Đánh giá tác động của chính sách giao đất lâm nghiệp đến phát triển kinh tế lâm nghiệp tại huyện lộc bình, tỉnh lạng sơn - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-----------------------------

HOÀNG HÙNG CƯỜNG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP
ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÂM NGHIỆP TẠI
HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN.

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Hà Nội, 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-----------------------------

HOÀNG HÙNG CƯỜNG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP
ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÂM NGHIỆP TẠI
HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN


Trong những năm qua nước ta đã giao được hàng chục triệu hec ta rừng, đất
rừng cho hơn một triệu hộ gia đình. Hàng loạt các chương trình trồng rừng quy mô
lớn như 327, 661…..Nhưng cộng đồng vùng sâu, vùng xa vẫn đang còn đói nghèo
chiếm tỷ lệ rất lớn mặc dù đã làm chủ của những diện tích rừng, đất rừng lớn. Vậy
làm thế nào để rừng và đất rừng phát huy được hết tác dụng của nó, góp phần xóa
đói, giảm nghèo và từng bước làm giầu từ rừng. Muốn làm được điều đó đầu tiên
chúng ta phải kiểm tra, xem xét và đánh giá lại hiện trạng của quá trình giao đất lâm
nghiệp, đánh giá những tác động, ảnh hưởng của chính sách đến thu nhập, đến đời
sống kinh tế xã hội của các chủ rừng và đóng góp vào kinh tế địa phương, khu vực.
Lộc Bình là huyện miền núi, biên giới của tỉnh Lạng Sơn, có tổng diện tích


2

tự nhiên 1.000, 95km2. Toàn huyện 27 xã, 2 thị trấn; có 78.501 nhân khẩu với 06
dân tộc chủ yếu (Tày, Nùng, Kinh, Dao, Sán chỉ, Hoa…) chung sống.
Trong những năm trở lại đây cùng sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
Chính sách giao đất, giao rừng và dự án trồng mới 5 triệu ha rừng trong cả nước
cũng phát triển mạnh mẽ. Công tác phát triển lâm nghiệp của tỉnh Lạng Sơn và của
huyện Lộc Bình cũng không ngừng được tăng lên cả về chất cũng như lượng. Để áp
dụng kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất tại địa phương đang công tác tôi xây
dựng Luận văn “Đánh giá tác động của chính sách giao đất lâm nghiệp đến phát
triển kinh tế Lâm nghiệp tại huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn” nhằm mục đích
thấy được những khó khăn, thuận lợi và tìm ra những giải pháp, kiến nghị cơ quan
chức năng để tạo điều kiện kinh tế Lâm nghiệp trên địa bàn phát triển.


3

Chương 1

động lâm nghiệp là rừng với những quy luật tự nhiên và những tác động rất lớn của
xã hội loài người tới nó.
Trong quá trình phát triển vừa qua, ngành lâm nghiệp đã có nhiều đóng góp
cho đất nước và đạt được những thành tựu quan trọng; đồng hành với sự phát triển
của ngành là những cơ chế chính sách phù hợp với từng thời kỳ phát triển.
- Chính sách lâm nghiệp được thể hiện cụ thể trên một số nội dung, như: Cơ
chế quản lý rừng với những mục đích sử dụng cụ thể (3 loại rừng và những mục
đích cụ thể của từng loại rừng, của từng khu rừng); các chính sách về giao đất, giao
rừng; về khai thác, sử dụng rừng, các cơ chế hưởng lợi từ rừng; về chính sách phát
triển rừng.
- Có nhiều các chính sách chung tác động đến rừng và ngành lâm nghiệp,
như: Đất đai, tài chính tín dụng, cơ chế kế hoạch, tổ chức quản lý và kinh doanh.
Ngành lâm nghiệp cũng như nhiều ngành kinh tế xã hội khác hoặc phải thích ứng
với nó, hoặc phải đề nghị những sửa đổi các chính sách đó cho phù hợp với sự phát
triển của ngành.
- Trong thời gian qua, chính sách lâm nghiệp Việt Nam đã luôn được các đối
tác lâm nghiệp cả trong nước và quốc tế quan tâm; đối thoại chính sách đã trở thành
nề nếp trong hoạt động của đối tác lâm nghiệp, qua đó nhiều chính sách lâm nghiệp
đã được điều chỉnh, góp phần vào sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng của đất nước.
1.1.2.1. Những định hướng phát triển lâm nghiệp ở Việt Nam
a) Định hướng chung
- Định hướng quy hoạch 3 loại rừng và đất lâm nghiệp
+ Đối với rừng phòng hộ
+ Đối với rừng đặc dụng


5

+ Đối với rừng sản xuất
- Định hướng quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng

phủ quản lý và kết quả là một nửa triệu ha rừng đã bị tàn phá.
- Từ năm 1978 chính sách lâm nghiệp cộng đồng ra đời, trong đó quy định
cộng đồng được quyền quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong vị trí lãnh
thổ của họ nhằm đáp ứng các nhu cầu của cộng đồng, lâm nghiệp cộng đồng và lâm
nghiệp tư nhân được xác định là quan trọng và ưu tiên phát triển.
- Năm 1992 chính sách mới nhấn mạnh hơn về lâm nghiệp cộng đồng và hỗ
trợ mạnh mẽ các nhóm sử dụng, để mở rộng các hoạt động lâm nghiệp cộng động.
Chính sách này có nhiều thay đổi cho phù hợp và đã đạt hiệu quả cao.
* Nhật Bản: Có 3 hình thức sở hữu đất lâm nghiệp đó là sở hữu Nhà nước,
sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân. Nhà nước sở hữu 7,84 triệu ha chiếm 31,16%
rừng và đất rừng cả nước. Những diện tích này chủ yếu ở những nơi xa xôi hẻo lánh,
địa hình hiểm trở…. Thuộc quyền quản lý của Cục Lâm nghiệp – Bộ Nông lâm
thủy sản. Các tổ chức chính quyền địa phương sở hữu trên 2,7 triệu ha chiếm
10,74%. Các công ty tư nhân và các hộ gia đình sở hữu 14,6 triệu ha chiếm 58,10%.
Chủ rừng là các hộ tư nhân chiếm 88%. Trong đó 89% số hộ có diện tích từ
0,1-5ha đất lâm nghiệp, 10,7% số hộ có từ 5-50ha đất lâm nghiệp, số 0,4% còn lại
là hộ có trên 50 ha đất lâm nghiệp. Do phần lớn chủ rừng là người sở hữu dưới 5 ha
đất lâm nghiệp nên các chủ rừng này đã liên kết với nhau thành các Hội. Hiện nay
ở Nhật Bản có 1.430 Hội chủ rừng với 1.718.000 thành viên.
Để nhằm thúc đẩy công tác xây dựng và phát triển, Chính phủ có chương
trình trợ cấp nhằm hỗ trợ cho các hoạt động lâm sinh, xây dựng đường lâm nghiệp
thông qua Hội các chủ rừng, ngoài ra các chủ rừng còn được ưu tiên vay vốn để sản
xuất kinh doanh với lãi xuất thấp, đồng thời còn được giảm thuế đất lâm nghiệp[36]
* Phillippin:
Từ những năm 1970 Chính phủ đã quan tâm đến phát triển lâm nghiệp xã hội


7

Nhà nước xây dựng các dự án lâm nghiệp xã hội tổng hợp giao Bộ Tài nguyên thiên


những nguyên tắc sau:
- Mọi người sống ở rừng sẽ được tập trung lại thành từng nhóm trong những
vùng không phải là nguồn nước gọi là làng. Mỗi làng bầu ra một lãnh đạo và một
hội đồng để quản lý.
- Trong mỗi làng, Cục lâm nghiệp và Chính phủ sẽ cung cấp nhà ở phù hợp,
nguồn nước, đường giao thông đi lại, trường học, trạm y tế, ngân hàng, dịch vụ, tiếp
thị và đào tạo nghề nghiệp.
- Chính phủ chia cho mỗi hộ gia đình nông dân từ 2 - 4 ha đất có giấy phép
quyền sử dụng và được thừa kế nhưng không được bán, chuyển nhượng. Việc làm
này nhằm mục đích ngăn chặn những địa chủ đầu cơ mua bán toàn bộ diện tích đất
của nông dân.
* Trung Quốc: Theo Hiến pháp của Nhà nước vào đầu những năm 80, thế
kỷ XX chính quyền Nhà nước trung ương, tỉnh, huyện bắt đầu cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho tất cả các chủ rừng là tất cả các tổ chức nhà nước, tập thể và
tư nhân. Mỗi hộ nông dân được phân phối một diện tích rừng để sản xuất kinh
doanh “Luật Lâm nghiệp quy định đơn vị tập thể và nông dân trồng cây trên đất
mình làm chủ thì hoàn toàn được hưởng sản phẩm trên mảnh đất đó’’. Sau khi được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Chính phủ đã áp dụng chính sách nhạy bén
thúc đẩy phát triển trang trại rừng và kinh doanh đa dạng để có lợi ích trước mắt và
lâu dài. Đồng thời với việc cải cách mở cửa, ngành lâm nghiệp Trung Quốc đã được
chuyển dịch từ chỗ chỉ thực hiện sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể sang thực hiện
nhiều thành phần tham gia kinh doanh lâm nghiệp (nhà nước, tập thể, cá nhân, liên
doanh, hợp tác…). Nhiều chính sách được thực hiện, đặc biệt là chính sách “Tam
định”, trong đó định rõ ba vấn đề: Quyền sử dụng đất đồi núi, quyền sử dụng rừng
và quy hoạch đất, diện tích đất lâm nghiệp được để lại cho các hộ nông dân sử dụng.
Người dân được giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng.
* Phần Lan: Sở hữu tư nhân về rừng và đất rừng ở Phần Lan mang tính
truyền thống, có tới hai phần ba diện tích rừng và đất rừng thuộc sở hữu tư nhân và



10

1.2.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp ở Việt Nam
1.2.2.1. Khái quát chung về chính sách giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam
Quan điểm về quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp: Ở nước ta đất đai thuộc sở
hữu toàn dân, người dân được giao quyền khai thác và sử dụng. Luật Đất đai năm
1987,1993,1998, 2001, 2003 và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 1991 và 2004;
năm 2007 Thủ tướng Chính phủ ban hành chiến lược phát triển Phát triển lâm
nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020. Việc đẩy mạnh chính sách giao đất, giao
rừng cho cá nhân, hộ gia đình và tổ chức là bằng chứng rõ ràng thể hiện quan điểm
này.
- Giai đoạn 1993 trở về trước: Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
(1986), Nhà nước có chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, ngoài thành
phần kinh tế quốc doanh, tập thể, Nhà nước còn có chủ trương giao đất cho tư nhân,
vì vậy đã khuyến khích nhiều người nhận đất trống, đồi núi trọc và bỏ vốn gây
trồng rừng.
Thời kỳ này, giao đất lâm nghiệp trên cơ sở có quy hoạch sử dụng đất đai.
Bộ Lâm nghiệp đã ban hành Quyết định số 1171/LN/QĐ ngày 30/12/1986 về quy
chế quản lý 3 loại rừng: Rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất, tiến hành
phân cấp quản lý rừng…. chuyển dần từ cơ chế bao cấp sang tự chủ sản xuất kinh
doanh và từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa. Các chủ trương chính
sách lớn của Đảng và Nhà nước có Nghị quyết số 10/NQTW, Nghị quyết số
22/NQTW về phát triển kinh tế xã hội miền núi và Quyết định số 72/HĐBT về thực
hiện Nghị quyết 22/NQTW khẳng định phải thực hiện mạnh mẽ chủ trương giao đất
lâm nghiệp cho các gia đình đồng bào dân tộc thiểu số, các gia đình cán bộ, công
nhân người kinh sống ở miền núi, các hộ tư nhân ở miền xuôi lên, các đơn vị kinh tế
cơ sở, các cơ quan, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang. Cùng với việc thực hiện
các văn bản nói trên, cuối năm 1986 có Quy chế quản lý 3 loại rừng sau một thời
gian tổ chức thực hiện có hiệu quả đã làm cơ sở xây dựng Luật Bảo vệ và Phát triển

Luật này thể hiện chủ chương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về đất đai, cụ
thể hóa điều 17 và 18 Hiến pháp năm 1992 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam.


12

Nghiên cứu tổng quát những sửa đổi bổ sung về chính sách được thể chế
trong Luật Đất đai, có những vấn đề nổi bật sau:
- Củng cố và tăng cường sở hữu toàn dân về đất đai, tăng cường vai trò quản
lý thống nhất của Nhà nước.
- Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình để sử dụng ổn
định lâu dài.
- Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyển sử dụng đất,
thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá tài sản khi giao, bồi thường thiệt hại
về đất khi bị thu hồi.
- Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử
dụng đất đã được xác định tạo cơ sở pháp lý về những lợi ích cụ thể để người sử
dụng đất thật sự làm chủ về sử dụng và kinh doanh trên đất được giao [4].
Cùng với sự ra đời của Luật Đất đai 1993, Chính phủ đã ban hành một số
chính sách quan trọng như: Nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 về việc giao đất lâm
nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm
nghiệp [4]. Quyết định số 202/TTg ngày 2/5/1994 về việc khoán bảo vệ rừng,
khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng. Nghị định số 01/CP ngày 4/1/1995 về việc giao
khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh
nghiệp nhà nước [5]. Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về việc giao đất,
cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài
vào mục đích lâm nghiệp [7] Nghị định này thay thế cho Nghị định 02/CP(1994).
Sự ra đời của các chính sách này nhằm gắn lao động với đất đai, tạo thành động lực
để phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp ổn định tình hình kinh tế - xã hội, an

+ Hiện trạng quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp của tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân.
+ Hạn mức giao đất lâm nghiệp đã được quy định: Hạn mức giao cho hộ gia
đình do UBND cấp tỉnh quyết định nhưng không quá 30 ha ( tuy nhiên những
trường hợp hộ gia đình đang sử dụng đất lâm nghiệp vượt hạn mức quy định tại
khoản 1 Điều 13 của Nghị định 163/1999/NĐ-CP trước ngày 01 tháng 01 năm 1999


14

được tiếp tục sử dụng ổn định, lâu dài và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất) hạn mức giao cho tổ chức theo dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
phê duyệt.
+ Nhu cầu sử dụng đất lâm nghiệp của tổ chức ghi trong dự án được cấp có
thẩm quyền phê duyệt; đơn xin giao đất lâm nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được
UBND cấp xã nơi có đất lâm nghiệp xác nhận.
- Thời hạn giao đất lâm nghiệp được quy định như sau:
+ Các tổ chức nhà nước, thời hạn giao theo dự án được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phê duyệt;
+ Các tổ chức thuộc thành phần kinh tế khác, thời hạn giao được quy định
đến hết thời hạn được Nhà nước giao;
+ Thời hạn giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu
dài là 50 năm. Khi hết thời hạn, nếu người sử dụng đất lâm nghiệp có nhu cầu tiếp
tục sử dụng đất và trong quá trình sử dụng đất lâm nghiệp chấp hành đúng pháp luật
về đất đai, pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng thì được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xem xét giao đất đó để tiếp tục sử dụng. Nếu trồng cây lâm nghiệp có
chu kỳ trên 50 năm, khi hết thời hạn này vẫn được Nhà nước giao tiếp để sử dụng.
* Về giao khoán đất lâm nghiệp
- Đối tượng để giao khoán đất lâm nghiệp: Đối tượng giao khoán đất (gắn
liền vật nuôi, cây trồng) theo thứ tự ưu tiên: hộ gia đình, cá nhân là công nhân viên

- Khuyến khích phát triển giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất, hạn chế sự
can thiệp về hành chính không cần thiết, khắc phục những bất cập về chính sách,
pháp luật trong bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc gia.
- Đẩy mạnh lĩnh vực quản lý hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai bằng
cách phân cấp toàn bộ quyền quyết định giao đất, cho thuê đất cho địa phương.
Quy định với người sử dụng đất bao gồm: Các tổ chức cơ quan nhà nước, tổ
chức chính trị, xã hội, lực lượng vũ trang, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư
người Việt Nam, cơ sở tôn giáo thì được nhà nước giao, công nhận hoặc cho thuê


16

quyền sử dụng đất. Còn các tổ chức nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài về đầu tư thì được thuê đất.
Trong Luật đất đai mới này cũng có những điều khoản quy định về việc giao,
cho thuê và chuyển đổi mục đích sử dụng thời hạn và hạn mức sử dụng các loại đất
rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.
1.2.2.2 Tình hình thực hiện chính sách giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam
- Giai đoạn 1993 trở về trước:
Từ năm 1968-1992 cả nước đã giao được tổng số hơn 11 triệu ha, trong đó
5,8 triệu ha cho khu vực quốc doanh, 3,7 triệu ha cho Hợp tác xã nông nghiệp và
1,53 triệu ha cho hộ gia đình.
Việc tổ chức thực hiện giao đất lâm nghiệp trong giai đoạn này chủ yếu tập
trung vào tập thể là chính, còn nhiều thiếu sót do nhận thức chưa đầy đủ về vai trò
của người dân trong kinh doanh, việc tổ chức thực hiện giao đất lâm nghiệp thiếu
chặt chẽ, chưa có quy hoạch đất đai, chưa phân được 3 loại rừng và xác định giao
đất lâm nghiệp cho từng đối tượng cụ thể. Có thể thấy rằng, việc tổ chức thực hiện
chủ chương giao đất lâm nghiệp trong thời kỳ này của Ngành lâm nghiệp là nghiêm
túc, cụ thể, có những bước đi cơ bản và đạt được những thành tựu đáng kể [11].
Công tác giao đất giao rừng thời kỳ này có những tiến bộ đáng kể đã mang lại sự

1. 3. Những nghiên cứu về giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam
Trong những năm qua, đã có những dự án, những công trình nghiên cứu đều
có những cách tiếp cận riêng đối với tác động của chính sách này đối với sự phát
triển kinh tế xã hội ở mỗi vùng.
Dự án “ Đổi mới chiến lược ngành lâm nghiệp” đây là dự án xuất phát từ yêu
cầu cấp bách của nước ta sau khi ban hành Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991.
Dự án đã góp phần xây dựng phương pháp mới về giao đất lâm nghiệp, trên cở sở
học tập kinh nghiệm của các năm trước và dựa vào các văn bản pháp quy liên quan
đến Luật đất đai, Luật bảo vệ và phát triển rừng.
Đề tài “ Định hướng và giải pháp thúc đây phát triển kinh tế xã hội nông
thôn miền núi” của tác giả Trần Thanh Bình, đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm


18

góp phần ổn định và phát triển kinh tế xã hội nông thôn miền núi
Đề tài “ Những định hướng và giải pháp bước đầu nhằm đổi mới việc giao
đất, giao rừng ở miền núi” của Nguyễn Đình Tư đã xem xét tình hình giao đất từ
năm 1968-1992, đánh giá được thực trạng sau khi nhận đất, nhận rừng, đề tài cũng
đã chỉ ra được những định hướng và những giải pháp cơ bản nhằm đổi mới công tác
giao đất lâm nghiệp ở miền núi. [26].
Công trình “ Tăng cường công tác giao đất lâm nghiệp và khuyến khích
trồng rừng trên đất được giao”, của tác giả Đoàn Diễm đã đưa ra những tồn tại trong
việc quy hoạch sử dụng và giao đất lâm nghiệp, đưa ra những kiến nghị đẩy nhanh
tiến độ quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp trong thời gian tới .
Đề tài “Tìm hiểu tác động của giao đất giao rừng đến phát triển kinh tế - xã
hội- môi trường tại xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”, của nhóm tác
giả trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên ( Đặng Kim Vui, Lý Văn Trọng, Lê Sỹ
Trung) đã tiến hành đánh giá hiệu quả của việc thực hiện chính sách giao đất lâm
nghiệp trên phạm vi ở một xã miền núi[30].

giao đất lâm nghiệp đến nông hộ ở quy mô cấp xã đã chỉ ra rằng, giao đất giao rừng
có tác động tích cực đến sinh kế của người dân tuy nhiên hiệu quả chưa cao do
nhiều nguyên nhân từ quá trình giao đất đến các chính sách hỗ trợ.
Đặng Kim Sơn ( 2009) khi nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách ở tầm vĩ
mô cũng cho rằng việc giao đất lâm nghiệp đã bước đầu khuyến khích người dân
đầu tư sử dụng đất có hiệu quả hơn, nhưng tác động còn rất hạn chế đối với các hộ
nghèo ở vùng sâu, vùng xa do thiếu các chính sách hỗ trợ cả từ lĩnh vực tín dụng, kỹ
thuật, thị trường và thông tin.


20

Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu, đánh giá tác động của chính sách giao đất lâm nghiệp kể từ
Nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 của Thủ tướng Chính phủ trở lại đây, tác động đến
phát triển kinh tế lâm nghiệp trên địa bàn huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
-Tác động của chính sách giao đất đối với việc phát triển kinh tế ngành lâm
nghiệp trên địa bàn huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Tác động của chính sách đối với đời sống, văn hóa và xã hội tại huyện Lộc
Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Tác động của chính sách đối với môi trường sinh thái tại huyện Lộc Bình,
tỉnh Lạng Sơn.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển kinh tế lâm nghiệp
trên địa bàn huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
2.2 . Đối tượng và giới hạn nghiên cứu

2.4.1. Quan điểm và phương pháp tiếp cận
Ở nước ta, đất đai kể cả đất lâm nghiệp thuộc sở hữu toàn dân, người dân
được giao quyền sử dụng. Vấn đề giao đất lâm nghiệp đã được Đảng và Nhà nước
quan tâm từ những năm đầu của thập kỷ 80 thế kỷ XX như Chỉ thị 29-CT/TW ngày
12/11/1983 của Ban Bí thư, Luật Đất đai 1987,1993, 2001và Luật Bảo vệ và Phát
triển rừng 1991 và 2004. Gần đây nhà nước đã chủ chương thực hiện xã hôi hóa
nghề rừng bằng việc ban hành Luật Đất đai 2003 và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng


22

2004 và Chiến lược phát triển lâm nghiệp đến năm 2020. Việc đẩy mạnh vấn đề
giao đất giao rừng cho các nhân, hộ nông dân, cộng đồng dân cư và các thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh là bằng chứng rõ ràng thể hiện quan điểm của Nhà nước.
Hiện nay có khoảng trên 24 triệu người dân sống ở miền núi với rất nhiều thành
phần dân tộc khác nhau, Nhà nước có chủ trương giao đất để góp phần cải thiện
sinh kế bằng nghề rừng, góp phần bảo vệ và phát triển rừng. Gần đây Chính phủ
cũng hoàn thiện khung pháp lý để cho người nước ngoài, các công ty nước ngoài
thuê rừng để kinh doanh. Như vậy có thể nói quan điểm xã hội hóa lâm nghiệp với
nhiều thành phần tham gia của nhà nước là rõ và khá thông thoáng.
Có thể nói tất cả các địa phương miền núi trong cả nước đã thực hiện tương
đối tốt chủ trương giao đất giao rừng và đã thu lại những kết quả đáng kể. Tuy
nhiện thực tế khi thực hiện chính sách nhiều nơi còn nhiều bất cập, do các nguyên
nhân chủ quan và khách quan đem lại. Vì vậy nghiên cứu tác động của chính sách
giao đất giao rừng cũng cần xem xét theo từng thời kỳ, thời điểm để phù hợp với
thực tế khách quan.
Đánh giá tác động thực hiện chính sách đến kinh tế lâm nghiệp của luận văn
được tiến hành thông qua một số chỉ tiêu đánh giá gồm chỉ tiêu định lượng và một
số chỉ tiêu định tính và các mặt kinh tế, xã hội.
Quá trình nghiên cứu của luận văn được khái quát hóa theo sơ đồ sau:


Xử lý thông tin, phân tích, đánh giá

Thực
trạng
phát
triển
kinh tế
huyện
Lộc
Bình

Tình hình
thực hiện
chính
sách giao
đất lâm
nghiệp
huyện
Lộc Bình

Những
đóng góp
của chính
sách đối
Kinh tế,
Văn hóa,
Xã hội và
MT
huyện

sách về tài
nguyên đất,
tài nguyên
nước và tài
nguyên
rừng của
khu vực đại
diện



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status