NGUYÊN tắc và QUY TRÌNH THỰC HIỆN PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM TRONG dạy học môn GIÁO dục CÔNG dân lớp 10 PHẦN “CÔNG dân với đạo đức” ở TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG NGUYỄN DU TỈNH PHÚ yên - Pdf 54

NGUYÊN TẮC VÀ QUY TRÌNH
THỰC HIỆN PHƯƠNG PHÁP
THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY
HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
LỚP 10 PHẦN “CÔNG DÂN VỚI
ĐẠO ĐỨC” Ở TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN DU
TỈNH PHÚ YÊN


- Một số nguyên tắc thực hiện quy trình thảo luận
nhóm
- Đảm bảo mục tiêu môn học
Mục tiêu của môn GDCD được xậy dựng trên cơ sở mục
tiêu giáo dục của cấp học bao gồm chuẩn kiến thức, kĩ năng
và thái độ. Trong đó chuẩn kiến thức, kĩ năng là các yêu cầu
cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của môn học mà học
sinh cần phải và có thể đạt được sau từng giai đoạn học tập.
Chuẩn kiến thức, kĩ năng còn là căn cứ để biên soạn sách giáo
khoa ở từng môn học nhằm bảo đảm tính thống nhất, tính khả
thi của chương trình môn học, đảm bảo chất lượng và hiệu
quả của quá trình dạy học. Mục tiêu dạy học của từng bộ môn
phải được xây dựng trên cơ sở lí luận và thực tiễn, phải quán
triệt mục tiêu chung của cấp THPT.
Căn cứ vào những yêu cầu trên, mục tiêu môn GDCD
được xác định như sau:
Về kiến thức:
- Cung cấp cho học sinh những hiểu biết ban đầu về thế
giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng, hiểu các



chung của cộng đồng. Có ước mơ và mục đích sống cao đẹp.
Việc nhận thức đúng mục tiêu môn học không chỉ dừng
lại về mặt lí luận mà còn phải quán triệt trong mọi hoạt động
của việc dạy học bộ môn. Vì vậy việc thể hiện mục tiêu môn
học trong việc xây dựng chương trình và đổi mới PPDH là rất
quan trọng.
- Đảm bảo tính khoa học:
Nguyên tắc tính khoa học của việc sử dụng phương pháp
thảo luận nhóm trong dạy học môn GDCD là đảm bảo cung


cấp đầy đủ, chính xác hệ thống tri thức cơ bản, thiết thực hiện
đại phù hợp thực tiễn của môn học và đặc điểm nhận thức của
học sinh.
Nội dung môn học nào trong trường THPT cũng phản ánh
một cách đầy đủ, trung thực nhất những tri thức khoa học cơ
bản. Nói cách khác, nội dung của môn học bao giờ cũng mang
tính khoa học. Tính khoa học của nội dung môn học sẽ quyết
định tính khoa học của việc lựa chọn phương pháp và hình
thức tổ chức dạy học bộ môn. Nội dung môn GDCD bao gồm
những vấn đề cơ bản nhất của các môn khoa học Mác - Lênin,
đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật
của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Vì thế,
môn GDCD mang tính khoa học sâu sắc, do đó việc giảng dạy
môn học này cũng phải đảm bảo tính khoa học.
Trong trường THPT, môn GDCD trực tiếp trang bị cho
học sinh một cách có hệ thống những tri thức về thế giới
quan, phương pháp luận, về đạo đức pháp luật, về các vấn đề
kinh tế, chính trị, xã hội. Hệ thống những tri thức này chủ yếu
được trình bày dưới dạng khái niệm, phạm trù, nguyên lí, quy

tri thức mang tính khoa học càng cao bao nhiêu thì việc xây
dựng hệ thống giá trị sẽ càng nhanh chóng và vững chắc bấy
nhiêu. Như vậy, kết quả của việc dạy học môn GDCD không
chỉ đơn thuần là đánh giá mức độ học sinh thu nhận tri thức lí
luận của môn học mà điều cần thiết là đánh giá học sinh ở
mức độ tư tưởng, hành vi và thói quen được thể hiện trong đời
sống hàng ngày. Điều này cũng chỉ có được khi thực hiện tốt
nguyên tắc tính khoa học trong dạy học môn GDCD.
- Nguyên tắc tính thực tiễn:
Các tri thức của môn GDCD ở trường THPT liên quan
trực tiếp với những vấn đề đang diễn ra trong đời sống chính
trị, kinh tế, xã hội...Do đó, nó có tác động trực tiếp và thường
xuyên tới nhận thức, cũng như hành động của học sinh, thông
qua học sinh tác động trực tiếp tới mọi thành viên của xã hội.
Vì vậy, việc giảng dạy và học tập môn GDCD gắn liền với
cuộc sống sinh động của xã hội, làm cho những tri thức của
môn học thực sự là cơ sở cho hành vi và hoạt động của học
sinh chính là bản chất của nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy


học môn GDCD ở trường THPT.
Mọi tri thức khoa học suy cho cùng đều xuất phát từ nhu
cầu thực tiễn, là kết quả nhận thức của con người trong quá
trình hoạt động thực tiễn.
Trong nhà trường, muốn học sinh tiếp thu được các tri
thức khoa học, tránh được sự mò mẫm trong hoạt động nhận
thức thì cần phải khái quát những tri thức khoa học sẽ trang bị
cho học sinh bằng những kết quả thực tiễn, quá trình dạy học
phải luôn liên hệ với thực tiễn, với đời sống. Tri thức được
truyền thụ cho học sinh càng gần với cuộc sống thực tiễn sinh

nếu giáo viên lại sa vào những sự kiện cụ thể mà không
hướng vào việc dùng lí luận để khái quát, lí giải những sự
kiện thì sẽ rơi vào chủ nghĩa duy giác, coi thường lí luận, rơi


vào chủ nghĩa kinh nghiệm, điều đó sẽ làm cản trở việc hình
thành và phát triển tư duy lí luận, tư duy khoa học của học
sinh. Vì thế, chỉ có kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn tri thức
của môn học với thực tiễn sinh động trong quá trình giảng
dạy mới có thể khẳng định giá trị đích thực của môn GDCD,
mới giúp cho học sinh hiểu rõ ý nghĩa của môn học để từ đó
tạo ra sự say mê, niềm tin vào tri thức mà các em được trang
bị.
Trong quá trình dạy học môn GDCD, thông qua nguyên
tắc tính thực tiễn để thực hiện nguyên lí giáo dục: học đi đôi
với hành, nhà trường gắn liền với xã hội, rèn luyện năng lực
sáng tạo và năng lực hoạt động thực tiễn của học sinh.
Một mặt lấy thực tiễn để bổ sung cho nội dung dạy học
GDCD, làm cho nội dung đó ngày càng phong phú, sinh
động, mặt khác tập cho học sinh cách vận dụng tri thức đã
học vào cuộc sống học tập, lao động và các hoạt động khác.
Tuy nhiên để đạt đến những mức độ hoạt động thực tiễn có
hiệu quả, thì giáo viên phải có nghệ thuật sư phạm, học sinh
phải nắm chắc các tri thức của môn GDCD đến mức độ có
thể làm chủ được chúng, sử dụng tương đối thành thạo
chúng trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của


mình.
- Nguyên tắc tính vừa sức:

Nhờ hoạt động vật chất của bộ não nên quá trình nhận
thức của con người diễn ra bao giờ cũng phải phù hợp với quy
luật tâm – sinh lí của con người. Nhờ sự chuyển hóa giữa các
quá trình hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh trung ương
không vượt quá giới hạn quy định của các kích thích mà con
người có phản ứng với ngoại cảnh. Vì thế, với hệ thống tri
thức trừu tượng và khái quát cao của môn GDCD mà đòi hỏi
một cường độ học tập quá cao, vượt quá ngưỡng lĩnh hội tri
thức của học sinh sẽ làm cho học sinh sẽ không thể vượt qua
được khó khăn trong học tập.


Tính vừa sức đòi hỏi phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi,
mỗi độ tuổi gắn liền với sự trưởng thành của những cơ quan
trong cơ thể và những chức năng của các cơ quan đó cũng
như sự tích lũy những kinh nghiệm về mặt nhận thức, mặt xã
hội và hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đó. Do đó, lứa tuổi thay
đổi thì nhu cầu trí tuệ và hứng thú nhận thức cũng biến đổi.
Tuy nhiên, theo định đề của Burns không thể có hai học sinh
giống nhau, vì trong cùng một lứa tuổi cũng có những đặc
điểm khác nhau về hoạt động của hệ thần kinh cao cấp, về sự
phát triển thể chất và tinh thần, về năng lực và hứng
thú...Điều đó cho thấy, vừa sức trong dạy học còn phải chú ý
đến cả những đặc điểm cá biệt của học sinh. Chính vì lí do đó
trong quá trình biên soạn sách giáo khoa GDCD tác giả phải
căn cứ vào đối tượng học sinh, đặc điểm tâm – sinh lí lứa tuổi,
trình độ lĩnh hội tri thức, những tri thức cơ bản và thiết thực
cần trang bị cho học sinh và thời gian hợp lí dành cho môn
học này để xác định được lượng tri thức có thể gây được
những khó khăn vừa sức với học sinh. Vì vậy, trong quá trình

bài học.
Bước 3: Lựa chọn phương pháp, cách thức dạy học,
hướng dẫn học sinh nội dung thảo luận cần chuẩn bị.
Bước 4: Từ bước trên, lập chủ đề thảo luận, cách thức
chia nhóm và phương pháp thảo luận nhóm.
Sau khi đạt được vấn đề, giáo viên hướng dẫn học sinh
tìm đọc tài liệu lien quan. Trước khi tổ chức thảo luận nhóm,
giáo viên phải kiểm tra thử xem nội dung thảo luận nhóm của
học sinh; các điều kiện hỗ trợ cho việc thảo luận...
*Đối với học sinh:
Bước 1: Xác định nội dung bài học
Bước 2: Học sinh xem sách, tài liệu, nghiên cứu, chuẩn
bị nội dung bài học trước khi lên lớp.


Bước 3: Lựa chọn phương tiện hỗ trợ giờ học
- Giai đoạn 2: Tổ chức thảo luận
* Đối với giáo viên:
Bước 1: Xác định mục tiêu, nội dung, vấn đề thảo luận
Bước 2: Giao nhiệm vụ cho từng nhóm, chia nhóm và
hướng dẫn.
Xác định nhiệm vụ, mục tiêu bài học giáo viên chia
nhóm và giao nhiệm vụ cụ thể chio từng nhóm .
Bước 3: Học sinh bắt đầu nghiên cứu
Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm rõ mục tiêu và vấn
đề cần đạt được, ghi chép lại những suy nghĩ của mỗi học
sinh...
Bước 4: Tổ chức thảo luận theo cặp đôi
Hai bạn ngồi gần nhau bàn bạc, trao đổi cùng một chủ
đề. Bước này giáo viên phải quan sát kỹ để nắm bắt tình hình,

Bước 3: Học sinh xác định nội dung bài học, tự nghiên
cứu, chuẩn bị câu trả lời.
Bước 4: Trao đổi, bàn bạc ý kiến với bạn ngồi cạnh. Sau
đó góp ý lẫn nhau để đi đến sự thống nhất chung và sữa chữa
những khuyết điểm của mình.
Bước 5: Thảo luận, trao đổi các ý kiến của các học sinh
trong nhóm. Sau đó, đại diện báo cáo kết quả thảo luận,
những học sinh còn lại trong nhóm đánh gia, nhận xét để bổ
sung kết quả thảo luận
Bước 6: Họa sinh của các nhóm đưa ra chứng kiến của
mình trước lớp học, đồng thời báo cáo kết quả thảo luận của
nhóm.. Những nhóm còn lại nghe và đánh giá ưu, khuyết
điểm.


Bước 7: Phối hợp với giáo viên tự đánh giá, kiểm tra:
Học sinh tập trung nghe và ghi chép những đánh gia, kết luận
của giáo viên để có cơ sở sữa chữa, hoàn thành kết quả học
tập của mình.
- Giai doạn 3: Đánh giá kết quả thảo luận:
* Đối với giáo viên:
Ở giai đoạn này giáo viên giúp học sinh cũng cố các kiến
thức đã học. Trên cơ sở đó rút kinh nghiệm bài học trong quá
trình thảo luận và giao nhiệm vụ cho bài tiếp theo
Bước 1: Cho câu hỏi đẻ học sinh về nhà tự nghiên cứu
với mục đích cũng cố lại kiến thức đã học. Sau đó, giáo viên
sẽ đánh giá hoặc cho học sinh tự đánh giá lẫn nhau về kết quả
học tập.
Bước 2: Chuẩn bị bài tiếp theo
Giáo viên hướng dẫn, giao nhiệm vụ cho học sinh về nhà

diểm chính của cuộc thảo luận để trình bày trước lớp. Học
sinh cần được luân phiên nhau làm “nhóm trưởng” và “thư
ký” và luân phiên đại diện cho nhóm trình bày kết quả thảo
luận.
Xây dựng đồng đội là việc làm cần thiết để giúp vượt qua
những vấn đề khác nhau. Do đó, giáo viên cần phải dạy cho
học sinh các kỹ năng xây dựng đồng đội, bao gồm: Khả năng
hiểu được nhu cầu của người khác; khả năng biểu đạt được
một quan điểm; khả năng nghe quan điểm của người khác;
khả năng đáp lịa, đặc câu hỏi, tranh luận và lập luận…Để học
sinh có những kỹ năng trên, giáo viên cần cho học sinh nhận
thức được mục đích của việc học tập hay làm việc theo nhóm
là: Để hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau, để nghe lẫn nhau, để suy
nghĩ.
* Ra quy tắc cho nhóm:


Đôi khi học sinh làm việc cùng nhau trong nhóm có
những hành vi cản trở bao gồm tái độ định kiến, cạnh tranh,
bác bỏ người khác và xa lánh mọi người…Vì vậy, giáo viên
cùng học sinh đưa ra những quy tắc nhóm để giúp nhóm làm
việc tốt, chẳng hạn như:
+ Các thành viên trong nhóm đều được nói; cần tạo điều
kiện để học sinh phát biểu hết các loại ý kiến khác nhau, đặc
biệt là ưu tiên các học sinh yếu có nhiều cơ hội được trình bày
ý kiến; phải có sự phân công đều có nhiệm vụ, trách nhiệm
cho các thành viên trong nhóm đều giải quyết các vấn đề học
tập của nhóm.
+ Ủng hộ và giúp đỡ nhau bổ sung chi tiết.
+ Không cười nhạo điều ai đó nói sai.

đã đứng hướng và người trình bày đã tỏ ra hiểu vấn đề nhưng
diễn đạt chưa rõ, chưa có bằng chứng thật thuyết phục, giáo
viên nên trợ giúp bằng cách chia nhỏ vấn đề đó ra cho dễ hiểu
hoặc đặt thêm câu hỏi gợi ý, hoặc hỗ trợ giải thích để giúp
làm rõ và bảo vệ ý kiến.
+ Với tư cách là người tạo điều kiện: trong khi các nhóm
thảo luận, học sinh có thể tự do tìm hiểu các ý tưởng và cộng
tác giúp nhau, giáo viên không nên thường xuyên tham vấn.
Giáo viên chỉ nên can thiệp bằng cách tổ chức thêm các tình
huống cho học sinh làm việc theo nhóm.
+ Với tư cách là người tham gia tức là làm cho học sinh
nói và nghe nhau nói, chứ không phải chỉ đạo mọi điều học
sinh nói.
Mục đích là học sinh cảm thấy độc lập và bình đẳng. Giáo
viên có thể cùng đưa ra ý kiến, ý tưởng hoặc kinh nghiệm của
riêng mình để kích thích học sinh suy nghĩ, thay vì hỏi quá
nhiều câu hỏi.
* Đánh giá hoạt động nhóm:
Đánh giá quá trình và kết quả thảo luận nhóm và việc


quan trọng. Giáo viên cần theo dõi hành vi hợp tác của các
nhóm:
Quan sát học sinh làm việc trong nhóm.
Đánh giá sự tiến bộ của nhóm trong thu thập những thông
tin về sự tiến bộ của mỗi thành viên trong nhóm, qua kết quả
báo cáo của nhóm, kết quả học tập chung của nhóm.
Sau khi đánh giá, cần đưa ra những phản hồi nhanh chóng,
tích cực với học sinh và nhận thức được các khó khăn cản trở
việc học tập của nhóm, dựa vào các biểu hiện: không chú ý, có ý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status