Thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở việt nam hiện nay (tt) - Pdf 54

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ TRÂM

THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ KIÓM SO¸T
THO¶ THUËN H¹N CHÕ C¹NH TRANH
ë VIÖT NAM HIÖN NAY

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

HÀ NỘI - 2019


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS,TS. Phạm Minh Tuấn
2. TS. Lê Đinh Mùi

Phản biện 1: ............................................................
............................................................

Phản biện 2: ............................................................
............................................................

Phản biện 3: ............................................................
............................................................

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

lực, thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam tuy có một số
kết quả khả quan nhưng vẫn có rất nhiều vấn đề cần phải quan tâm. Về
phía cơ quan quản lý nhà nước, việc áp dụng pháp luật về kiểm soát
TTHCCT chưa đầy đủ, chưa thông suốt, xử lý vi phạm pháp luật còn nhiều
lúng túng. Cho tới hiện nay cơ quan quản lý cạnh tranh chỉ mới xử lý hoàn
tất hai vụ việc TTHCCT vi phạm pháp luật, mặc dù trong báo cáo thường
niên cơ quan này luôn nhận định TTHCCT hiện đang rất phổ biến tại Việt
Nam. Về phía cộng đồng doanh nghiệp, bên cạnh các doanh nghiệp
nghiêm túc thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT, vẫn đang tồn tại rất
nhiều "thỏa thuận ngầm", là biểu hiện của việc thực hiện pháp luật không
nghiêm chỉnh, thậm chí cố tình vi phạm pháp luật.
Xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa
(XHCN), chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam
chủ trương "tôn trọng và vận dụng đầy đủ, đúng đắn các quy luật và cơ chế
vận hành của KTTT" và "các chủ thể tham gia thị trường đều được coi
trọng, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và


2
văn minh"... Để thực hiện chủ trương của Đảng, để bảo vệ cạnh tranh bình
đẳng và bảo vệ các chủ thể tham gia thị trường, cần nghiên cứu làm rõ
luận cứ khoa học của thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT, đánh giá
những kết quả đạt được và những vấn đề hạn chế, bất cập, nguyên nhân của
thành công và hạn chế của việc thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở
Việt Nam thời gian qua, từ đó xác định các quan điểm và giải pháp bảo đảm
thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT trong thời gian tới.
Từ lý luận và thực tiễn có thể thấy nghiên cứu về thực hiện pháp luật
về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam là một yêu cầu bức thiết trong giai
đoạn hiện nay. Do đó nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề: "Thực hiện pháp
luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay"


3
01/7/2005 đến nay. Về mặt không gian: Đề tài nghiên cứu thực hiện pháp
luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam, nghiên cứu kinh nghiệm của EU
và Hoa Kỳ để rút ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam nhưng không
so sánh các hệ thống pháp luật. Về mặt nội dung: Đề tài nghiên cứu về
thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT với các TTHCCT theo chiều
ngang, không nghiên cứu về các TTHCCT theo chiều dọc.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được nghiên cứu trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác –
Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về
nhà nước và pháp luật, về thực hiện pháp luật và pháp chế XHCN, về pháp
luật về kiểm soát TTHCCT và thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT.
Chủ trương, đường lối và quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nước pháp
quyền, phát triển nền KTTT định hướng XHCN, hội nhập kinh tế quốc tế
cũng là cơ sở lý luận của luận án. Các lý thuyết nghiên cứu cụ thể trong
luận án đó là: Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, các lý thuyết kinh
tế của kinh tế học, Lý luận về pháp luật cạnh tranh và các học thuyết của
pháp luật cạnh tranh.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác
nhau tùy thuộc vào nội dung cần nghiên cứu, cụ thể là: Phương pháp phân
tích - tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp điều tra xã hội học và
phương pháp so sánh.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có tính hệ thống và toàn
diện đầu tiên về thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam
hiện nay. Điểm mới và cũng là đóng góp khoa học quan trọng của luận án

là tài liệu tham khảo khi sửa đổi, bổ sung những chính sách, pháp luật về
kiểm soát TTHCCT. Luận án cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho công
tác nghiên cứu và giảng dạy tại các cơ sở đào tạo về pháp luật cạnh tranh
và những đề tài nghiên cứu có liên quan đến TTHCCT.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ
lục, nội dung luận án được kết cấu làm 4 chương, 11 tiết.

Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Luận án đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo hai
nhóm: Nhóm các công trình nghiên cứu trong nước và Nhóm các công
trình nghiên cứu ở nước ngoài. Trong từng nhóm lại đánh giá theo từng
vấn đề cụ thể: Nghiên cứu về TTHCCT, pháp luật về kiểm soát TTHCCT,
thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT.
1.2. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.2.1. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu, luận án đưa ra đánh giá như sau:
Thứ nhất, các nghiên cứu kinh tế học và luật học trong nước và quốc
tế đã nghiên cứu về các vấn đề lý luận của TTHCCT và pháp luật về kiểm


5
soát TTHCCT, các quan điểm đưa ra cơ bản là thống nhất với nhau. Vì thế
nghiên cứu sinh tiếp thu những kết quả nghiên cứu này, lựa chọn những

kiểm soát TTHCCT của nước ngoài và những giá trị tham khảo cho Việt
Nam hiện nay.
Về thực tiễn, luận án cần tập trung làm rõ: Thực trạng pháp luật về
kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam, những kết quả và những hạn chế; Thực
trạng thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam hiện nay,
thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, những bài học kinh nghiệm trong việc
thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam hiện nay.


6
Về giải pháp để giải quyết vấn đề: Xây dựng luận cứ đề xuất các quan
điểm và giải pháp bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật về kiểm soát
TTHCCT.
1.2.2.2. Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu
Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu và căn cứ vào các lý thuyết
có liên quan đến chủ đề nghiên cứu, luận án đặt ra giả thuyết nghiên cứu
và câu hỏi nghiên cứu.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương này luận án đã tiến hành tổng quan các công trình
nghiên cứu trên các sách, báo, tạp chí, đề tài khoa học cấp nhà nước, cấp
bộ, các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, các hội thảo khoa học, bài viết
của các tác giả trong và ngoài nước về những vấn đề lý luận và thực tiễn
liên quan đến đề tài “Thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay”.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài được chia thành các nhóm
chính: Những công trình nghiên cứu về TTHCCT, về pháp luật về kiểm soát
TTHCCT và những công trình nghiên cứu liên quan tới lý thuyết và thực tiễn
thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT trong nước và quốc tế.
Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài, đánh giá

chính sách, kế hoạch, công cụ kinh tế… để định hướng hành vi TTHCCT
của các chủ thể, đặt các chủ thể trong phạm vi, quyền hành và trách nhiệm,
kiểm tra việc thực hiện trong thực tiễn, xác định và xử lý hành vi vi phạm
đồng thời tiến hành các điều chỉnh nhằm đạt được mục tiêu bảo vệ cạnh
tranh trong nền KTTT.

2.1.1.3. Pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Pháp luật về kiểm soát TTHCCT là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà
nước thừa nhận, ban hành và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong việc kiểm soát TTHCCT để bảo vệ cạnh tranh và
bảo đảm trật tự thị trường trong nền KTTT, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và của
người tiêu dùng.
2.1.1.4. Thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT là một quá trình hoạt động
có ý thức, có chủ định của các chủ thể pháp luật để đưa các quy định của
pháp luật về kiểm soát TTHCCT vào thực tiễn cuộc sống trở thành những
hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật nhằm bảo vệ cạnh tranh tự do,
bình đẳng trên thị trường, góp phần tạo lập môi trường kinh doanh lành
mạnh và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia thị
trường cũng như của toàn xã hội.
2.1.2. Đặc điểm của thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh
2.1.2.1. Thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh được tiến hành bởi nhiều chủ thể có địa vị pháp lý khác nhau
Cơ quan cạnh tranh là chủ thể thực thi quyền lực nhà nước, là chủ thể
tổ chức thực hiện pháp luật và sử dụng phương pháp quyền uy, mệnh lệnh
đối với các chủ thể còn lại. Doanh nghiệp và hiệp hội doanh nghiệp là chủ
thể thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT trên cơ sở tuân thủ sự tổ
chức thực hiện của chủ thể nhà nước, được thực hiện các quyền và phải thi

LUẬT VỀ KIỂM SOÁT THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH
2.2.1. Nội dung pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
2.2.1.1. Cơ sở kinh tế - pháp lý của pháp luật về kiểm soát thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh
Các lý thuyết của kinh tế học được sử dụng để lý giải cơ chế hình
thành, bản chất và cơ chế phá vỡ một TTHCCT, từ đó làm cơ sở để xây
dựng các quy định pháp luật về kiểm soát TTHCCT phù hợp với quy luật
vận hành của một TTHCCT trong thị trường.
2.2.1.2. Kết cấu và nội dung chủ yếu của pháp luật về kiểm soát thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh
Pháp luật về kiểm soát TTHCCT thường được xây dựng theo kết cấu
hành vi-cấm-xử lý vi phạm-miễn trừ/khoan hồng, gồm các nội dung chủ
yếu sau: Quy định về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh; Các quy định


9
cấm; Quy định về xử lý vi phạm pháp luật về kiểm soát TTHCCT; Quy
định về miễn trừ đối với TTHCCT vi phạm pháp luật; Quy định về chính
sách khoan hồng.
2.2.2. Hình thức thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn
chế cạnh tranh
2.2.2.1. Tuân thủ pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Tuân thủ pháp luật về kiểm soát TTHCCT là hình thức thực hiện pháp luật,
trong đó, các chủ thể pháp luật tự kiềm chế để không thực hiện những hành vi,
hoạt động mà pháp luật về kiểm soát TTHCCT nghiêm cấm thực hiện.
2.2.2.2. Thi hành pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Thi hành pháp luật về kiểm soát TTHCCT là một hình thức thực hiện
pháp luật, trong đó, các chủ thể pháp luật thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ
pháp lý của mình bằng các hành động tích cực. Hình thức thi hành pháp
luật được thực hiện đối với những điều luật quy định về nguyên tắc và

TTHCCT là các tổ chức, cá nhân kinh doanh không phân biệt sở hữu, cơ
cấu tổ chức hay là lĩnh vực kinh doanh. Đây là các đối thủ cạnh tranh trên
cùng một thị trường liên quan, là thực thể kinh tế độc lập, có khả năng tự
lựa chọn được cách xử sự cho mình và có lợi ích riêng biệt.
2.2.3.3. Chủ thể hiệp hội
Các hiệp hội đều không phải là cá nhân, tổ chức kinh doanh nên không
phải là một bên tham gia TTHCCT. Tuy nhiên hiệp hội có thể phối hợp
hoạt động giữa các thành viên, rất thuận lợi cho những hoạt động hợp tác,
thỏa thuận, Do đó, hiệp hội trở thành chủ thể đặc biệt trong thực hiện pháp
luật về kiểm soát TTHCCT.
2.3. VAI TRÒ VÀ ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SOÁT THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH
2.3.1. Vai trò của thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn
chế cạnh tranh
2.3.1.1. Thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh góp phần xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa Việt Nam
Thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT là sự vào cuộc của Nhà
nước để bảo vệ quy luật cạnh tranh, đảm bảo quyền gia nhập thị trường
của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ cơ chế thị trường, trật tự thị trường,
kiểm soát tình trạng độc quyền hóa thị trường.
2.3.1.2. Thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh góp phần bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh
nghiệp, của người tiêu dùng, của xã hội
Thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT góp phần hiện thực hóa
các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, bảo vệ lợi ích công cộng
trong nền KTTT định hướng XHCN Việt Nam.
2.3.1.3. Thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh góp phần hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa

2.3.2.2. Các bảo đảm về kinh tế
Thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT cần được bảo đảm về xây
dựng các thiết chế kinh tế và bảo đảm về cơ sở vật chất, kinh phí và hạ
tầng kỹ thuật cho các hoạt động triển khai pháp luật về kiểm soát
TTHCCT trong thực tiễn.
2.3.2.3. Các bảo đảm về văn hoá - xã hội
Trình độ nhận thức của các chủ thể kinh doanh, đạo đức kinh doanh,
văn hoá kinh doanh cũng như tập quán, quan niệm xã hội đều có tác động
không nhỏ đến thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT.
2.3.2.4. Các bảo đảm về pháp luật
Thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT thực sự đạt hiệu quả khi
có một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện. Chất lượng của hệ thống
pháp luật về thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT là một trong
những cơ sở đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật đạt được kết quả, đồng


12
thời cho phép dự báo được khả năng hiện thực hóa các quy định pháp luật
trong thực tiễn. Đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật về
kiểm soát TTHCCT dựa vào các tiêu chí cơ bản, đó là: tính toàn diện, tính
thống nhất đồng bộ, tính phù hợp và trình độ kỹ thuật pháp lý.
2.4. THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT THỎA THUẬN
HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ
THAM KHẢO CHO VIỆT NAM
2.4.1. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ
Thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT của Hoa Kỳ có những
điểm nổi bật là: Thứ nhất, yêu cầu tuân thủ nghiêm pháp luật về kiểm soát
TTHCCT; thứ hai, khuyến khích sử dụng quyền xin hưởng khoan hồng;
thứ ba, áp dụng pháp luật với tất cả các công cụ pháp lý.
2.4.2. Thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh

pháp luật của các chủ thể để tương tác đem lại hiệu quả cao nhất.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 của Luận án có tiêu đề: Cơ sở lý luận của thực hiện pháp
luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Phù hợp với tiêu đề trên, tại Chương 2 đã sử dụng các Lý thuyết của
kinh tế học và luật học để luận thuyết về vai trò kiểm soát của nhà nước
đối với TTHCCT nhằm bảo vệ môi trường kinh doanh, bảo vệ nền kinh tế
thị trường. Để thực hiện vai trò đó, nhà nước cần phải xây dựng pháp luật
với các nội dung điều chỉnh phù hợp với bản chất và cơ chế vận hành của
một TTHCCT, đảm bảo các điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
để bảo đảm thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT. Các nội dung lý
luận này là căn cứ có giá trị để đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng
pháp luật và thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT tại Việt Nam ở
Chương 3, cũng là cơ sở cho việc đề xuất và luận chứng các quan điểm,
giải pháp ở Chương 4. Ngoài ra, Chương 2 nghiên cứu kinh nghiệm thực
hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT của Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ,
rút ra những kinh nghiệm có thể áp dụng tại Việt Nam. Những kinh
nghiệm này là cơ sở để đề xuất một số giải pháp tại Chương 4.

Chương 3
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SOÁT THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH
3.1. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT THỎA THUẬN
HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1.1. Quá trình hình thành, phát triển pháp luật về kiểm soát
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Trong lĩnh vực pháp luật kinh tế, pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam ra
đời khá muộn. Pháp lệnh Giá số 40/2002/PL-UBTVQH có thể được xem
là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên có một điều khoản quy định về

giới. Ba là, quy định về xử lý vi phạm pháp luật chưa phân định rõ hình
thức xử lý đối với từng nhóm TTHCCT bị cấm, căn cứ để xác định mức
phạt chưa chính xác và những quy định về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
chưa đầy đủ. Bốn là, các quy định về miễn trừ thiếu bao quát, cách tiếp cận
về các điều kiện miễn trừ còn đơn giản chưa thực sự đi vào bản chất của
TTHCCT. Năm là, một số nội dung quan trọng chưa được pháp luật điều
chỉnh, dẫn đến pháp luật về kiểm soát TTHCCT Việt Nam thiếu hoàn
thiện, tính khả thi thấp.
Những thành tựu, những hạn chế của pháp luật về kiểm soát TTHCCT
như trên đều có những tác động tích cực và tiêu cực đến thực trạng thực
hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam hiện nay.
3.2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT
THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.2.1. Thực trạng thực hiện các quy định về hành vi thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh và những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm


15
3.2.1.1. Thực trạng triển khai thực hiện các quy định về hành vi
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và những thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh bị cấm
Kể từ khi Luật Cạnh tranh 2004 có hiệu lực thi hành, cơ quan quản lý
cạnh tranh và doanh nghiệp đã có nhiều nỗ lực để đưa pháp luật về kiểm
soát TTHCCT đi vào thực tiễn. Tuy thế kết quả thu được còn rất hạn chế,
kết quả điều tra xã hội học của tác giả cho thấy dù đã qua hơn 13 năm thi
hành pháp luật, vẫn còn có 9,2% doanh nghiệp chưa biết về Luật Cạnh
tranh 2004.
3.2.1.2. Thực trạng thực hiện các quy định về hành vi thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh và những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm
qua những vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh vi phạm pháp luật đã

3.2.4. Thực trạng thực hiện các quy định về miễn trừ và giảm nhẹ
hình phạt
Các quy định về miễn trừ chỉ mới được thực hiện trong năm 2018 với
hai trường hợp doanh nghiệp hàng không đề nghị và được hưởng miễn trừ
đối với TTHCCT. Về giảm nhẹ hình phạt, dù Luật Cạnh tranh 2004 và văn
bản hướng dẫn thi hành có quy định về "Tự nguyện khai báo về hành vi vi
phạm trước khi cơ quan có thẩm quyền phát hiện" và "Đối tượng vi phạm
tự nguyện cung cấp chứng cứ, thông tin liên quan đến hành vi vi phạm mà
cơ quan có thẩm quyền trước đó chưa biết" có tác dụng giảm nhẹ hình phạt
cho doanh nghiệp đã có hành vi TTHCCT vi phạm pháp luật, tuy nhiên
trong suốt quá trình thực hiện pháp luật thời gian, đã không có doanh
nghiệp nào thực hiện quy định này.
3.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
KIỂM SOÁT THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
3.3.1. Các ưu điểm và hạn chế
3.3.1.1. Về ưu điểm
So với nhiều quốc gia trên thế giới, thực hiện pháp luật về kiểm soát
TTHCCT ở Việt Nam là những hoạt động chưa có tiền lệ, chưa có kinh
nghiệm đối với cộng đồng, với các chủ thể kinh doanh và với cơ quan
quản lý nhà nước. Thế nhưng thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT
vẫn đạt được những kết quả đáng khích lệ, đó là: Nhận thức của doanh
nghiệp, hiệp hội, cơ quan nhà nước, của toàn xã hội về pháp luật kiểm soát
TTHCCT và yêu cầu thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT đã từng
bước nâng cao; Cộng đồng doanh nghiệp bước đầu đã có hành vi tích cực
tuân thủ, thi hành và sử dụng pháp luật về kiểm soát TTHCCT; Cơ quan
quản lý cạnh tranh, đã không ngừng nghiên cứu, tìm tòi các phương thức
triển khai đa dạng và phù hợp với nền KTTT của Việt Nam.
3.3.1.2. Về những hạn chế
Tuy có thành tựu nhưng những kết quả đạt được như trên là rất khiêm

nghiệm, tiền lệ nhưng công tác hướng dẫn thi hành chưa được quan tâm
đúng mức. Thứ tư, nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về thực hiện
pháp luật về kiểm soát TTHCCT còn rất hạn chế cộng thêm tâm lý e ngại
dẫn đến sự thiếu tích cực của các chủ thể kinh doanh. Thứ năm, trong quá
trình thực hiện pháp luật, cơ quan quản lý cạnh tranh cũng gặp một số trở
ngại trong việc phối hợp thực hiện từ các cơ quan, tổ chức và các cá nhân
liên quan, trong đó có cả một số cơ quan quản lý nhà nước. Thứ sáu, địa vị
và mô hình cơ quan cạnh tranh chưa hợp lý, chưa củng cố được vị thế để
đảm bảo thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình. Thứ bảy, khó khăn về
nhân sự, về trình độ chuyên môn. Thứ tám, kinh phí dành cho quá trình
triển khai, thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam chưa
phù hợp.
3.3.3. Bài học kinh nghiệm trong thực hiện pháp luật về kiểm soát
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam


18
Một là, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật là rất cần thiết, càng
đặc biệt cần thiết với một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ như pháp luật về
kiểm soát TTHCCT.
Hai là, phải chú trọng đến việc hỗ trợ doanh nghiệp tăng cường khả
năng tuân thủ, thi hành và sử dụng pháp luật về kiểm soát TTHCCT.
Ba là, thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT cần sự nỗ lực không
chỉ của cơ quan quản lý cạnh tranh và cộng đồng doanh nghiệp, của hiệp
hội mà còn cần sự chung tay của các cơ quan quản lý nhà nước khác, của
toàn thể các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội.
Bốn là, cơ quan quản lý cạnh tranh phải đủ mạnh, đủ công cụ pháp lý
để triển khai thực hiện pháp luật, có khả năng phát hiện và xử lý nghiêm
minh các hành vi TTHCCT vi phạm pháp luật.
Năm là, thiết lập hệ thống phương tiện thông tin đại chúng để thông

4.1.1. Bảo đảm thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh phải quán triệt sâu sắc quan điểm về xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam
Bảo đảm thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam trên
cơ sở các quan điểm: Thứ nhất, quán triệt quan điểm xây dựng nền KTTT
vận hành theo đúng các quy luật nội tại của mình trong khuôn khổ nhà
nước pháp quyền XHCN Việt Nam; Thứ hai, quán triệt quan điểm phải
bảo vệ cạnh tranh tự do, bình đẳng để xây dựng nền KTTT và Nhà nước có
trách nhiệm ngăn chặn các hành vi làm hạn chế, làm cản trở, làm triệt tiêu
cạnh tranh trong thị trường.
4.1.2. Bảo đảm thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh phải tập trung mục tiêu bảo vệ cạnh tranh tự do và bình
đẳng, duy trì và bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, hiệu quả
Thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT là để bảo vệ cạnh tranh,
bảo vệ động lực của sự phát triển, phân bổ hiệu quả các nguồn lực, tăng
cường hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế, góp phần mang lại lợi ích cho
doanh nghiệp, người tiêu dùng và toàn xã hội.
4.1.3. Thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh phải bảo đảm phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã
tham gia, ký kết hoặc phê chuẩn
Thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT phải quán triệt Nghị quyết
số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XII và hướng tới mục tiêu cụ thể mà Nghị quyết số
11-NQ/TW ngày 3/6/2017, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa XII về hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN đặt
ra đến năm 2020 là phấn đấu hoàn thiện một bước đồng bộ hơn hệ thống
thể chế KTTT định hướng XHCN theo các chuẩn mực phổ biến của nền
KTTT hiện đại và hội nhập quốc tế.
4.1.4. Thực hiện pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh trên tinh thần kế thừa, học hỏi có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế

tình hình cạnh tranh. Các hiệp hội doanh nghiệp cần chung tay với cơ quan
quản lý nhà nước để tạo điều kiện hỗ trợ tốt nhất cho thành viên của mình
cũng như thực hiện vai trò phổ biến, giáo dục pháp luật cho thành viên.
Bản thân các doanh nghiệp cũng cần có ý thức phối hợp tốt nhất cùng cơ
quan quản lý cạnh tranh, xây dựng mối quan hệ tương tác, trách nhiệm với
cộng đồng, với người tiêu dùng trong xã hội.
4.2.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh
4.2.2.1. Khẳng định vị trí luật chung của pháp luật về kiểm soát thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh trong mối quan hệ với các văn bản pháp luật
chuyên ngành
Cần bổ sung quy định mang tính nguyên tắc đó là "Các văn bản luật
khác điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh trong các lĩnh vực cụ thể không


21
được trái với các quy định của Luật Cạnh tranh " và "Cơ quan quản lý cạnh
tranh là cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong việc xử lý các hành vi vi
phạm pháp luật về kiểm soát TTHCCT" để đảm bảo tính đồng bộ giữa các
văn bản quy phạm pháp luật, giải quyết xung đột trong thẩm quyền của cơ
quan quản lý nhà nước và phù hợp với vị trí vai trò của Ủy ban Cạnh tranh
Quốc gia trong Luật Cạnh tranh 2018.
4.2.2.2. Hoàn thiện các quy định hiện hành của pháp luật về kiểm
soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Việt Nam
Mặc dù Luật Cạnh tranh (sửa đổi) 2018 đã được ban hành và sẽ thay
thế Luật Cạnh tranh 2004 từ ngày 01/7/2019, vẫn tồn tại những hạn chế
cần sửa đổi, bổ sung trong các quy định về hành vi TTHCCT, các quy định
cấm, các quy định xử lý vi phạm pháp luật và các quy định miễn trừ.
4.2.2.3. Bổ sung các quy định pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn
chế cạnh tranh

bên bất hợp tác.
4.2.3.3. Nâng cao chất lượng hoạt động của thành viên Ủy ban
Cạnh tranh Quốc gia, tiếp tục xây dựng và phát triển đội ngũ điều tra
viên vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Cần tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao kiến thức, trình độ của
thành viên Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đồng thời xây dựng và tổ chức
thực hiện Chiến lược phát triển đội ngũ điều tra viên vụ việc hạn chế cạnh
tranh một cách hiệu quả.
4.2.4. Nhóm giải pháp tăng cường hợp tác quốc tế trong thực hiện
pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Trước hết, Việt Nam cần thực hiện có trách nhiệm các điều ước quốc
tế đã tham gia; Cơ quan cạnh tranh cần tích cực tham gia các diễn đàn quốc
tế để học hỏi kinh nghiệm và tìm kiếm sự hợp tác từ các cơ quan cạnh tranh
quốc tế; Chủ động tham gia và chia sẻ về thông tin, tham vấn liên quan đến
thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT, chuẩn bị tư duy cũng như các
điều kiện cần thiết để phối hợp với các cơ quan điều tra các nước khác trong
việc điều tra các TTHCCT xuyên biên giới; Cơ quan cạnh tranh cần xây
dựng chiến lược hợp tác quốc tế trong thực hiện pháp luật cạnh tranh; Tập
trung sử dụng hiệu quả sự hỗ trợ từ hợp tác quốc tế các nội dung: Tuyên
truyền về pháp luật, hội thảo chuyên sâu về xây dựng pháp luật và các hoạt
động thực hiện pháp luật, đào tạo điều tra viên vụ việc hạn chế cạnh tranh.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

Bảo đảm thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT hiện nay cần dựa
trên các quan điểm có tính chất chỉ đạo như sau: Bảo đảm thực hiện pháp
luật về kiểm soát TTHCCT phải quán triệt sâu sắc quan điểm về xây dựng
nền KTTT định hướng XHCN của Đảng Cộng sản Việt Nam; Bảo đảm
thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT phải quán triệt mục tiêu bảo vệ
cạnh tranh tự do và bình đẳng, duy trì và bảo vệ môi trường cạnh tranh
lành mạnh, hiệu quả; Thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT phù hợp

khái niệm thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT, đặc điểm và hình
thức thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT; vai trò và những điều
kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT; kinh nghiệm
thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT của EU và Hoa Kỳ cùng với
các giá trị tham khảo cho Việt Nam.
2. Trên cơ sở nền tảng của các vấn đề lý luận, luận án đã đánh giá khá toàn
diện về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về kiểm soát TTHCCT
ở Việt Nam, phân tích, đánh giá các thành tựu và hạn chế của nội dung pháp
luật này; phân tích, đánh giá những ưu và nhược điểm của thực trạng thực hiện
pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam trong thời gian qua, xác định
những nguyên nhân cơ bản dẫn đến các ưu điểm và hạn chế đó. Trên cơ sở
nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng, luận án đã rút ra 5 bài học kinh
nghiệm trong việc thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT ở Việt Nam.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status