HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ TRÂM
THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ KIÓM SO¸T
THO¶ THUËN H¹N CHÕ C¹NH TRANH
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
HÀ NỘI - 2019
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ TRÂM
THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ KIÓM SO¸T
THO¶ THUËN H¹N CHÕ C¹NH TRANH
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Mã số: 62 38 01 01
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS,TS. Phạm Minh Tuấn
2. TS. Lê Đinh Mùi
1.2. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần
tiếp tục nghiên cứu
24
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
KIỂM SOÁT THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH
29
2.1. Khái niệm và đặc điểm của thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh
2.2. Nội dung pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, hình
thức và chủ thể thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh
2.3. Vai trò và điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh
2.4. Thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trên
thế giới và những giá trị tham khảo cho Việt Nam
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ KIỂM SOÁT THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH
29
41
52
62
74
3.1. Thực trạng pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở
154
155
166
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CT&BVNTD
:
Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng
EU
:
European Union (Liên minh châu Âu)
KTTT
:
Kinh tế thị trường
TTHCCT
:
Thoả thuận hạn chế cạnh tranh
97
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cạnh tranh là quy luật của nền kinh tế thị trường, là động lực cho sự phát
triển của nền kinh tế, từ đó là sự phát triển của quốc gia. Tuy nhiên, thay vì cạnh
tranh, có những doanh nghiệp chọn con đường bắt tay với đối thủ thiết lập các thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh để vừa giảm áp lực cạnh tranh vừa tăng khả năng chi phối
thị trường, từ đó thao túng, ép buộc người tiêu dùng và các doanh nghiệp khác nhằm
tìm kiếm lợi nhuận tối đa. Những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh này “làm cản trở,
làm sai lệch, thậm chí triệt tiêu cạnh tranh tự do trên thị trường, trực tiếp tác động tiêu
cực đến quy luật cạnh tranh, gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả của nền kinh tế” [112,
tr.2]. Do đó các nhà nước trong nền kinh tế thị trường (KTTT) đều phải chú trọng
kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (TTHCCT) để bảo vệ tự do cạnh tranh, thúc
đẩy cạnh tranh hiệu quả. Trên bình diện quốc tế, Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) đã phải có những quy định buộc các thành viên của mình đảm bảo cạnh tranh
công bằng và ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh (Điều 9 Hiệp định GATS Phụ lục 1b) nhằm mở cửa thị trường, bảo vệ cạnh tranh và tự do thương mại.
Nhà nước có nhiều phương diện, cách thức khác nhau để kiểm soát TTHCCT
như: phương diện xã hội, phương diện kinh tế, phương diện pháp lý… trong đó
kiểm soát TTHCCT trên phương diện pháp lý, xây dựng và tổ chức thực hiện
pháp luật về kiểm soát TTHCCT bằng quyền lực và sức mạnh đặc biệt của nhà
nước đã tỏ ra có hiệu quả. Tuy nhiên thực tế cho thấy rằng doanh nghiệp luôn
thiết lập rất nhiều thỏa thuận trong hoạt động kinh doanh, và trong vô số các thỏa
thuận đó, làm thế nào để xác định đâu là TTHCCT, xác định mức độ tác động
hạn chế cạnh tranh của thỏa thuận, cách thức kiểm soát phù hợp để vẫn bảo đảm
quyền tự do thỏa thuận của doanh nghiệp mà vẫn bảo vệ quy luật cạnh tranh…
một vụ thông thầu nào. Những hạn chế trong thực hiện pháp luật đó làm giảm
hiệu quả kiểm soát và ngăn ngừa vi phạm pháp luật. Về phía cộng đồng doanh
nghiệp, bên cạnh các doanh nghiệp nghiêm túc thực hiện pháp luật về kiểm soát
TTHCCT, vẫn đang tồn tại rất nhiều "thỏa thuận ngầm" của các doanh nghiệp
[17] là biểu hiện của việc thực hiện pháp luật không nghiêm chỉnh, thậm chí cố
tình vi phạm pháp luật. Nhiều hành vi vi phạm pháp luật về kiểm soát TTHCCT
ngày càng tinh vi và phức tạp xuất phát từ hoạt động của hiệp hội ngành nghề, từ
sự thao túng của doanh nghiệp nước ngoài, các hành vi TTHCCT diễn ra ở nhiều
ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế... đã và đang xâm hại nghiêm trọng tới
lợi ích của người tiêu dùng, của các doanh nghiệp khác, gây thiệt hại cho nền
3
kinh tế và ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh của Việt Nam. Để xử lý
những tiêu cực trên cần có nhiều biện pháp đồng bộ, trong đó đảm bảo thực hiện
pháp luật về kiểm soát TTHCCT đóng vai trò quan trọng.
Xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN),
chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương "tôn
trọng và vận dụng đầy đủ, đúng đắn các quy luật và cơ chế vận hành của KTTT"
[28, tr.52] và "các chủ thể tham gia thị trường đều được coi trọng, cùng phát
triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và văn minh" [28, tr.60].
Để thực hiện chủ trương của Đảng về vận dụng đầy đủ và đúng đắn quy luật
cạnh tranh, để bảo vệ cạnh tranh bình đẳng và bảo vệ các chủ thể tham gia thị
trường, cần nghiên cứu làm rõ luận cứ khoa học của thực hiện pháp luật về kiểm
soát TTHCCT, đánh giá những kết quả đạt được và những vấn đề hạn chế, bất
cập, nguyên nhân của thành công và hạn chế của việc thực hiện pháp luật về
kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam thời gian qua, từ đó xác định các quan điểm và
giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT trong thời gian tới.
Từ lý luận và thực tiễn có thể thấy nghiên cứu về thực hiện pháp luật về
kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam là một yêu cầu bức thiết trong giai đoạn hiện
pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam dưới góc độ của chuyên ngành Lý
luận lịch sử nhà nước và pháp luật.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt thời gian: Đề tài nghiên cứu thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT
từ khi Luật Cạnh tranh 2004 có hiệu lực thi hành là ngày 01/7/2005 đến nay.
- Về mặt không gian: Đề tài nghiên cứu thực hiện pháp luật về kiểm soát
TTHCCT ở Việt Nam. Trong quá trình nghiên cứu có tìm hiểu kinh nghiệm thực
hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT của EU và Hoa Kỳ nhưng với mục đích
rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam chứ không nhằm mục đích so
sánh các hệ thống pháp luật.
- Về mặt nội dung: Do Luật Cạnh tranh 2004 chỉ điều chỉnh các TTHCCT
theo chiều ngang nên đề tài cũng chỉ nghiên cứu về thực hiện pháp luật về kiểm
soát TTHCCT với các TTHCCT theo chiều ngang, không nghiên cứu về các
TTHCCT theo chiều dọc.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được nghiên cứu trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin,
Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về nhà nước và
5
pháp luật, về thực hiện pháp luật và pháp chế XHCN, về pháp luật về kiểm soát
TTHCCT và thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT. Chủ trương, đường lối và
quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển nền KTTT
định hướng XHCN, hội nhập kinh tế quốc tế cũng là cơ sở lý luận của luận án.
Các lý thuyết nghiên cứu cụ thể trong luận án đó là: Lý luận chung về
nhà nước và pháp luật, Các lý thuyết kinh tế của kinh tế học, Lý luận về pháp
luật cạnh tranh và các học thuyết của pháp luật cạnh tranh.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
[31, tr.16]. Trên cơ sở các nguồn tài liệu có được về vấn đề nghiên cứu bao gồm các
quy định pháp luật, các hồ sơ vụ việc, các tài liệu hướng dẫn áp dụng, các công
trình nghiên cứu… luận án phân tích và tổng hợp các đánh giá, bình luật, dự đoán
về vấn đề nghiên cứu và tìm câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu đặt ra.
- Phương pháp thống kê:
Luận án sử dụng phương pháp thống kê để hệ thống hóa các tài liệu liên
quan đến vấn đề nghiên cứu. Phương pháp này được thực hiện nhằm nghiên cứu
các chương 1, 2 và chương 3.
Cách thức thu thập số liệu trong phương pháp thống kê là thu thập gián tiếp
(Desk Study), bao gồm: Kế thừa các công trình nghiên cứu đã được công bố;
tổng hợp các nguồn số liệu thông qua các báo cáo, tổng kết của các nguồn thông
tin chính thức; tổng hợp thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại
chúng: Báo chí, Internet...
- Phương pháp điều tra xã hội học:
Luận án sử dụng phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi.
+ Mục đích: Thu thập thông tin, số liệu về nhận thức của doanh nghiệp về
pháp luật cạnh tranh; nhận thức của doanh nghiệp về TTHCCT, hành vi
TTHCCT vi phạm pháp luật và thái độ, hình thức thực hiện pháp luật mà doanh
nghiệp lựa chọn trong thực tiễn; các đề xuất, kiến nghị của doanh nghiệp nhằm
đảm bảo thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam.
+ Công cụ thực hiện điều tra là bảng hỏi, bên cạnh các câu hỏi có sẵn các
phương án trả lời còn có những câu hỏi về ý kiến khác khi không trả lời theo câu
hỏi đóng. Kết quả điều tra khảo sát cho phép tiến hành những suy luận thống kê,
đo lường và đánh giá mối liên hệ giữa các biến số về nhận thức, thái độ, năng lực
của doanh nghiệp khảo sát đến hành vi thực hiện pháp luật về kiểm soát
TTHCCT. Từ kết quả thu được ở số lượng mẫu đã điều tra thực tế tại địa bàn
nghiên cứu nhằm khái quát cho tổng thể.
7
Điểm mới và cũng là đóng góp khoa học quan trọng của luận án chính là vận
8
dụng lý luận về thực hiện pháp luật để nghiên cứu một lĩnh vực cụ thể là kiểm
soát TTHCCT, từ đó phát hiện ra những điểm đặc thù của thực hiện pháp luật
trong lĩnh vực này, cụ thể như sau:
- Luận án góp phần hệ thống hóa, làm sáng tỏ cơ sở lý luận thực hiện pháp
luật về kiểm soát TTHCCT. Luận án đã từ các lý thuyết kinh tế và lý thuyết pháp
lý phân tích, luận giải cơ sở kinh tế-pháp lý của pháp luật về kiểm soát TTHCCT
và xây dựng khái niệm, chỉ ra các đặc điểm, nội dung và các điều kiện bảo đảm
thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT.
- Luận án phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng thực hiện pháp luật về
kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam hiện nay, góp phần nhận dạng những dấu hiệu
nghi vấn về việc không bảo đảm thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT
trong thực tiễn, thậm chí vi phạm pháp luật. Từ đó chỉ ra những ưu điểm, hạn
chế và nguyên nhân trong việc thực hiện pháp luật và đề xuất quan điểm, giải
pháp để bảo đảm thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần xây dựng hệ thống lý luận về thực
hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT. Những nghiên cứu về thực trạng pháp luật
và các đề xuất hoàn thiện pháp luật là những đóng góp cho công tác lập pháp. Kết
quả nghiên cứu về thực trạng thực hiện pháp luật và những giải pháp đảm bảo thực
hiện pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả của công tác thực hiện pháp luật trong
thực tiễn. Những kết quả của luận án sẽ góp phần nâng cao nhận thức của các cơ
quan, tổ chức và nhân dân về thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt
Nam, từ đó từng bước hiện thực hóa những giải pháp được đề xuất trong Luận án.
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn như trên, luận án có thể sử dụng làm tài
liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong việc
chỉ đạo và thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT; là tài liệu tham khảo khi sửa
đổi, bổ sung những chính sách, pháp luật về kiểm soát TTHCCT. Luận án cũng có
TTHCCT. Các tác giả cũng nghiên cứu về vai trò của nhà nước trong nền
KTTT. Mục tiêu tổng quát mà nhà nước can thiệp vào nền KTTT là để sửa
chữa các thất bại của thị trường, trong đó công cụ hữu hiệu nhất của nhà
nước chính là luật pháp. Để nền kinh tế có thể vận hành một cách bình
thường, nhà nước cần tạo ra môi trường pháp lý, bao gồm các quy tắc ứng
xử phù hợp với các quy luật của thị trường.
Bài viết: "Về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh" của tác giả Trần Thị Nguyệt
[53] đã tiếp cận từ vị trí và ảnh hưởng của hành vi TTHCCT trong lý thuyết về
cạnh tranh và thực tiễn về cạnh tranh trong nền KTTT để đưa ra khái niệm, phân
10
loại THCCT, tiêu chí để cấm TTHCCT trong bối cảnh nền KTTT còn chưa hoàn
thiện của Việt Nam. Không chỉ dừng lại ở góc độ nghiên cứu kinh tế học, bài
viết có khuyến nghị rằng khác với các lĩnh vực pháp luật khác, pháp luật cạnh
tranh nói chung và pháp luật chống TTHCCT nói riêng chỉ có thể hiểu được, vận
dụng trong mối quan hệ mật thiết với các tiêu chí hiệu quả của kinh tế học.
Các nghiên cứu dưới góc độ luật học sau đó đã tiếp thu những kết quả
nghiên cứu về TTHCCT dưới góc độ kinh tế học này, tiêu biểu như bài viết:
"Cạnh tranh và các dạng thức thoả thuận hạn chế cạnh tranh" của tác giả
Nguyễn Thị Hồng Vân [71] đã tiếp cận hành vi TTHCCT trên nền tảng các lý
thuyết kinh tế để bình luận và đề xuất giải pháp xây dựng hoàn thiện pháp luật
về kiểm soát TTHCCT.
Luận án đã tiếp thu các luận cứ về cơ sở kinh tế - pháp lý này làm nền tảng
lý luận nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm của TTHCCT, xây dựng pháp luật
và vai trò, các điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về TTHCCT ở Việt
Nam hiện nay, đề xuất sửa đổi pháp luật về kiểm soát TTHCCT.
1.1.1.2. Nghiên cứu pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
- Các nội dung lý luận về pháp luật về kiểm soát TTHCCT đã được nhiều
luật về kiểm soát TTHCCT: Định nghĩa, những đặc điểm cơ bản của
TTHCCT và bình luận về điểm tương đồng và khác biệt trong các quy định
pháp luật về kiểm soát TTHCCT của Việt Nam, nêu và đánh giá những nội
dung pháp lý cơ bản về pháp luật kiểm soát TTHCCT Việt Nam.
Ấn phẩm: "Cẩm nang về Luật cạnh tranh Việt Nam" của tác giả Alice
Phạm [55] vận dụng các lý thuyết kinh tế học để luận giải về TTHCCT,
nghiên cứu các vụ việc TTHCCT cũng như so sánh pháp luật để đánh giá thực
trạng pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam, từ đó đưa ra kiến nghị về:
Thị phần của doanh nghiệp tham gia thỏa thuận, mở rộng phạm vi điều chỉnh
và mở rộng quy mô pháp lí của Luật Cạnh tranh ra ngoài biên giới lãnh thổ...
là những điểm đã được nghiên cứu sinh tiếp thu cho nghiên cứu của mình.
Bài báo: "Một số bất cập trong pháp luật điều chỉnh hành vi hạn chế
cạnh tranh của Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh [2] đã nêu lên
những hạn chế của Luật Cạnh tranh 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Luận án đã tiếp thu ý tưởng về quy định miễn trách nhiệm cho doanh nghiệp
tham gia vào các TTHCCT bị cấm nhưng tự nguyện khai báo với cơ quan
quản lí cạnh tranh cho nghiên cứu của mình.
12
Tài liệu tọa đàm: "Chính sách khoan hồng và tác động phá vỡ Cartel"
của Trung tâm Thông tin Cạnh tranh thuộc Cục CT&BVNTD [66] đã phát
hành gồm tham luận của nhiều tác giả, tập trung trao đổi về cơ chế pháp luật
tạo thuận lợi cho việc "đầu thú" của các bên tham gia vào TTHCCT để
khuyến khích việc tự đưa vụ việc ra ánh sáng nhằm hưởng những ưu đãi miễn
trừ của pháp luật và đánh giá thực trạng pháp luật về kiểm soát TTHCCT Việt
Nam đã thiếu hẳn các quy định về chính sách khoan hồng cũng như cơ chế áp
dụng pháp luật trong thực tiễn.
- Bên cạnh đó, một số tác giả cũng nghiên cứu thực trạng pháp luật kiểm
soát TTHCCT Việt Nam trên cơ sở so sánh với pháp luật nước ngoài.
quy tắc, điều kiện áp dụng để đảm bảo thực hiện pháp luật về kiểm soát
TTHCCT Việt Nam.
1.1.1.3. Các nghiên cứu về thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh
- Những nghiên cứu liên quan đến lý thuyết thực hiện pháp luật về kiểm
soát TTHCCT.
Các vấn đề lý luận chung về thực hiện pháp luật được nghiên cứu chi tiết trong
các giáo trình về lý luận chung nhà nước và pháp luật. Ngoài ra còn có các công
trình tiêu biểu như "Thực hiện pháp luật - những vấn đề lý luận và thực tiễn" của
tác giả Nguyễn Văn Mạnh [48] phân tích về Khái niệm thực hiện pháp luật, các
hình thức thực hiện và các chủ thể thực hiện pháp luật tương ứng với mỗi hình thức,
nội dung, các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật ở
nước ta. Để làm rõ hơn về một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật có công
trình: "Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Minh Đoan
[32] đã nghiên cứu về các vấn đề: Thực tiễn pháp luật, áp dụng pháp luật, quy trình
thực hiện và áp dụng pháp luật, những bảo đảm thực hiện pháp luật, áp dụng pháp
luật tương tự, giải thích pháp luật và hiệu quả thực hiện pháp luật ở Việt Nam.
Nghiên cứu sinh sử dụng các tài liệu này làm nền tảng lý luận để từ đó nghiên cứu
về thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT.
Nhận thức về vai trò và chức năng của nhà nước trong nền KTTT là nền
tảng của lý thuyết về xây dựng và thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT, đề
cao hay coi nhẹ vai trò của nhà nước, nhà nước can thiệp vào các quy luật của thị
trường hay nhà nước kiến tạo sẽ trực tiếp quyết định việc cấm hay kiểm soát
cạnh tranh, chống hay chỉ kiểm soát TTHCCT, miễn trừ cho độc quyền nhà nước
hay không, cơ chế và phương thức kiểm soát và xử lý vi phạm… Sách "Nhà
14
nước kiến tạo phát triển - Lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam" của Vũ
Công Giao và Trịnh Quốc Toản [35] với các tham luận của nhiều tác giả về nhà
luận về quá trình tố tụng cạnh tranh và tố tụng hành chính của 04 vụ việc hạn chế
cạnh tranh ở Việt Nam, thị phần và vai trò trong giải quyết vụ việc TTHCCT, vai
trò của hiệp hội doanh nghiệp. Đề tài đã tham khảo các thông tin về tình hình
16
thực hiện pháp luật trong vòng mười năm qua, những bình luận về pháp luật và
thực hiện pháp luật, về vai trò của nhà nước, doanh nghiệp, hiệp hội doanh
nghiệp trong thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT.
Hội thảo: "Đánh giá 10 năm thực thi luật và chính sách cạnh tranh tại Việt
Nam" của Cục Quản lý cạnh tranh [21] đã tập trung vào điểm mấu chốt là mối
quan hệ phối hợp giữa cơ quan quản lý cạnh tranh và cơ quan quản lý ngành để
thực hiện tốt cả hai nhiệm vụ là bảo vệ cạnh tranh và điều tiết ngành. Hội thảo có
các tham luận đánh giá tổng quan về kết quả thực thi Luật cạnh tranh; các hoạt
động phối hợp xây dựng và thực thi Luật và chính sách cạnh tranh giai đoạn
2005-2015; mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan cạnh tranh và Cơ quan quản lý
ngành trong hoạt động xây dựng và thực thi chính sách và pháp luật cạnh tranh...
Giá trị tham khảo tài liệu hội thảo là những thông tin về tình hình thực tiễn thực
thi pháp luật cạnh tranh trong vòng mười năm qua, vai trò của cơ quan quản lý
cạnh tranh trong việc áp dụng pháp luật và mối quan hệ với các cơ quan nhà
nước khác trong thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT.
Bộ tài liệu mang tên chung: "Hồ sơ các vấn đề cạnh tranh" của CUTS
Hanoi Resource Centre [10] đã có bài viết về các vấn đề cạnh tranh ở Việt Nam,
đưa ra những phân tích về pháp luật và các vụ việc vi phạm pháp luật. Một phần
nhỏ phân tích và bình luận vụ việc TTHCCT trong bộ tài liệu này đã gợi mở
những ý tưởng về chính sách và pháp luật để có thể đảm bảo thực hiện pháp luật
về kiểm soát TTHCCT trong thực tiễn Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu như Luận án tiến sĩ Luật học: "Pháp luật hạn
chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay"
của Nguyễn Thị Tình [61] không nghiên cứu tổng quát thực hiện pháp luật về
cần phải sử dụng những chính sách vi mô và vĩ mô để kiểm soát nó. Các tác
giả cũng đưa ra những trường hợp TTHCCT vi phạm pháp luật đã bị xử lý và
bình luận về một số điều kiện thị trường, yếu tố tác động đã thúc đẩy hình
thành và phát triển của TTHCCT.
Bộ sách: "Foundations and Trends® in Microeconomics" (Những nền
tảng và xu hướng trong kinh tế vi mô) của Joseph E. Harrington Jr [100] đã
tập trung vào "How Do Cartels Operate?" (TTHCCT hoạt động như thế nào?).
Tác giả nghiên cứu khoảng 20 Quyết định giải quyết vụ việc các-ten của Ủy
ban Châu Âu trong giai đoạn 2000-2004 dưới góc độ kinh tế học để rút ra cơ
chế vận hành của một các-ten. Các công trình nghiên cứu về TTHCCT dưới
góc độ kinh tế khác cũng tương tự hai công trình trên, tập trung làm rõ khái
18
niệm, nguồn gốc, bản chất, động cơ hình thành... và cơ chế phá vỡ TTHCCT
một cách hữu hiệu nhất.
Các nghiên cứu về TTHCCT dưới góc độ luật học tập trung vào rõ vấn đề
thống nhất ý chí của một TTHCCT. Trong bài nghiên cứu về: "Combinations,
Concerted Practices and Cartels: Adopting the Concept of Conspiracy in
European Community Competition Law" (Sự kết hợp, phối hợp hành động và
TTHCCT: Áp dụng khái niệm về âm mưu trong Luật cạnh tranh EU) của tác giả
Julian M. Joshua & Sarah Jordan [103] hướng tới xác định khái niệm rộng nhất
của "thỏa thuận" theo hai hệ thống pháp luật cạnh tranh nổi bật nhất hiện nay là
pháp luật cạnh tranh EU và Hoa Kỳ. Tác giả nhận định rằng để có một
TTHCCT, trước hết, phải có một "thỏa thuận", và chỉ cần chứng minh các bên có
"thỏa thuận" với nhau là có thể xác định vi phạm pháp luật chứ không đòi hỏi
chứng minh các bên đã có hành động trong thực tiễn.
Cho rằng trong thực tế việc xác định một TTHCCT là công việc khó khăn
vì cơ sở lý luận và pháp lý về TTHCCT còn nhiều điểm chưa hoàn thiện, trong các
bài viết: "Objective and Subjective Theories of Concerted Action” (Lý thuyết về