LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tư liệu và kết
quả nghiên cứu nêu trong Khóa luận là trung thực, chưa từng được công bố trong bất
cứ công trình nào khác.
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Sâm
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này em xin chân thành cảm ơn trường Đại học Quảng
Bình đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, các giảng viên trong khoa Lý luận chính trị đã tận
tình giảng dạy để em có vốn kiến thức vững vàng làm hành trang cho mình. Đặc biệt
em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Giảng viên - Thạc sĩ Trần Hương
Giang là người trực tiếp hướng dẫn để em có thể hoàn thành khóa luận này.
Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn đến cô giáo chủ nhiệm - Nguyễn Thị Hương
Liên là người luôn động viên, khích lệ em những lúc khó khăn.
Cảm ơn những người bạn trong đại gia đình lớp Đại học Giáo dục chính trị k56 đã
luôn đồng hành cùng em trong suốt những năm học và luôn ủng hộ, giúp em hoàn
thành khóa luận.
Do điều kiện về thời gian cũng như năng lực nghiên cứu của bản thân còn hạn chế
nên khóa luận không tránh khỏi những sai sót, vì vậy em rất mong được sự đóng góp
của quý thầy, cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, Ngày 21 tháng 05 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Sâm
4
PPTLN
Phương pháp thảo luận nhóm
5
THPT
Trung học phổ thông
3
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .........................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu ......................................................................................................2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..............................................................................4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...............................................................................5
5. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của đề tài .................................................5
5.1. Những luận điểm cơ bản ..........................................................................................5
5.2. Đóng góp mới của đề tài...........................................................................................5
6. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................6
7. Kết cấu của đề tài.........................................................................................................6
ĐỨC” Ở TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI ................................................................ 26
2.1 Một số nét cơ bản về trường THPT Nguyễn Trãi và Đặc điểm môn Giáo dục công
dân phần “Công dân với đạo đức” ở trường THPT .......................................................26
2.1.1 Một số nét cơ bản về trường THPT Nguyễn Trãi- Phúc trạch - Bố trạch - Quảng
Bình ...............................................................................................................................26
2.1.2 Đặc điểm môn Giáo dục công dân phần “Công dân với đạo đức” ở trường THPT
.......................................................................................................................................28
2.1.3 Khái quát về phương pháp học tập môn GDCD Phần “Công dân với đạo đức”
của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi. ......................................................................32
2.2 Thực trạng vận dụng phương pháp thảo luận nhóm ở trường THPT Nguyễn Trãi.33
2.2.1 Thực trạng nhận thức của học sinh về việc vận dụng phương pháp thảo luận
nhóm trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Trãi. ..................................34
2.2.2. Thực trạng tiếp cận và ý thức của học sinh về vận dụng phương pháp thảo luận
nhóm trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Trãi. ..................................35
2.2.3 Thực trạngcủa giáo về việc vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học
môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Trãi. ...................................................................37
Bảng 1.2: Kết quả tìm hiểu về những khó khăn ảnh hưởng đến việcvận dụng phương
pháp thảo luận nhóm. ....................................................................................................39
2.3. Tổng kết thực trạng vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn
GDCD ở trường THPT Nguyễn Trãi.............................................................................42
2.3.1 Mặt đạt được .........................................................................................................42
2.3.2 Một số hạn chế......................................................................................................42
5
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế .....................................................................................43
2.4. Sự cần thiết của việc áp dụng đổi mới phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học
môn GDCD phần “Công dân với đạo đức” ở trường THPT Nguyễn Trãi....................43
Tiểu kết chương 2 ..........................................................................................................45
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra ngày
càng mạnh mẽ, kéo theo đó giáo dục cũng phát triển không ngừng. Để đáp ứng kịp
thời những yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì giáo dục và đào tạo
có vai trò to lớn trong việc trực tiếp tham gia bồi dưỡng nguồn lực con người. Con
người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong
sáng về đạo đức là động lực mục tiêu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta. Chính vì vậy điều 28.2 luật giáo dục xác định: “Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với
đặc điểm của từng lớp học môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm
việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui hứng thú cho học sinh”.
Nghị quyết số: 29-NQ/TW đã đưa ra quan điểm đổi mới căn bản toàn diện nền
GD - ĐT, đã xác các định mục tiêu cơ bản trong quá trình đổi mới, trong đó có mục
tiêu: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành
phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề
nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý
tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực
hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến
khích học tập suốt đời. Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông
giai đoạn sau năm 2015. Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9)
có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở;
trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ
thông có chất lượng. Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt
buộc 9 năm từ sau năm 2020”.
Để thực hiện được mục tiêu trên thì các môn học trong chương trình THPT đóng
vai trò quan trọng, trong đó có môn GDCD, môn Giáo dục công dân là một môn khoa
học xã hội, cùng với các bộ môn khác nó góp phần đào tạo người lao động mới vừa có
tri thức, vừa có đạo đức, có năng lực hoạt động thực tiễn, có trách nhiệm với gia đình,
hiểu, diễn đạt, phải thành lập theo phiếu và sắp xếp những phiếu này, phải đóng góp sự
tìm tòi của mình cho công việc của nhóm.” [32, tr134].
2
Tiếp đến là A. Jakiel, ông là nhà giáo dục Ba Lan lỗi lạc với cuốn sách “Học tập
theo nhóm ở trường học”, đã giới thiệu một hình thức học đem lại hiệu quả cao trong
hoạt động dạy học đó là: “Học tập theo nhóm ở trường học” [31, tr52].
Năm 1995, Robert Vlavin trong tác phẩm “Dạy học theo nhóm nhỏ: Lý thuyết
nghiên cứu và thực hành” cũng đã đề cập đến mô hình dạy học theo nhóm nhỏ. Rất
nhiều môn học có áp dụng hình thức dạy học theo nhóm nhỏ, tất cả đều có chung ý
tưởng là các học viên cùng nhau làm việc trong các nhóm nhỏ để hoàn thành mục tiêu
học tập chung” [36, tr23].
Ở Việt Nam, học tập theo nhóm đã có từ lâu. Ông cha ta đã có câu “Học thầy
không tày học bạn”. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, chúng ta đã từng có phong trào
học tập dân chủ, học tập tổ, nhóm. Phong trào đó đã góp phần tích cực vào thành công
của phong trào diệt giặc dốt do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động. Phong trào “Đôi bạn
chuyên cần” cũng được duy trì khá dài trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ cứu nước
ác liệt.
Ngày nay, trước xu hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực
hóa hoạt động của người học. Nhiều nhà giáo dục đã nghiên cứu vấn đề học tập nhóm.
Bài viết: “Lấy học sinh làm trung tâm” của tác giả Trần Bá Hoành đã đề cập tới
phương pháp hợp tác hay phương pháp học tập nhóm với ý nghĩa là một trong những
phương pháp lấy học sinh làm trung tâm.
Trong bài viết: “Về quan điểm giảng dạy lấy học sinh làm trung tâm” PGS - TS
Phạm Viết Vượng viết: Phương pháp thảo luận nhóm còn gọi là học hợp tác, sắp xếp
học sinh theo nhóm ngồi quanh một bàn, thảo luận, góp ý kiến để xây dựng các ý kiến
trả lời từng tiểu mục trong modul. Đại diện từng nhóm hoặc cá nhân phát biểu trước
lớp về những điều đã thu được.
dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn GDCD phần “Công dân với đạo
đức” ở trường THPT Nguyễn Trãi thì chưa có tác giả nào đề cập đến một cách cụ thể.
Bởi vậy, nghiên cứu việc vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn
GDCD phần “Công dân với đạo đức” ở trường THPT Nguyễn Trãi là một vấn đề mới
mẻ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Đề tài vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học, nhằm phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học
môn GDCD ở Trường THPT Nguyễn Trãi.
4
Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để đạt được mục đích đề ra, tác giả xác định nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
+ Làm rõ cơ sở lý luận của Phương pháp thảo luận nhóm
+ Tìm hiểu thực trạng sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn
GDCD ở trường THPT Nguyễn Trãi.
+ Sau khi Tìm hiểu về thực trạng thì đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng thực hiện vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn GDCD ở
trường THPT Nguyễn Trãi.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Học sinh trường THPT Nguyễn Trãi - Phúc trạch - Bố trạch - Quảng Bình.
+ Các cán bộ, giáo viên và giáo viên dạy GDCD ở trường THPT Nguyễn Trãi.
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tiến hành khảo sát thực trạng vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong
dạy học môn GDCD phần “Công dân với đạo đức” ở trường THPT Nguyễn Trãi.
5. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài có kết
cấu gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận của phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn
GDCD phần “Công dân với đạo đức” ở trường THPT Nguyễn Trãi.
Chương 2: Thực trạng vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn
GDCD phần “Công dân với đạo đức” ở trường THPT Nguyễn Trãi.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng thảo luận nhóm trong dạy học
môn GDCD phần “Công dân với đạo đức” ở trường THPT Nguyễn Trãi.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP
THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” Ở TRƯỜNG THPT
NGUYỄN TRÃI
1.1. Quan niệm về dạy học tích cực
1.1.1 Quan niệm về tính tích cực
Xã hội hình thành và phát triển cho đén ngày nay là nhờ tính tích cực của con
người. Tính tích cực của con người biểu hiện ở chỗ con người chủ động sản xuất ra
những của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển xã hội, chủ động cải biến
môi trường tự nhiên bắt chúng phục vụ mình, chủ động cải biến xã hội để xã hội ngày
càng phát triển theo chiều hướng tốt đẹp hơn.
Trong hoạt động học tập tích cực là tính tích cực nhận thức,đặc trưng ở khát
vọng hiểu biết,cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức
Quá trình nhận thức trong học tập là nhằm lĩnh hội những tri thức loài người đã tích
lũy được (nó khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học: phát hiện ra
những điều loài người chưa biết).Tuy nhiên trong học tập, học sinh, sinh viên sẽ thông
* Bắt chước: học sinh bắt chước hành động, thao tác của giáo viên, củabạn bè.
Trong hành động bắt chước cũng phải có sự cố gắng của thần kinh và cơ bắp
* Tìm tòi: học sinh tìm cách độc lập, tự lực giải quyết bài tập nêura, mò mẫm
những cách giải thích khác nhau để tìm cho ra được lời giải hợp lý nhất.
Sáng tạo: học sinh nghĩ ra cách giải mới, độc đáo, đề xuất những giảipháp có
hiệu quả. Dĩ nhiên, mức độ sáng tạo của học sinh có hạn nhưng đó là mầm mống để
phát triển trí sáng tạo sau này.
* Phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học được hiểu là tổng hợp các cách thức hoạt động của người
dạy và người học trong quá trình dạy học, nhằm thực hiện được nội dung dạy học
[23,tr147].
“Phương pháp dạy học tích cực” là một thuật ngữ rút gọn, được dùng để chỉ
những phương pháp giáo dục dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của người học [14, tr8].
“Tích cực” trong phương pháp dạy học tích cực được dùng với ý nghĩa hoạt động
chủ động, trái với nghĩa không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với
tiêu cực.
8
Như vậy, phương pháp dạy học tích cực là cách dạy hướng tới việc học tập chủ
động, chống lại thói quen học thụ động. Nói cách khác phương pháp dạy học tích cực
hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học chứ không phải tập
trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, mặc dù để dạy học theo phương pháp
này thì giáo viên phải nỗ lực, cố gắng hơn nhiều.
Trong đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận
thức của người học, phải có sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp giữa hoạt động dạy
và hoạt động học mới thành công. Do đó, thuật ngữ rút gọn “Phương pháp dạy học tích
cực” có ý nghĩa là cả “phương pháp dạy và phương pháp học”.
1.1.2 Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực.
bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung
học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ,
khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng lên một trình độ mới.
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp
hoặc trường. Nhưng được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong
nhóm nhỏ 4 đến 6 người. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải
giải quyết những vấn đề gay cấn sẽ xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để
hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm sẽ không thể có hiện tượng ỷ
lại, năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ
chức, tinh thần tương trợ.
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá người học không chỉ nhằm mục đích nhận định
thực trạng và điều chỉnh hoạt động của trò mà còn tạo điều kiện nhận định thực trạng
và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên.
Theo các phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên thường giữ độc quyền
đánh giá người học. Trong phương pháp dạy học tích cực, giáo viên phải hướng dẫn
người học phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. Liên quan tới điều
này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để người học được tham gia đánh giá lẫn
nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự
thành đạt trong cuộc sống sau này.
Từ dạy học thụ động sang dạy học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò
đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức,
hướng dẫn các hoạt động độc lập, hoặc theo nhóm để người học tự lực chiếm lĩnh nội
dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ theo yêu cầu của
chương trình. Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên chỉ đóng vai trò là
người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào
hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh.
10
+ Tất cả các ý kiến, các ý tưởng đưa ra đều được hoan nghênh như nhau.
11
+ Mọi ý tưởng khi đã được đặt ra đều là tài sản chung của cả nhóm.
+ Không ai được phán xét hay phê phán các ý tưởng nêu ra. Mọi ý kiến, ý tưởng
đều được bình đẳng.
- Phương pháp vấn đáp
Phương pháp vấn đáp là quá trình tương tác giữa người dạy với người học được
thực hiện thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời tương ứng về một chủ đề nhất định
được người dạy và người học đặt ra.
Nói cách khác, dạy học theo phương pháp vấn đáp là người dạy sử dụng hệ thống
câu hỏi để dẫn dắt người học giải quyết nhiệm vụ học tập. Yếu tố quyết định thành
công của phương pháp này là hệ thống câu hỏi, cách hỏi và thời điểm hỏi của giáo
viên. Nếu xây dựng và sử dụng hợp lí các câu hỏi, người giáo viên sẽ nhanh chóng
định hướng người học vào nội dung bài học, tạo ra sự chú ý của học sinh và không khí
học tập của lớp học, kích thích tư duy, kiểm tra được mức độ tri thức và kỹ năng của
người học, dẫn dắt người học tìm kiếm kết quả học tập. Nói tóm lại, đặt câu hỏi và
giúp người học trả lời tốt các câu hỏi là trọng tâm của phương pháp vấn đáp.
Phương pháp vấn đáp có 3 mức độ:
+ Vấn đáp tái hiện
+ Vấn đáp giải thích minh họa
+ Vấn đáp tìm tòi
- Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp thảo luận nhóm cũng là một trong những phương pháp có thể phát
huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Phương pháp này đang được
sử dụng phổ biến, rộng rãi trong quá trình dạy học hiện nay. Tuy nhiên, hiệu quả sử
dụng nó chưa thực sự mang lại kết quả như mong muốn. Hay nói cách khác, người sử
dụng (giáo viên) chưa thực sự khai thác hết những ưu điểm nổi trội của phương pháp
dạy học này. Sau đây chúng tôi sẽ đi tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của phương
viên cần phải cân nhắc dựa vào mục tiêu bài học, loại bài học, không gian, vị trí, trình
độ, sở trường của học sinh.
Trong quá trình dạy học môn GDCD bằng phương pháp thảo luận nhóm, theo
chúng tôi hình thức chia phổ biến nhất vẫn là cách chia ngẫu nhiên. Song, để cho
nhóm chia ngẫu nhiên hạn chế những nhược điểm của nó thì người giáo viên cần phải
chú ý đến hai vấn đề:
13
+ Một là, nhiệm vụ được giao cho mỗi nhóm phải có cả các yêu cầukhó, rễ khác
nhau.
+ Hai là, phải điều hành sao cho mọi thành viên của nhóm đều phảitích cực hoạt
động.
+ Hình thức chia nhóm ngẫu nhiên
Cách chia này được tiến hành khi giữa các đối tượng học sinh không cần có sự
phân biệt. Mọi học sinh đều phải hoạt động để giải quyết vấn đề, cùng chiếm lĩnh tri
thức. Nhiệm vụ được giao không khác nhau nhiều về nội dung, ít có sự chênh lệch về
độ khó và có cùng chung một yêu cầu.
Ở hình thức chia nhóm ngẫu nhiên này, giáo viên có thể chia theo bàn, theo tổ
hoặc bằng cách điểm vòng tròn.
+ Chia nhóm cùng một trình độ
Việc chia nhóm cùng một trình độ được áp dụng khi cần có sự phân hóa về trình
độ bởi mức độ khó dễ của nội dung bài học cho từng đối tượng học sinh. Người ta
thường dựa vào các trình độ: giỏi, khá, trung bình và yếu để chia thành những nhóm
tương ứng.
Với cách chia nhóm này, giáo viên có thể có những yêu cầu cụ thể khác nhau đối
với từng nhóm trong việc giải quyết cùng một nhiệm vụ học tập. Giáo viên có thể gợi
ý cho nhóm yếu và có thể đưa ra yêu cầu cao hơn đối với nhóm khá, giỏi và như thế sẽ
tác động từng đối tượng học sinh trong lớp, gây nên hứng thú học tập cho cả lớp, lớp
học sẽ trở nên sinh động, sẽ hoạt động một cách tích cực, tự giác theo sự hướng dẫn
Qua nghiên cứu của các nhà giáo dục thì dạy học bằng phương pháp thảo luận
nhóm có một số ưu điểm sau:
Thứ nhất: Học theo nhóm bao giờ cũng sôi nổi, nó tạo ra cơ hội tối đacho mọi
thành viên trong nhóm được bộc lộ sự hiểu biết và quan điểm của mình về nội dung và
phương pháp học tập; giúp họ phát triển khả năng diễn đạt, trao đổi suy nghĩ và quan
điểm một cách rõ ràng, tăng cường khả năng chịu đựng và sự quan tâm của người học.
Điều này đặc biệt có ích đối với những học sinh nhút nhát, ngại ngùng, ít phát biểu
trong lớp.
Thứ hai: Tạo cơ hội thuận lợi để các thành viên trong nhóm học hỏi lẫnnhau. Học
sinh tập lắng nghe ý kiến của người khác một cách kiên nhẫn và lịch sự, thể hiện quan
điểm của mình, cũng như nhận xét đánh giá ý kiến của bạn, điều chỉnh tư duy của
mình.
15
Thứ ba: Tạo cơ hội để các thành viên trong lớp học làm quen, trao đổi vàhợp tác
với nhau, hình thành thói quen tương tác trong học tập. Góp phần làm tăng bầu không
khí hiểu biết, tin cậy thân thiện và đoàn kết giữa các học sinh.
Thứ tư: Tạo yếu tố kích thích thi đua giữa các thành viên trong nhóm,đặc biệt là
trong việc học tập các chủ đề có tính sáng tạo cao. Rèn luyện, phát triển các kỹ năng tư
duy phân tích, tổng hợp …
Thứ năm: Tạo cơ hội cho giáo viên có thông tin phản hồi về người học.Đây là
một trong những ưu điểm nổi trội của phương pháp thảo luận nhóm so với các phương
pháp dạy học khác. Mặt khác, giáo viên còn có thể thu được tri thức và kinh nghiệm từ
phía người học, qua các phát biểu có suy nghĩ và sáng tạo của học sinh.
Như vậy, nếu phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức tốt sẽ tăng cường tính
tích cực, chủ động của học sinh, giúp học sinh tập trung vào bài học, phát triển được
các kỹ năng tư duy và óc phê phán, các kỹ năng giao tiếp và xã hội quan trọng khác.
+ Hạn chế:
động, tích cực, làm việc, tự tìm tòi khám phá chân ý của người học nhằm phát triển tri
thức và các kĩ năng thiết thực chơ người học thì phương pháp học tập chiếm một vị trí
quan trọng. Học tập theo nhóm trong và ngoài giờ học sẽ là một phần bổ sung quan
trọng cho các bài giảng giúp học sinh nắm vững các khái niệm và áp dụng vào các tình
huống cần đến các kỹ năng đào sâu suy nghĩ.
1.3.1.Đặc điểm của học tập theo nhóm
Học tập theo nhóm được biểu hiện:
- Mọi thành viên trong nhóm đều hướng đến mục tiêu chung nhất định
- Có sự phụ thuộc lân nhau giữa các thành viên
- Có trách nhiệm, lợi ích liên đới trong sản phẩm nhóm
Làm việc theo nhóm sẽ góp phần xây dựng tinh thần đồng đội, mối quan hệ
tương hỗ giữa các thành viên trong nhóm đồng thời tạo nên sự gắn kết trong một cộng
đồng nhằm hướng đến mục tiêu chung
Học tập theo nhóm tất cả mọi thành viên đều được tự do phát biểu quan điểm của
mình về chủ đề thảo luận, từ đó phát triển tư duy độc lập và trao đổi lẫn nhau trong
nhóm
Học tập theo nhóm sẽ tăng khả năng hòa nhập, có thêm tinh thần học hỏi, biết
ắng nghe người khác cũng như khả năng phản biện thông qua phần trình bày của mình
và sự phản biện của những người xung quanh
17
1.3.2. Các kỹ năng học tập theo nhóm
- Kỹ năng lập kế hoạch hoạt động nhóm: Có kỹ năng xấy dựng một kế hoạch
hoạt động cho nhóm một cách hợp lý, cụ thể, hợp ý sẽ đảm bảo cho mỗi thành viên
chủ động và có định hướng trong công việc của mình và của cả nhóm.
- Kỹ năng phân công nhiệm vụ rõ ràng, hợp lý. Khi công việc được phân công rõ
ràng phù hợp với năng lực và khả năng của mỗi thành viên họ sẽ ý thức được vai trò
của mình, có trách nhiệm hoàn thành công tác.
là người chịu trách nhiệm trước thầy cô, tập thể lớp về hoạt động của nhóm, là người
điều hành và tổ chức công việc của nhóm, đảm bảo cho nhóm đi đúng hướng, là người
động viên thôi thúc mọi người và tháo gỡ khó khăn khi cần thiết. Chính vì vậy người
trưởng nhóm sẽ góp phần quyết định thành công của một nhóm học tập.
1.4 Hình thức thảo luận nhóm và điều kiện thảo luận nhóm trong dạy học
môn Giáo dục công dân
1.4.1 Các hình thức thảo luận nhóm
+Nhóm kim tự tháp
Đây là hình thức mở rộng của nhóm rì rầm. Sau khi thảo luận theo cặp (nhóm rì
rầm); các cặp (2 hoặc 3 nhóm rì rầm) kết hợp thành nhóm 4 - 6 người để hoàn thiện
một vấn đề chung, đây cũng là một biện pháp khắc phục hiện tượng “người ngoài
cuộc”, đồng thời tạo điều kiện hoàn chỉnh nhiệm vụ học tập với chất lượng cao hơn.
+ Nhóm nhỏ thông thường
Giáo viên chia lớp học thành các nhóm nhỏ (3 đến 5 người) để thảo luận một vấn
đề cụ thể nào đó và nhanh chóng đưa ra kết luận tập thể về các vấn đề đó. Hình thức
này thường được sử dụng kết hợp với các kỹ thuật dạy học khác trong một bài học, tiết
học. Nội dung thảo luận của nhóm thông thường là các nội dung nhỏ, thời gian thảo
luận ngắn (3 đến 5 phút)
+Nhóm rì rầm
Giáo viên chia lớp học thành các nhóm “cực nhỏ”, khoảng 2 - 3 người (thường là
cùng bàn) để trao đổi (rì rầm) và thống nhất trả lời một câu hỏi, giải quyết một vấn đề,
nêu một ý tưởng, một thái độ…Để nhóm rì rầm có hiệu quả, giáo viên cần cung cấp
đầy đủ, chính xác các dữ liệu, các gợi ý và nêu rõ yêu cầu đối với câu trả lời để các
thành viên tập trung vào giải quyết. Việc chia lớp thành những nhóm nhỏ hoặc nhóm
“rì rầm” là biện pháp khắc phục hiện tượng “người ngoài cuộc” làm tăng hiệu quả của
phương pháp thảo luận nhóm.
+ Nhóm đồng tâm (nhóm bể cá).
Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm: nhóm thảo luận và nhóm quan sát (sau đó có
thể hoán vị cho nhau). Nhóm nhỏ hơn 6 - 10 người có nhiệm vụ thảo luận và trình bày
19