ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
LẦU A TRỪ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG THỨC BÓN PHÂN ĐẾN
SINH TRƯỞNG CỦA CÂY HOÀNG ĐẰNG (FIBRAUREA TINCTORIA
LOUR ) TẠI XÃ SAM MỨN, HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Quản lý tài nguyên rừng
Khoa
: Lâm nghiệp
Khóa học
: 2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
ᄃ
Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Văn Thái
Thái Nguyên, năm 2018
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi. Các số
liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung
thực, chưa công bố trên các tài liệu. Khóa luận đã được giáo viên hướng dẫn
xem và chỉnh sửa. Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Thái Nguyên, ngày ... tháng ... năm 2018
i
XÁC NHẬN CỦA GIẢNG VIÊN
HD
NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Lầu A Trừ
TS. Nguyễn văn thái
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
(Ký, họ và tên)
Bảng 3.2. Các thông số được phân tích mẫu đất............................................. 27
Bảng 4.1. Kết quả tổng hợp phẫu diện đất tại xã Sam Mứn, huyện Điiện Biên.33
Bảng 4.2. Kết quả phân tích đất khu vực có cây Hoàng đằng phân bố...........34
Bảng 4.3. Kết quả khảo sát lô đất dự kiến trồng cây Hoàng Đằng..................36
Bảng 4.4. Kỹ thuật trồng cây Hoàng đằng đã áp dụng....................................37
Bảng 4.5. Tỷ lệ sống của cây Hoàng Đằng sau 5 tháng trồng.........................38
Bảng 4.6. Sinh trưởng đường kính cổ rễ cây Hoàng Đằng Doo(mm).............39
Bảng 4.7. Kết quả phân tích phương sai một nhân tố đối với sự tăng trưởng
đường kính cổ rễ..............................................................................40
Bảng 4.8. Sai dị từng cặp |(Xi) -̅ (Xj) ̅ | cho lượng tăng trưởng đường kính cổ
rễ......................................................................................................................41
Bảng 4.9. Sinh trưởng chiều cao vuốt ngọn cây Hoàng Đằng Hvn(cm)........42
Bảng 4.10. Kết quả phân tích phương sai một nhân tố đối với sự tăng trưởng
chiều cao vút ngọn...........................................................................43
Bảng 4.11. Tính hình sâu, bệnh hại................................................................. 44
Bảng 4.12. Động thái ra lá...............................................................................45
Bảng 4.13. Kết quả nghiên cứu động thái kích thước lá..................................47
4
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 4.1. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ sống của cây Hoàng Đằng sau 5 tháng trồng...
39 Hình 4.2. Sinh trưởng đường kính cổ rễ cây Hoàng Đằng Doo(mm)........40
Hình 4.3. Biểu đồ thể hiện sinh trưởng chiều cao vuốt ngọn cây Hoàng Đằng
Hv (cm)........................................................................................... 43
Hình 4.4. Kết quả théo dõi động thái ra lá.......................................................46
Hình 4.5. Hình ảnh lá của cây Hoàng đằng.....................................................47
ĐDSH
: Đa dạng sinh học
VQG
: Vường quốc gia
KBTTN
: Khu bảo tồn thiên nhiên
WHO
: Tổ chức y tế thế giới
KBT
: Khu bảo tồn
VHTTDL
: Văn hóa thể thao du lịch
WWE
: Đấu vật giải trí thế giới
CT
2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu.................................................13
2.3.2. Những lợi thế để phát triển kinh tế xã hội............................................22
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
......................................................................................................................... 24
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 24
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu.............................................................24
3.3. Nội dung nghiên cứu................................................................................ 24
vii
3.3.1. Đánh giá thực trạng điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu.................24
3.3.2. Nghiên cứu xây dựng mô hình và ảnh hưởng của công thức bón phân
đến sinh trưởng của cây Hoàng đằng......................................................... 24
3.3.3. Nghiên cứu tình hình sâu bệnh hại........................................................25
3.3.4. Nghiên cứu động thái ra lá của cây Hoàng đằng...................................25
3.3.5. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Hoàng đằng.............25
3.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 25
3.4.1. Phương pháp nghiên cứu chung............................................................ 25
3.4.2. Cách tiếp cận của đề tài.........................................................................25
3.4.3. Phương pháp nghiên cứu cụ thể............................................................ 25
PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH.......................................................... 31
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội nơi thiết kế......................................... 31
4.1.2. Nhu cầu của người dân..........................................................................33
4.1.3. Đất đai.................................................................................................. 33
4.2. Kết quả nghiên cứu xây dựng mô hình và ảnh hưởng của công thức bón
phân đến sinh trưởng của cây Hoàng đằng.................................................35
4.2.1. Kết quả chọn địa điểm xây dựng mô hình trồng Hoàng đằng...............35
4.2.2. Khảo sát điều tra khu vực nghiên cứu xây dựng mô hình.....................35
4.2.3. Kết quả xây dựng mô hình trồng cây Hoàng đằng................................37
phong phú và đa dạng. Chúng đã được con người nghiên cứu và sử dụng từ
xưa tới nay. Trong thời kỳ tân dược chưa phát triển thì đây là nguồn thuốc
chữa bệnh chính.
Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour) là cây dược liệu có giá trị kinh
tế cao, phân bố khá rộng ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á như Việt
Nam, Lào, Campuchia. Ở nước ta, Hoàng đằng thường phân bố trong các
trạng thái rừng thứ sinh ở các tỉnh miền núi từ Bắc vào Nam với độ cao dưới
1.000m so với mực nước biển. Do có nguy cơ bị tuyệt chủng nên loài cây này
đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam từ năm 1996 (thuộc nhóm IIA) cần phải
bảo vệ (theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP)[7]. Rễ và thân Hoàng đằng là một
trong những vị thuốc được dùng nhiều trong y học cổ truyền để chữa các
chứng viêm tấy, lỵ trực trùng, lở ngứa, mụn nhọt, sốt da vàng, đau mắt đỏ, các
bệnh về đường tiêu hoá. Ngoài ra, Hoàng đằng còn là nguyên liệu chiết xuất
Palmatin làm thuốc nhỏ mắt hoặc tổng hợp thuốc an thần. Trong tự nhiên, loài
cây này trước đây rất phong phú, nhưng do khai thác quá mức và liên tục
trong nhiều năm, cùng với việc phát nương làm rẫy nên đã bị suy giảm cả về
số lượng và chất lượng.
Để phục vụ cho công tác bảo tồn, thương mại hoá sản phẩm và phát
triển kinh tế vùng nông thôn miền núi nói chung và tại Điện Biên nói riêng,
việc nghiên cứu nhân giống để gây trồng cây Hoàng đằng là cần thiết và có ý
nghĩa cả khoa học và thực tiễn.
2
Xuất phát từ lí do trên tôi tiến hành thực hiện Khóa luận tốt
nghiệp: “Nghiên cứu ảnh hưởng của công thức bón phân đến sinh trưởng
của cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria) tại Sam Mứn, huyện Điện Biên
tỉnh Điện Biên”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
5
PHẦN 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học
Về cơ sở sinh học
Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng
cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài. Việc hiểu rõ hơn về đặc tính
sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử
dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực
vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật.
Về cơ sở bảo tồn
Biến đổi khí hậu, chặt phá rừng làm cho nhiều loài động, thực vật đứng
trước nguy cơ tuyệt chủng chính vì vậy công tác bảo tồn loài, bảo tồn đa dạng
sinh học ngày càng được quan tâm và chú trọng.
Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính
phủ Việt Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công
tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên. Sách đỏ IUCN công bố văn bản
năm 2004 (Sách đỏ 2004) vào ngày 17 tháng 11, 2004. Văn bản này đã đánh
giá tất cả 38.047 loài, cùng với 2.140 phân loài, giống, chi và quần thể. Trong
đó, 15.503 loài nằm trong tình trạng nguy cơ tuyệt chủng gồm 7.180 loài
động vật, 8.321 loài thực vật, và 2 loài nấm.
Nghị định 32/NĐ-CP ngày 30/3/2006 về quản lý thực vật rừng, động
vật rừng nguy cấp, quý, hiếm [7].
Nghị định 160/2013/NĐ-CP Về Tiêu Chí Xác Định Loài Và Chế Độ
Quản Lý Loài Thuộc Danh Mục Loài Nguy Cấp, Qúy, Hiếm Được Ưu Tiên
Bảo Vệ [8].
Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH có rất nhiều loài động thực
vật được xếp vào cấp bảo tồn CR, EN và VU cần được bảo tồn, nhằm gìn giữ
công tác bảo tồn cây thuốc có hiệu quả, cần phải căn cứ vào tình hình của mỗi
quốc gia, từ đó đưa ra các giải pháp và chương trình hành động phù hợp[1].
Theo Gao-Xiong Rao et al (2009)[17], với các loài cây thân gỗ và cây
bụi sống nhiều năm trong các hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới,nhu cầu về ánh
sáng thường thay đổi qua các giai đoạn phát triển khác nhau.Đây là yếu tố
sinh thái hết sức quan trọng góp phần quyết định đến sựp hân bố, khả năng
sinh trưởng,phát triển và tạo ra năng suất sinhvật học của cây.Cùng với ánh
sáng thì các đặc điểm về tính chất đất đai,đặc biệt là hàm lượng các yếu tố
dinh dưỡng trong đất cũng đóng vai trò chi phối quan trọng đến khả năng cho
năng suất của cây. Chính vì vậy nghiên cứu về ảnh hưởng của yếu tố ánh
sáng, đất đai và phân bón tới sinh trưởng, phát triển của cây là những nội
dung không thể thiếu trong nghiên cứu gây trồng và bảo tồn các loài cây
thuốc bản địa[6],[17].
Hoàng
đằng
(Fibraurea
tinctoria
Lour)
thuộc
họ
Tiết
không bao giờ vượt quá 7 đến 10% diện tích bề mặt trái đất, vì các vùng đất
còn lại có tầm quan trọng sinh học khác đã được quản lý cho mục đích sản
xuất, v.v…
Mặt khác, trên thế giới hiện nay có khoảng hơn 1.500 vườn thực vật,
đang lưu giữ và trồng trọt một lượng rất lớn các loài thực vật, ước chừng
khoảng 80.000 loài trong điều kiện nhân tạo, mỗi vườn khoảng vài trăm đến
hàng nghìn loài, trong đó có các loài cây thuốc (Heywood, 1992). Vườn thực
vật lớn nhất thế giới là Vườn Thực vật Hoàng gia Anh Quốc tại Kew lưu giữ
khoảng 38.000 loài, trong đó bảo tồn rất nhiều loài cây thuốc. Vai trò quan
trọng của các vườn thực vật trong việc bảo tồn đa dạng sinh học nói chung,
cây thuốc nói riêng cũng đã được minh họa bởi việc mở rộng mạng lưới của
19 vườn thực vật ở Mỹ với Trung tâm bảo tồn thực vật. Tại đây ước tính có
3.000 taxon đặc hữu ở Mỹ bị đe dọa tuyệt chủng
Ngoài ra, các vườn thực vật cũng tham gia vào chương trình hồi phục
các loài thực vật nguy cấp và các hệ sinh thái bị suy thoái. Sự đóng góp của
các vườn thực vật đối với công tác bảo tồn loài mở rộng ra đối với các loài
đang bị đe dọa ngoài tự nhiên. Theo hướng này, các vườn thực vật cung cấp
cây giống cho các nghiên cứu và vùng trồng cấy cây thuốc. Chúng cũng là nơi
triển khai các hoạt động giáo dục kỹ năng và ý thức bảo tồn cho cộng đồng.
Tóm lại, bảo tồn cây thuốc trên thế giới hiện được triển khai theo hai hình
thức chính:
+ Bảo tồn cây thuốc theo hình thức bảo tồn nguyên vị hay tại chỗ (in
situ); đây là hình thức bảo tồn thực hiện tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn
thiên nhiên. Theo hình thức này, các loài cây thuốc bị đe dọa được bảo tồn
ngay tại nơi chúng phân bố hay đã từng phân bố.
+ Bảo tồn cây thuốc theo hình thức chuyển vị (exsitu): thường thực
hiện tại các vườn thực vật, các trang trại hoặc vườn rừng. Hình thức này còn
bao gồm cả các biện pháp bảo tồn trong các phòng thí nghiệm và viện nghiên
trong Danh lục Đỏ được đánh giá theo khung phân hạng IUCN (2001). Đến
năm 2007, nâng số loài trong Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam lên 144 loài,
thuộc 58 họ thực vật bậc cao có mạch. Trong cuốn cẩm nang này, thuộc ngành
Lá thông (Psilotophyta): 1 loài; ngành Thông đất (Lycopodiophyta): 1 loài;
ngành Dương xỉ (Polypodiophyta): 2 loài; ngành Thông (Pinophyta): 17 loài;
ngành Ngọc lan (Magnoliophyta): 123 loài. Tất cả các loài trong Danh lục Đỏ
đã được đánh giá về mức độ bị đe dọa theo IUCN (2001) cụ thể như sau:
Thuộc cấp CR (Critically Endangered) có 18 loài. Thuộc cấp EN (Endangered)
có 57 loài. Thuộc cấp VU (Vulnerable) có 69 loài [2].
Bảo tồn nguyên vị các loài cây thuốc tại các khu bảo tồn là hình thức chủ
yếu ở Việt Nam trong thời gian vừa qua. Sau ngày thống nhất đất nước, hệ
thống các khu bảo tồn được dần dần mở rộng, bổ sung và hoàn thiện cả về quy
mô diện tích, và hệ thống quản lý bảo vệ. Hệ thống các khu bảo tồn của Việt
Nam hiện
nay có 211 khu, bao gồm: Các khu bảo tồn rừng (khu rừng đặc dụng) thuộc Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn đang quản lý là: 128 khu (đã được Chính
phủ công nhận); Các khu bảo tồn biển do Bộ Thủy sản đề xuất là: 15 khu; Khu
bảo tồn đất ngập nước do Bộ Tài nguyên và môi trường đề xuất: 68 khu.
Các KBT đất ngập nước và trên biển hiện mới chỉ mới đề xuất, nhưng chưa có
quyết định phê duyệt chính thức [10].
Hiện nay xu hướng bảo tồn cây thuốc đang được triển khai nghiên cứu tại
nhiều VQG và KBTTN của Việt Nam (VQG Jork Đôn, KBTTN Pù Mát,
VQG Cát Bà,…). Theo hướng nghiên cứu này nhiều công trình đang được triển
khai trong thời gian hiện nay, điển hình như:
Phạm Hữu Hạnh, Hà Văn Nam thực hiện đề tài: “Nghiên cứu nhân
giống cây Hoàng Đằng tại Quảng Ninh”(2012). Với mục tiêu bảo tồn và phát
triển cây Hoàng Đằng (Fibraurea tinctoria) trên đất Quảng Ninh, bảo tồn
nguồn gen hướng tới công tác cải thiện giống cây Hoàng Đằng và bổ sung
tổ chức đào tạo, tập huấn và truyền thông cho người dân để nâng cao nhận thức
về bảo tồn, sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc nói chung và cây thuốc dân tộc
nói riêng [13].
Đồng thời bảo được chi thức bản địa về sử về sử dụng các loài cây thuốc
chữa bệnh của cộng đồng dân tộc Việt Nam (Ngày 10/4/2010). Viện dược liệu
đã tổ chức Hội thảo tổng kết 12 năm thực hiện dự án Bảo tồn nguồn cây thuốc
cổ truyền)[13].
Dự án “Bảo tồn nguồn gen cây thuốc Nam”, tại xã Bình Dương (Vĩnh
Tường, Vĩnh Phúc) được tiến hành năm 1999 do Quỹ Môi trường toàn cầu tài
trợ, đã: vận động trên 800 hộ xây dựng vườn thuốc gia đình, gieo trồng 70 loài
cây thuốc có giá trị kinh tế; xây dựng mô hình trồng cây thuốc dưới tán cây;
mô hình trồng xen cây thuốc với cây ăn quả; xây dựng được một vườn bảo tồn
cây thuốc Nam tại khu lưu niệm Bác Hồ (thôn Lạc Trung). Tổng diện tích cây
thuốc năm 1999 là 20.366 m2, năm 2000 tăng hơn gấp đôi, 43.896m2. Ngoài
ra còn
trồng xen ghép 8 loài cây thuốc có giá trị kinh tế như: Địa liền, Nghệ đen, Mã
đề, Hoài Sơn, Cúc hoa, Bạch chỉ, Ngưu tất, Nhãn trên diện tích 4.440m2[10]
Dự án "Vườn thuốc nam” do Hội Thanh niên Việt Nam tại Pháp tài trợ
(tháng 2/2010) đã xây dựng, bảo tồn và phát triển mạng lưới vườn dược thảo,
gồm những cây thuốc quý tại 5 xã của huyện A Lưới là: Bắc Sơn, Hồng Trung,
Đông Sơn, Hồng Thái và Hồng Thượng. Vườn thuốc nam đã trở thành "tủ
thuốc" chăm sóc sức khỏe ban đầu hữu hiệu cho người dân ở đây[18].
Ngoài hai biện pháp trên, còn có rất nhiều biện pháp khác nhằm mục đích
góp phần bảo tồn các loài cây thuốc ở Việt Nam, như:
Biện pháp về giáo dục, bao gồm: xây dựng nguồn nhân lực, mở rộng các
hoạt động truyền thông và nâng cao nhận thức về đa dạng sinh học;
Biện pháp về quản lý, bao gồm: quản lý vùng đệm, bảo tồn đa dạng sinh
học dựa vào cộng đồng, giảm sức ép về dân số;
tồn đã thu được nhiều kết quả khả quan, tuy nhiên đứng trước nhu cầu sử
dụng ngày càng cao về dược liệu từ thiên thiên và sự khan hiếm dược liệu do
các yếu tố khách quan, chủ quan mang lại thì cần thiết phải có những nghiêm
cứu nhằm phát triển bền vững nguồn gen, đưa cây dược liệu trở thành cây
trồng hàng hóa, phục vụ cho nhu cầu sử dụng dược liệu của ngươi dân.
2.3. Tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
2.3.1.1.Vị trí địa lý:
Sam Mứn là một xã miền núi nằm ở phía Đông Nam huyện Điện Biên,
cách huyện Điện Biên và Thành phố Điện Biên Phủ khoảng 15 km, xã có
đường quốc lộ 279 chạy qua. Tiếp giáp với các đơn vị hành chính như sau:
- Phía Đông giáp xã Núa Ngam.