VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ NGA
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC
TỪ THỰC TIỄN QUẬN TÂY HỒ, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG
Hà Nội – 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ NGA
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC
TỪ THỰC TIỄN QUẬN TÂY HỒ, HÀ NỘI
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN THANH HIỀN
1.2.2. Vai trò của thực hiện chính sách giáo dục ..................................... 26
1.3. Một số nội dung cơ bản về quản lý nhà nước của cấp quận/huyện trong
lĩnh vực giáo dục .......................................................................................... 29
1.4. Nội dung của đánh giá thực hiện chính sách giáo dục ......................... 31
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC
Ở ĐỊA BÀN QUẬN TÂY HỒ THÀNH PHỐ HÀ NỘI ............................. 34
2.1. Giới thiệu khái quát về hệ thống giáo dục quận Tây Hồ, Hà Nội ........ 34
2.1.1. Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội quân Tây Hồ, Hà Nội ........ 34
2.2.2. Khái quát về quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục ở quận Tây
Hồ, Hà Nội ................................................................................................ 36
2.2. Thực hiện chính sách giáo dục ở quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội ......... 41
2.2.1. Quá trình thực hiện chính sách giáo dục ở quận Tây Hồ, Hà Nội ...... 41
2.2.2. Kết quả thực hiện chính sách giáo dục trên địa bàn quận Tây Hồ,
Hà Nội ....................................................................................................... 52
2.3. Đánh giá việc thực hiện sách giáo dục ở quận Tây Hồ, thành phố Hà
Nội. ............................................................................................................... 61
2.3.1. Thành tựu chủ yếu........................................................................... 61
2.3.2. Những hạn chế chủ yếu ................................................................... 62
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế: .................................................. 63
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐÁNH
GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC Ở QUẬN TÂY HỒ
TRONG THỜI GIAN TỚI ........................................................................... 66
3.1. Một số quan điểm và định hướng về hoàn thiện đánh giá việc thực hiện
chính sách giáo dục ở quận Tây Hồ, Hà Nội ............................................... 66
3.2. Một số giải pháp về hoàn thiện đánh giá việc thực hiện chính sách giáo
dục ở quận Tây Hồ, Hà Nội ......................................................................... 67
3.2.1. Những giải pháp vĩ mô.................................................................... 67
3.2.2. Những giải pháp cụ thể mang tính đặc thù đối với quận Tây Hồ ........ 68
Kinh tế - xã hội
QLNN
Quản lý Nhà nước
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
UBND
Uỷ ban nhân dân
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục là quá trình bao gồm tất cả các hoạt động hướng vào sự phát
triển và rèn luyện năng lực (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo) và phẩm chất (niềm tin,
đạo đức, thái độ…) ở con người để có thể phát triển nhân cách đầy đủ và trở
nên có giá trị tức cực đối với xã hội. Theo cách hiểu hẹp hơn, giáo dục là một
quá trình được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền đạt và
lĩnh hội những kinh nghiệm của xã hội loài người. Giáo dục quan tâm đến
từng con người và quan tâm đến toàn xã hội, hướng tới sự phồn vinh của cộng
đồng, sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, đồng thời hướng tới sự phát
căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả GD & ĐT; phấn đấu đến năm
2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
Quận Tây Hồ được xác định là trung tâm dịch vụ - du lịch, trung tâm
văn hoá, là vùng bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của Thủ đô Hà Nội. Trong quy
hoạch vùng Thủ đô Hà Nội thì quận Tây Hồ là trung tâm của trục phát triển
vùng thủ đô đến năm 2030. Quận nằm ở phía Tây Bắc của Hà Nội. Diện tích
24,39 km2, gồm 8 phường: Bưởi, Yên Phụ, Thuỵ Khuê, Tứ Liên, Quảng An,
Nhật Tân, Xuân La, Phú Thương. Phía đông giáp quận Long Biên; Phía tây
giáp quận Nam Từ Liêm và quận Cầu Giấy; Phía nam giáp quận Ba Đình;
Phía bắc giáp huyện Đông Anh. Quận Tây Hồ có địa hình tương đối bằng
phẳng, có chiều hướng thấp dần từ bắc xuống nam. Dân số của quận (đến hết
năm 2016) là 164,1 nghìn người, mật độ dân số là 6724 người/km2, quận Tây
Hồ có mật độ dân số thấp trong các quận nội thành.
Hiện nay, trên địa bàn quận Tây Hồ có 30 trường mầm non với 444 lớp
học và 898 giáo viên mầm non quản lý hơn 10.696 học sinh mầm non. Đối
với bậc giáo dục phổ thông hiện có 30 cơ sở với 563 lớp học, hơn 1049 giáo
2
viên, quản lý hơn 22.539 học sinh.1 Cùng với những thành tựu trong lĩnh vực
kinh tế - xã hội, trong thời gian qua lĩnh vực giáo dục và đào tạo quận Tây Hồ
cũng đã đạt được nhiều thành tích đáng kể, như: phổ cập giáo dục thành công;
xoá lớp tạm, trường tạm; chất lượng giáo dục được nâng cao về số lượng và
chất lượng; hình thức giáo dục được đa dạng hoá. Để đạt được những kết quả
trên, phải kể đến sự đóng góp không nhỏ trong chính sách quản lý nhà nước
(QLNN) về giáo dục của chính quyền quận Tây Hồ. Tuy nhiên, cùng với quá
trình đô thị hoá phát triển nhanh, và sự gia tăng dân đột biến về dân số và
nhân khẩu đã khiến cho chính sách giáo dục chính quyền quận Tây Hồ gặp
phải một số bất cập như: (i) Tỷ lệ học sinh tăng cao, nhất là học sinh bậc mầm
nước, mà còn được rất nhiều các các nhà quản lý, các nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu, sau đây là một số công trình khoa học như:
Nguyễn Thị Hồng Vân, 2006, Giáo dục phổ thông với phát triển nguồn
nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí Phát triển giáo dục,
số 4/2016. Bài báo đã đề cập đến thực trạng vấn đề giáo dục phổ thông trong
mối quan hệ gắn liền với phát triển nguồn nhân lực có chất lượng để góp phần
phát triển đất nước bền vững trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
quốc gia. Bài báo mới dừng lại ở cách tiếp cận vĩ mô trên toàn quốc, chứ chưa
nghiên cứu sâu ở một địa bàn cụ thể.
Đinh Văn Ân-Hoàng Thu Hoà (2008), Giáo dục và đào tạo chìa khoá
của sự phát triển. NXB Tài chính, 2008. Cuốn sách đã đề cập đến những vấn
đề cơ bản về vai trò của giáo dục đối với mỗi quốc gia; thực trạng đổi mới
giáo dục ở ở Việt Nam giai đoạn 1986-2008. Và định hướng một số giải pháp
nhằm chấn hung giao dục nước nhà để đáp ứng yêu cầu của hội nhập. Cuốn
sách mới dừng lại nghiên cứu ở bối cảnh toàn cầu, vĩ mô quốc gia về giáo dục
và đào tạo, chứ chưa tiếp cận ở bậc giáo dục phổ thông và gắn với một địa
phương cụ thể.
Lương Công Lý (2014), Giáo dục - đào tạo với việc phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay”. (Luận án Tiến sĩ). Luận án đã
4
đề cập được vấn đề quan trọng và sự gắn kết hữu cơ giữa giáo dục đào tạo gắn
với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay, đặc biệt
nhấn mạnh vai trò của giáo dục đại học, sau đại học; từ đó đưa ra các giải
pháp thiết thực để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao từ giáo dục và
đào tạo. Ở đây, chúng ta thấy luận án mới chủ yếu tập trung vào phân tích vai
trò của giáo dục đại học đối với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, mà
ít đề cập đến chính sách giáo dục phổ thông.
Lê Quốc Hội (2014), Chính sách giáo dục và đào tạo ở Việt Nam: Thực
giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong tiến trình “Đổi mới” ở Việt Nam
từ năm 1986 -2015. Những định hướng chủ yếu của việc đổi mới ở Việt Nam
từ năm 1987 nhằm hướng tới đáp ứng những yêu cầu của công cuộc phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế kinh tế thị trường, nhu cầu về phát
triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa với mục tiêu
“Dân giàu, nuớc mạnh, xã hội công bằng và văn minh”. Để đạt được mục tiêu
của giáo dục là “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Việt
Nam phải đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng
thích nghi với công việc, hình thành đội ngũ nhân lực năng động và sáng tạo,
đáp ứng những yêu cầu mới ở thế kỷ 21. Tuy nhiên, cũng giống như những
nghiên cứu đã đề cập ở trên báo cáo của tác giả chỉ mới tập trung phân tích
chính sách ở cấp quốc gia, chứ chưa thiết kế phương pháp đánh giá thực hiện
chính sách giao dục ở một địa bàn cụ thể.
Nguyễn Thắng (2017), Chính sách giáo dục phổ thông trong bối cảnh
tác động của cách mạng công nghiệp 4.0. Trong báo cáo nghiên cứu chính
sách. Báo cáo nói trên tác giải đã tập trung những đề xuất chính sách: thực
hiện cải cách mạnh hệ thống giáo dục, đào tạo theo hướng: Tăng cường quảng
bá để nâng cao nhận thức lớp trẻ, hướng sinh viên vào học các ngành
6
STEM;Nuôi dưỡng các kỹ năng STEM từ nhỏ, bắt đầu từ cấp mẫu giáo bằng
các phương thức giảng dạy phù hợp như câu lạc bộ robots; Học tập các nước
tiên tiến trong việc đưa lập trình vào chương trình học từ những lớp dưới;
Khuyến khích tinh thần học tập suốt đời, học tập liên tục trên cơ sở tận dụng
những công nghệ học tập mới dựa trên Internet; Thay đổi căn bản cách học
tập và giảng dạy tiếng Anh ở trong nhà trường với những chỉ tiêu giám sát kết
quả cụ thể.
Vũ Quỳnh (2015), Chất lượng dịch vụ giáo dục công lập trên địa bàn
nhiên, các tài liệu nói trên chưa đưa ra một tình huống đánh giá chính sách
công cụ thể ở một đơn vị hành chính, hay một lĩnh vực cụ thể.
Qua việc tổng quan một số công trình nghiên cứu cho thấy, các nghiên
cứu về thực hiện chính sách và đánh giá việc thực hiện chính sách giáo dục
hiện nay, đã được tiến hành tương đối đa dạng cả về nội dung và phạm vi
nghiên cứu và là những tài liệu nghiên cứu có giá trị tham khảo hữu ích cho
Luận văn. Tuy nhiên, còn thiếu vắng và có những khoảng trống nghiên cứu
trên một số khía cạnh, cụ thể như sau:
i) Về lĩnh vực nghiên cứu: phần lớn các tác giả mới chỉ tập trung cho
hoạt động đánh giá việc thực hiện chính sách giáo dục ở phạm vi rộng cấp
quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh/thành phố, chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu
về đánh giá việc thực hiện chính sách giáo dục ở phạm vi cấp quận/huyện.
ii) Về nội dung nghiên cứu: phần lớn các nghiên cứu mới nghiên cứu và
đề xuất giải pháp điều chỉnh chính sách ở từng góc đơn lẻ, chưa thực hiện một
cách đồng bộ theo chu trình chính sách từ hoạch định đến tổ chức triển khai
và đánh giá tác động chính sách giáo dục.
iii) Về không gian: đã có nghiên cứu về chính sách giáo dục trên phạm vi
toàn quốc, phạm vi từng tỉnh hoặc cho vùng miền núi, nhưng chưa có nghiên
cứu nào về nghiên cứu đánh giá việc thực hiện chính sách giáo dục ở cấp
8
quận Tây Hồ.
iv) Về phương pháp nghiên cứu: hiện nay, nghiên cứu về đánh giá việc
thực hiện chính sách cũng chưa thật sự có nhiều tác giả quan tâm đề cập đến
vấn đề thiết kế phương pháp và bộ công cụ đánh giá chính sách giáo dục.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá việc thực hiện chính sách giáo dục ở quận Tây Hồ,
Hà Nội, sẽ đề xuất được một số quan điểm và giải pháp nhằm góp phần hoàn
đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, luật, tài liệu, nghị quyết, quyết định
của Đảng, Nhà nước; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu đã được
công bố. Số liệu từ các báo cáo thống kê của UBND quận Tây Hồ.
+ Các tài liệu, thông tin, số liệu và chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước về giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông.
+ Số liệu thứ cấp: khai thác số liệu về số lượng học sinh, giáo viên,
trường lớp, đầu tư công cho giáo dục công lập, chính sách tiền lương, chính
sách đào tạo, bồi dưỡng, chính sách xã hội hoá do phòng Giáo dục quận Tây
Hồ theo dõi, quản lý.
- Phương pháp nghiên cứu đánh giá chính sách
Phương pháp nghiên cứu chính sách là một quá trình mang tính hệ
thống thường gồm các hoạt động sau: (i) Phân tích và đánh giá các điểm bất
hợp lý, hiệu quả và tính khả thi của các chính sách nhằm đạt được các mục
tiêu đề ra; (ii) Đánh giá và phân tích ảnh hưởng (tác động) của chính sách;
(iii) Đưa ra các khuyến nghị và đề xuất các lựa chọn nhằm đạt được mục tiêu
đã đề ra.
Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung rà soát thực hiện
các chính sách liên quan đến lĩnh vực giáo dục mầm non và giáo dục phổ
thong (tiểu học và trung học cơ sở) ở Trung ương, ở Hà Nội, và đặc biệt ở
quận Tây Hồ. Từ đó sẽ đánh giá những ảnh hưởng và bất cập, thiếu hụt của
chính sách trong quá trình thực hiện theo chu kỳ thực hiện: trước - trong và
10
sau thực hiện chính sách giáo dục. Đồng thời đề xuất những giải pháp góp
phần hoàn thiện quá trình đánh thực hiện chính sách giáo dục trên địa bàn
quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa về lý luận
giáo dục ở quận Tây Hồ trong thời gian tới.
12
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC Ở CẤP HÀNH CHÍNH QUẬN/HUYỆN
1.1. Một số khái niệm cơ bản về chính sách công và đánh giá việc
thực hiện chính sách công
1.2.1. Khái niệm chính sách công
Khoa học chính sách công ra đời muộn hơn các khoa học khác và chỉ
thực sự phát triển rộng rãi ở các nước trên thế giới sau những năm 1950. Cho
đến nay có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau về chính sách công, sau đây
là một số khái niệm cụ thể:
Theo Thomas Dye đưa ra khái niệm ngắn gọn về chính sách công như
sau: “chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không
làm”. Còn tác giả Wiiam Jenkins lại đưa quan niệm cụ thể hơn, theo đó
“chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau được
ban hành bởi một nhà hoạt động chính trị hoạch một nhóm các nhà hoạt động
chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt được
mục tiêu trong tình huống cụ thể thuộc phạm vi thẩm quyền”.
Còn theo từ điển tiếng Anh, chính sách (policy) là một đường lối hành
động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng phái, nhà cai trị,
chính khách… Theo sự giải thích này thì chính sách không phải là một quyết
định mà nó là một đường lối hay phương hướng hành động.
Mặt khác, theo tác giả James Anderson: “Chính sách là một quá trình
hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải
quyết các vấn đề mà họ quan tâm”.
Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như
giải quyết các vấn đề xã hội theo các mục tiêu đã được xác định.
14
Theo đó tại Việt Nam, chính sách công được thể hiện dưới nhiều loại
văn bản, chính sách khác nhau, bao gồm: Luật, nghị định, thông tư, quyết
định, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của các cơ quan Trung ương, địa
phương và bao gồm các chương trình, dự án của Nhà nước.
1.1.2. Đánh giá chính sách công
Hiện nay, trên thế giới đều xem rằng đánh giá việc thực hiện chính sách
công được coi là một khâu trong chu trình chính sách công, bao gồm: Hoạch
định chính sách, xây dựng chính sách, thực hiện chính sách, đánh giá chính
sách. Mặc dù, ra đời muộn hơn so với các lý thuyết về khoa học chính sách.
Tuy nhiên, vấn đề đánh giá thực hiện chính sách công đang đi vào hoàn thiện
và được áp dụng trong thực tiễn. Phần lớn các nghiên cứu hiện nay đều cho
rằng đánh giá chính sách công được tiến hành ở khâu hậu kiểm trong chu
trình chính sách. Thể hiện qua các nội dung sau: (i) Mối quan hệ đánh giá và
hoạc định, xây dựng thực hiện chính sách công; (ii) Các chủ thể tham gia
đánh giá chính sách công; (iii) Chính trị, hành chính và thể chế đánh giá chính
sách công; (iv) Cách tiếp cận đánh giá chính sách công; (v) Phương pháp
đánh giá chính sách công; (vi) Phân loại đánh giá chính sách công; (vii) Kết
quả đánh giá chính sách công; (viii) Các mô hình đánh giá giá chính sách
công. [9, tr. 139-140]
Đánh giá chính sách công là những hoạt động có tính hệ thống, nằm
trong một tiến trình; các hoạt động này nhằm kiểm tra toàn bộ các khía cạnh
hay một khía cạnh của một can thiệp chính sách (đầu vào, các hoạt động thực
hiện các đầu ra, kết quả đầu ra và tác động) và làm thế nào để sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực.
Đánh giá chính sách công là xem xét một cách khách quan, định kỳ một
can thiệp chính sách đã được lập, đang thực hiện, hoặc đã hoàn thành. Đánh
giá được sử dụng để trả lời câu hỏi cụ thể liên quan đến thiết kế, cách thức
thực hiện, và các kết quả của một can thiệp chính sách. Khác với giám sát,
đánh giá chính sách công được tiến hành tại những thời điểm cụ thể và
thường cố gắng tìm kiếm quan điểm bên ngoài từ các chuyên gia kỹ thuật. Về
cơ bản, việc thiết kế, phương pháp đánh giá và chi phí đánh giá phụ thuộc vào
loại câu hỏi mà đánh giá phải trả lời. Nói chung, có ba loại câu hỏi mà các
đánh giá có thể phải trả lời:
- Câu hỏi mô tả: Đối với loại câu hỏi này, đánh giá phải xác định
những gì đang diễn ra và mô tả các quá trình, các điều kiện, các mối quan hệ
tổ chức, và quan điểm của các bên liên quan.
- Câu hỏi chuẩn tắc: Đối với loại câu hỏi này, đánh giá phải so sánh
những gì đang diễn ra với những gì cần được diễn ra; đánh giá các hoạt động
và xác định liệu việc thực hiện can thiệp chính sách có đạt được các mục tiêu
hay không. Các câu hỏi chuẩn tắc có thể áp dụng cho các đầu vào, hoạt động,
và đầu ra.
- Câu hỏi nhân quả: Đối với loại câu hỏi này, đánh giá kiểm tra các kết
quả đầu ra và xác định can thiệp chính sách đã tạo ra sự khác biệt nào trong
các kết quả đầu ra.
Khi đánh giá cho thấy các kết quả chính sách trong thực tế có giá trị và
chúng đóng góp vào các mục đích và mục tiêu chính sách, thì chúng ta kết
luận rằng can thiệp chính sách đó đã đạt được một mức độ kết quả thực thi ý
nghĩa nào đó.
1.1.4. Vai trò của đánh giá chính sách công
17