. Tổng hợp kết quả thực hiện
mục tiêu của các chương trình, dự án và các hoạt động thực thi khác thành mục
20