CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA
VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG
PHÁP NÊU VẤN ĐỀ
TRONG DẠY HỌC MÔN
GIÁO DỤC CÔNG DÂN
PHẦN "CÔNG DÂN VỚI
ĐẠO ĐỨC" TẠI TRUNG
TÂM GIÁO DỤC
THƯỜNG XUYÊN
GIỒNG RIỀNG
-Cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp nêu
vấn đề trong dạy học môn GDCD phần "Công dân với
đạo đức" ở Trung tâm GDTX Giồng Riềng-Kiên Giang
Khái niệm về phương pháp dạy học nêu vấn đề
Theo nhóm tác giả Đinh Văn Đức, Dương Thị Thúy Nga:
"PPDH nêu vấn đề là PPDH trong đó GV tạo ra các tình huống
mâu thuận, đưa HS vào trạng thái tâm lí tìm tòi, khám phá, từ
đó hướng dẫn, khích lệ HS tìm cách giải quyết để năm được
kiến thức, phát triển trí tuệ và thái độ học tập" [16,tr152].
Dạy học nêu vấn đề cũng không chỉ hạn chế ở phạm trù
phương pháp dạy học, việc áp dụng tiếp cận này đòi hỏi phải
cải tạo cả nội dung, cả cách tổ chức dạy và học trong mối liên
hệ thống nhất. Riêng trong phạm vi phương pháp dạy học, nó
có khả năng thâm nhập vào hầu hết các phương pháp dạy học
khác và làm cho tính chất của chúng tích cực hơn. Chẳng hạn,
phương pháp thuyết trình thông báo tái hiện, phương pháp
đàm thoại, nếu quán triệt tiếp cận mới sẽ trở thành thuyết
trình nêu vấn đề và đàm thoại nêu vấn đề. Phương pháp dạy
học nêu vấn đề còn được gọi là phương pháp dạy học giải
vấn đề, người học tự mình tìm ra kiến thức, phát hiện những
vấn đề nảy sinh trong cuộc sống. Dưới sự hướng dẫn của
giáo viên, học sinh nhận dạng vấn đề, trình bày và bảo vệ
cách giải quyết vấn đề của mình, tranh luận đúng sai với bạn
bè, và giáo viên là người đưa ra kết luận. Từ đó học sinh tự
điều chỉnh, tự đánh giá và rút ra kết luận, bổ sung kho tri
thức của mình” [28,tr59].
Theo nhóm tác giả Đinh Văn Đức, Dương Thị Thúy
Nga, Nguyễn Như Hải,... trong giáo trình Phương pháp dạy
học môn GDCD ở trường trung học phổ thông: "Phương
pháp dạy học nêu vấn đề là phương pháp dạy học, trong đó
giáo viên tạo ra các tình huống mâu thuẩn, đưa học sinh vào
trạng thái tâm lí phải tìm tòi, khám phá, từ đó hướng dẫn,
khích lệ học sinh tìm cách giải quyết để nắm được kiến thức,
phát triển trí tuệ và thái độ học tập" [16tr152].
Như vậy, hầu hết tác giả đều coi PPDH nên vấn đề đề là
việc người dạy tạo ra các tình huống có vấn đề, định hướng
cho HS nhu cầu phát hiện và giải quyết các vấn đề nảy sinh
làm cho học sinh phát huy tính độc lập, phát triển tư duy nhận
thức.
Như vậy, “Phương pháp dạy học nêu vấn đề là hệ thống
phương pháp dạy học, đặt học sinh trước một nhiệm vụ nhận
thức, thông qua việc giáo viên tạo ra một chuỗi tình huống có
vấn đề, học sinh ý thức được vấn đề đó và kích thích học sinh
tự lực giải quyết một cách sáng tạo hoặc dưới sự hướng dẫn và
định hướng của giáo viên, học sinh giải quyết vấn đề, kiểm tra,
kết luận rút ra nhằm thực hiện tối ưu các nhiệm vụ dạy học”
[36tr110].
về trí tuệ của con người, xuất hiện khi anh ta chưa biết cách
giải thích hiện tượng, sự kiện, quá trình của thực tế, khi chưa
thể đạt được mục đích bằng cách thức hành động quen thuộc.
Tình huống này kích thích con người tìm tòi cách giải thích hay
hành động mới. Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt
động nhận thức sáng tạo, có hiệu quả. Nó quy định sự khởi đầu
của tư duy, hành động tư duy tích cực sẽ diễn ra trong quá trình
nêu vấn đề và giải quyết các vấn đề” [22,tr30].
Còn có những ý kiến khác nhau về tình huống có vấn đề,
nhưng chung quy lại các tác giả đều gặp nhau ở chỗ họ cho
rằng: “Tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lý độc đáo, khó
khăn về mặt trí tuệ nãy sinh ở con người trong những tình
huống khách quan, mâu thuẫn giữa những điều đã biết và
những điều chưa biết, đòi hỏi phải giải quyết không phải bằng
tri thức đã có hoặc bằng cách thức đã biết trước đây mà phải
tìm tri thức hoặc cách thức hoạt động mới”.
Tình huống có vấn đề là vấn đề trung tâm, là điểm khởi
đầu để hình thành kiểu dạy học nêu vấn đề. V.OKon cho rằng:
“Nét bản chất của dạy học nêu vấn đề không phải là đặt những
câu hỏi mà là tạo ra những tình huống có vấn đề”.
Điều kiện để có tình huống có vấn đề.
Thứ nhất: Điều kiện về mặt tâm lý.
Qua bài giảng có thể do tính mới lạ của sự kiện, do tính
chất mâu thuẫn trong diễn biến của quá trình phát triển, mỗi
sự vật, hiện tượng, hoặc tính “có vấn đề” của các câu hỏi
mang tính chất bài tập nhận thức… học sinh chưa hiểu được,
tạo ra ở học sinh một trạng thái tâm lý đặc biệt. Theo đó, ở
học sinh xuất hiện nhu cầu nhận thức cái chưa biết nhưng cần
xuất hiện. Điều quan trọng là giáo viên phải khéo léo đặt ra
vấn đề và phải khéo léo gợi ra được sự hứng thú nghe thầy
giảng khi bài học cung cấp những tri thức mới, khi thầy có
phương pháp dạy học sinh động, lôi cuốn, kích thích các em
tìm tòi, học hỏi thêm ngoài những điều đã lĩnh hội trên lớp.
Cũng qua trình bày bài giảng, giáo viên phải nêu được vấn
đề trong tình huống có vấn đề, tức là những kiến thức có tính trừu
tượng, khái quát nhất định. Những vấn đề này học sinh chưa biết
nhưng do yêu cầu nhận thức, bắt buộc các em phải biết. Trong
DH NVĐ, giáo viên có thể đặt ra những tình huống có vấn đề cơ
bản và những tình huống phụ trợ để giải quyết các tình huống có
vấn đề cơ bản.
Nội dung trình bày của GV khi gợi ra những tình huống
có vấn đề phải tạo ra được bầu không khí sáng tạo, sinh động
trong lớp học. Từ đó các em sẽ hứng thú, say mê trong việc
tìm tòi, tiếp thu kiến thức. Khi giảng dạy, tình huống có vấn
đề được tạo nên từ các cơ sở như: từ bản thân nội dung bài
giảng, từ cách giáo viên trình bày bài giảng và hướng dẫn học
sinh tìm cách lập luận mới cho các vấn đề được đặt ra.
Hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề.
Ở bước này được coi là khâu quan trọng trong dạy học
nêu vấn đề. Hoạt động chủ yếu của giáo viên là tạo những
tình huống có vấn đề, trong tình huống có vấn đề chứa đựng
những vấn đề nhận thức, từ đó hướng dẫn học sinh nhận thức
ra vấn đề cần giải quyết và tìm cách giải quyết một cách tự
lực bằng cách dựa vào kiến thức đã có, học sinh nêu lên các
cách kết hợp giữa phương pháp nêu vấn đề và phương pháp
thuyết trình. Giáo viên sử dụng phương pháp thuyết trình
nhằm gợi mở vấn đề nghiên cứu, những tri thức học sinh đã
biết và từ đó đưa ra những nghi vấn hoặc những câu hỏi tình
huống để tạo nên nhu cầu nhận thức của học sinh, khêu gợi ở
học sinh nhu cầu “không chủ định” theo dõi lôgíc của bài dạy.
Sau khi tạo ra tình huống có vấn đề, người giáo viên tự mình
giải quyết vấn đề đó thay vì học sinh giải quyết. Mức độ này
phù hợp với dạy học những bài khó, những vấn đề phức tạp
mà học sinh chưa thể tự lực giải quyết đầy đủ được. Cũng có
thể vận dụng vào giai đoạn mà học sinh mới làm quen với
phương pháp dạy học mới, chưa chủ động giải quyết vấn đề.
Nêu vấn đề tìm tòi bộ phận.
Trong một bài giảng hoặc trong một phần giảng mà
không thể thực hiện được phương pháp nêu vấn đề toàn phần
thì giáo viên có thể sử dụng mức độ nêu vấn đề một phần.
Trong bài giảng có nhiều nội dung liên quan với nhau nhưng
có những phần học sinh không thể tự lực giải quyết được, có
những phần học sinh có thể tự giải quyết được thì giáo viên
vận dụng nêu vấn đề một phần. Các phần khác giáo viên có
thể sử dụng các phương pháp khác để trang bị cho học sinh tri
thức để giải quyết vấn đề còn lại bằng cách nêu vấn đề.
Nêu vấn đề toàn phần.
“Đây chính là mức độ cao nhất trong phương pháp dạy
học nêu vấn đề. Ở hình thức này dưới sự hướng dẫn, dẫn dắt
khéo léo của giáo viên, học sinh tự mình giải quyết toàn bộ
những vấn đề nêu ra trong bài giảng. Mức độ này đảm bảo
Từ vấn đề vừa nêu, giáo viên gợi ý cho hệ thống lại kiến
thức đã có của mình, bằng các PP GV có tạo ra sự xác thực
những tri thức HS đã có, từ đó dẫn dắt học sinh tìm hiểu
những điều chưa biết hoặc biết chưa đầy đủ bằng hệ thống câu
hỏi phù hợp.
Kết luận vấn đề.
Trong bước này giáo viên cần thực hiện cá nội dung:
Thảo luận kết quả và đánh giá; Khẳng định hoặc bác bỏ giả
thuyết nêu ra; phát biểu kết luận; Đề xuất vấn đề mới.
Các mức độ của dạy học nêu vấn đề.
Có thể khái quát 4 mức độ giải quyết vấn đề như sau:
GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề; HS tìm cách
giải quyết theo hướng dẫn của GV, và đánh giá kết quả.
GV nêu vấn đề, gợi ý cho HS tìm ra cách giải quyết sau đó
GV và HS cùng đánh giá kết quả đã thực hiện được.
GV tạo tình huống có vấn đề, HS phát hiện và xác định
vấn đề và HS tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn biện pháp
thực hiện.
Mức độ mà HS tự bản thân phát hiện vấn đề, lựa chọn
vấn đề giải quyết; HS tự đánh giá và giáo viên bổ sung ý kiến.
- Những ưu điểm điểm và hạn chế của phương pháp
nêu vấn đề:
- Ưu điểm:
Nêu vấn đề là một lối dạy học vận dụng khả năng sáng tạo
của học sinh, qua dẫn dắt của GV, HS tự mính nghiên cứu, khám
phá, lĩnh hộ trí thức mới.
Phát triển tính chủ động và khả năng độc lập, phát triển
tư duy sáng tạo, kỹ năng vận dụng kinh nghiệm vào việc
thường mô tả và giải thích các hiện tượng, sự vật, … chiếm
một thời gian rất lớn. Qua bài giảng, giáo viên phải góp phần
từng bước hình thành ở học sinh thói quen tích cực học tập,
biết cách vận dụng các quy luật khách quan, biết sử dụng các
tri thức đã tiếp thu được vào hoạt động thực tiễn, học sinh
phải biết đặt ra và giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của
giáo viên hoặc do bản thân học sinh tự thực hiện.
Môn học GDCD là môn học trang bị cho học sinh những
tri thức cơ bản, về thế giới quan theo chủ nghĩa Mác-Lênin,
kiến thức về đạo đức, nhân cách sống; những kiến thức về
đường lối kinh tế theo chủ trương của Đảng,…vì vậy trong
quá trình dạy học giáo viên phải kết hợp nhiều phương pháp
dạy học, trong đó phương pháp dạy học nêu vấn đề nhằm hình
thành những phẩm chất tốt đẹp cho người học sinh trong thời
kì mới.
PPNVĐ không chỉ nhằm mục đích đem lại kiến thức cho
người học mà còn thông qua đó xây dựng phương pháp tư duy
khoa học, hình thành, phát triển thói quen và năng lực nắm bắt
kịp tri thức theo thời đại và xu thế phát triển của đất nước
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
và hội nhập quốc tế thì việc đào tạo con người mới xã hội chủ
nghĩa càng trở nên cấp thiết, môn Giáo dục công dân càng có
vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển con người của
Đảng và Nhà nước ta. Để đạt được kết quả tốt, bản thân người
học phải chủ động thu nhận, rèn luyện và củng cố phương
pháp tư duy khoa học trong quá trình học tập, phải có sự kết
hợp chặt chẽ giữa giáo viên và học sinh trong dạy - học, trong
đó giáo viên đóng vai trò định hướng, tổ chức; học sinh là
công dân bắt đầu được đưa vào giảng dạy.
Trung tâm tọa lạc tại khu phố 3 thị trấn Giồng Riềng
huyện Giồng Riềng tỉnh Kiên Giang, diện tích 4.100m 2 có 02
hội trường, 15 phòng và chức năng phục vụ công tác giảng
dạy.
Hiện nay, trung tâm có 11 lớp bao gồm cả 3 khối lớp với
số lượng HS là 539 HS. Trong những năm vừa qua, Trung tâm
luôn đạt được những kết quả cao trong các phong trào của Sở
GD&ĐT Kiên Giang tổ chức và tỷ lệ học sinh tốt nghiệp kỳ
thi tốt nghiệp THPT quốc gia với tỷ lệ trên 95% hàng năm.
Giáo viên giảng dạy tại Trung tâm đều có trình độ đại
học chuyên ngành, nhiệt huyết với nghề, có tinh thần đoàn kết
và hỗ trợ nhau trong công tác chuyên môn. Luôn yêu thương
và giúp đỡ học sinh trong học tập và đạc biệt luôn xem trọng
việc giáo dục đạo đức của các em, hướng các em có lối sống
lành mạnh, tránh xa các tệ nạn xã hội, có tính phấn đấu vươn
lên trong học tập.
Tổng số nhân sự 16 cán bộ, giáo viên, nhân viên, trong
đó:
Ban giám đốc: 03; Giáo viên: 10 (trong đó có 03 giáo
viên dạy môn GDCD); nhân viên: 03.
Trình độ chuyên môn
Thạc sĩ 02, Đại học: 12 ; Trung cấp: 02. Đạt chuẩn
nghiệp vụ: 14.
Thâm niên giảng dạy của giáo viên từ 8-24 năm.
100% giáo viên giảng dạy môn GDCD đều có trình độ
Cử nhân Giáo dục Chính trị và đạt chuẩn dạy học theo quy
định của Bộ GD&ĐT.
đến nay được chia làm hai phần với những nội dung như sau:
Phần thứ nhất: Phần này có tổng số 09 bài. Nội dung:
Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp
luận khoa học. Gồm kiến thức về triết học trang bị cho HS về
thế giới quan, PP luận làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho học
sinh.
Phần thứ hai: Phần này có tổng số 07 bài. Nội dung:
Công dân với đạo đức. Bao gồm nội dung một số giá trị đạo
đức của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, giúp
học sinh giải quyết các mối quan hệ xã hội trong thời kì mới
xây dựng CNXH và công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo phân
phối chương trình của Bộ GD&ĐT. Trong phần “Công dân
với đạo đức” được sắp xếp thành 07 bài. Cụ thể:
Bài 10 (1 tiết) Bài : Quan niệm về đạo đức
Mục tiêu
Về kiến thức
Nêu được thế nào là “Đạo đức”.
Học sinh nhận biết được vai trò của đạo đức trong đời
sống xã hội.
Về kỹ năng
Phân biệt được sự giống và khác nhau giữa đạo đức,
pháp luật và phong tục tập quán.
Lý giải được một số vấn đề đạo đức trong lịch sử xã hội
Việt Nam.
Về thái độ
Có ý thức điều chỉnh hành vi của bản thân phù hợp với