Bước đầu nghiên cứu bảo quản gỗ thông bằng chế phẩm (tinh dầu Sả Java) chiết suất từ lá Sả Java (Cymbopogon winterianus) tại trường Đại học Nông Lâm (Khóa luận tốt nghiệp) - Pdf 54

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PỜ GIA THANH

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU BẢO QUẢN GỖ THÔNG
BẰNG CHẾ PHẨM (TINH DẦU SẢ JAVA) CHIẾT SUẤT
TỪ LÁ SẢ JAVA (CYMBOPOGON WINTERIANUS)
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Quản lý tài nguyên rừng

Khoa

: Lâm nghiệp

Khóa

: 2014 – 2018

Thái Nguyên, năm 2018



Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình nghiên cứu thực nghiệm hoàn
toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai sót tôi xin chịu
hoàn toàn trách nhiệm.
Thái Nguyên, ngày tháng 6 năm 2018
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn

Người viết cam đoan

Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước
Hội đồng khoa học

Th.S Nguyễn Việt Hưng

Pờ Gia Thanh

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót
sau khi hội đồng chấm yêu cầu
(Ký, ghi rõ họ tên)


ii

LỜI CẢM ƠN
Nhằm thực hiện kế hoạch đào tạo năm học 2017 – 2018, niên khóa
2014-2018 của nhà trường, cũng như được sự nhất trí của Khoa và Nhà
trường, từ ngày 14/8/2017 đến ngày 12/11/2017, em được phân công đi thực
tập tại Trường để chúng em có cơ hội vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ
năng ngành vào việc nghiên cứu việc thực hành, vào thực tế đời sống; vừa là


DVHĐ

(Hiệp hội vật liệu và thử nghệm Hoa Kì).
: Dầu vỏ hạt điều

PGS
PTSKH
TB
TCVN

: Phó giáo sư
: Phó tiến sĩ khoa học
: Trung bình
: Tiêu chuẩn Việt Nam

TS

: Tiến sĩ

cs

: Cộng sự

M1

: Khối lượng trước khi ngâm

M2


Hình 3.2. Cho lá vào nồi ................................................................................. 22
Hình 3.3. Chuẩn bị nấu ................................................................................... 22
Hình 3.4. Nấu Sả ............................................................................................. 22
Hình 3.5. Bắt đầu ra dầu Sả............................................................................. 23
Hình 3.6. Lọc tinh dầu Sả................................................................................ 23
Hình 3.7. Pha dịch chiết theo nồng độ ........................................................... 24
Hình 3.8. Quét dịch chiết lên mẫu .................................................................. 24
Hình 3.9. Làm hộp nhử mối ......................................................................... 27
Hình 3.10. Đặt hộp nhử ................................................................................... 27
Hình 4.1. Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của nồng độ đến lượng chế phẩm thấm
vào gỗ .............................................................................................. 31
Hình 4.2. Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 10% (nhúng 10 phút)
đối với mối ...................................................................................... 34
Hình 4.3. Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 10% (ngâm 24 giờ) đối
với mối ............................................................................................ 35
Hình 4.4. Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 15% (nhúng 10 phút)
đối với mối ...................................................................................... 36
Hình 4.6. Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 20% (nhúng 10 phút)
đối với mối ...................................................................................... 38
Hình 4.7. Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 20% (ngâm 24 giờ) đối
với mối ............................................................................................ 40
Hình 4.8. Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 100% đối với mối .. 41
Hình 4.9. Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở các nồng độ đối với mối ....... 42
Hình 4.10. Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 10% ....................... 44


vi

Hình 4.11. Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 10% ....................... 44
Hình 4.12. Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 15% (nhúng 10 phút)

2.2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bảo quản ở Việt Nam...... 15
2.2.3. Tình hình nghiên cứu về sử dụng Sả java (Cymbopogon winterianus) 19
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ................................................................................................................ 20
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................. 20
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 20
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 20
3.2. Địa điểm và thời gian thực tập ................................................................. 20


viii

3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 20
3.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 21
3.4.1. Phương pháp kế thừa............................................................................. 21
3.4.2. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm ................................................. 21
3.4.3. Phương pháp xác định lượng thuốc thấm ............................................ 24
3.4.4. Phương pháp đánh giá hiệu lực của chế phẩm bảo quản ...................... 25
3.4.5. Phương pháp phân tích, xử lý số và tổng hợp số liệu ........................... 29
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ...................................................... 31
4.1. Ảnh hưởng của nồng độ và thời gian ngâm tẩm đến lượng chế phẩm Sả
java thấm vào gỗ ............................................................................................. 31
4.2. Hiệu lực với mối của chế phẩm lá Sả java trên gỗ Thông ....................... 33
4.2.1. Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 10% đối với mối ............ 33
4.2.2. Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 15% đối với mối ............ 35
4.2.3. Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 20% đối với mối ............ 38
4.2.4. Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 100% (quét) đối với mối 40
4.3. Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java đối với nấm ....................................... 43
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................... 50
5.1. Kết luận .................................................................................................... 50

và đang không ngừng nghiên cứu công trình công nghệ bảo vệ gỗ.
Hiện nay do việc sử dụng các chất có nguồn gốc hóa học đã làm ô nhiễm
môi trường (đất, nước, không khí), làm mất cân bằng sinh học. Ngoài ra, khi sử
dụng các loại thuốc bảo quản gỗ có nguồn gốc hóa học là nguy cơ gây hại sức
khỏe con người trước mắt cũng như lâu dài.


2
Sả java thuộc loại cây thảo sống lâu năm, mọc thành bụi, phân nhánh nhiều.
Thân rễ trắng hoặc hơi tím vàng, lá dài hẹp, mép hơi ráp, bẹ trắng, rộng. Có đặc
tính kháng bệnh, diệt côn trùng. Trên thực tế tinh dầu Sả java được sử dụng
làm giảm đau rất tốt, còn trị nấm rất hiệu quả, tốt cho xương và dây chằng
giúp điều trị trí nhớ kém, trầm cảm, tuần hoàn kém, giảm độ sưng tấy do côn
trùng đốt, chống nấm, chống nhiễm trùng và miễn dịch tốt... Bên cạnh đó, tinh
dầu sả java còn được dùng làm thuốc sát trùng, diệt ký sinh trùng, diệt mối
mọt, chữa ghẻ cho gia súc… Sả java dễ trồng, khả năng ứng dụng ở các địa
phương đơn giản [3].
Qua điều tra sơ bộ tại địa phương cho thấy người dân sử dụng tinh dầu sả
java được chiết xuất từ lá để phòng chống sâu hại cây trồng và bảo quản gỗ. Để
có cơ sở khoa học về cách sử dụng lá Sả java tôi tiến hành nghiên cứu về khả
năng bảo quản của tinh dầu Sả java thông qua đề tài: "Bước đầu nghiên cứu
bảo quản gỗ Thông bằng chế phẩm (tinh dầu Sả java) chiết suất từ lá Sả java
(Cymbopogon winterianus) tại trường Đại học Nông Lâm"
1.2. Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài
1.2.1. Mục tiêu
Đánh giá ảnh hưởng của nồng độ và thời gian ngâm tẩm đến lượng chế
phẩm Sả java thấm vào gỗ.
Đánh giá được hiệu lực của tinh dầu Sả java đến khả năng phòng trừ mối ở
gỗ Thông.
Đánh giá được hiệu lực của tinh dầu Sả java đến khả năng phòng trừ nấm ở

2.1.1. Bảo quản gỗ và tầm quan trọng của công tác bảo quản gỗ
2.1.1.1. Bảo quản gỗ
Bảo quản gỗ là biện pháp tổng hợp giữ gìn gỗ nhằm kéo dài thời gian sử
dụng, chống sự xâm nhập phá hoại của mối mọt, nấm mốc, hạn chế tác động
không tốt của môi trường. Bao gồm:
1) Bảo quản kĩ thuật: Là phương pháp bảo quản tác động vào gỗ làm cho
gỗ kéo dài thời gian sử dụng, phương pháp này không dùng hóa chất như: Cách
li gỗ với đất, nước, hơi ẩm, hong, phơi, sấy hoặc ngâm gỗ trong bùn ao.
2) Bảo quản bằng hoá chất: Là phương pháp dùng hóa chất để phun tẩm
vào gỗ, quét, ngâm gỗ tẩm gỗ hoặc xông hơi, dùng hoá chất xử lí trực tiếp sinh
vật hại gỗ.
3) Bảo quản bằng biện pháp sinh học: Dùng một số loài nấm, côn trùng để
diệt sinh vật hại gỗ (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [5].
2.1.1.2. Tầm quan trọng của công tác bảo quản gỗ
Việc áp dụng chế phẩm bảo quản lâm sản nhằm mục tiêu:
Công nghệ bảo quản nhằm mục đích kéo dài tuổi thọ sử dụng lâm sản
ngoài gỗ và gỗ gấp hàng chục lần so với việc sử dụng theo độ bền tự nhiên.
Nhằm tăng giá trị sử dụng, hạn chế các tổn thất nặng nề do các sinh vật gây
hại như mối mọt, nấm mục, v.v…gây ra kể từ ngay sau khi chặt hạ đến suốt
quá trình sử dụng.
Bằng biện pháp kỹ thuật (có hoặc không sử dụng chế phẩm bảo quản) phải
kéo dài tuổi thọ sử dụng gỗ và lâm sản ngoài gỗ lên nhiều lần so với gỗ không
được xử lý bảo quản, góp phần đảm bảo an toàn cho các sản phẩm và công trình
sử dụng lâm sản.


5
Công nghệ bảo quản ra đời được đánh giá là một bộ phận của cuộc cách
mạng khoa học – kỹ thuật của thế kỷ XX. Nó mang lại hiệu quả quả kinh tế lớn,
tiết kiệm tài nguyên rừng, góp phần sử dụng tài nguyên hợp lý, chủ động, hiệu

Khi gỗ có độ ẩm cao được ngâm vào dung dịch chế phẩm có nồng độ cao,
hoặc quét cao xung quanh, do chênh lệch nồng độ các phân tử hoặc ion của chế
phẩm từ dung dịch chuyển vào sâu trong gỗ.
Ẩm độ gỗ ít nhất phải trên 50%, nồng độ dung dịch phải cao hơn gấp 2 - 3
lần so với nồng độ chế phẩm cùng loại khi tẩm bằng phương pháp khác (Nguyễn
Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [5].
2.1.2.3. Phương pháp nóng - lạnh
Khi gỗ được làm nóng lên, không khí và hơi nước trong gỗ cũng bị nóng
dần và dãn nở thể tích. Song thể tích gỗ tăng không đáng kể, do vậy áp suất
trong gỗ sẽ cao hơn áp suất bên ngoài, một phần không khí và hơi nuớcc sẽ thoát
ra khỏi gỗ.
Khi gỗ bị chuyển sang trạng thái lạnh, không khí và hơi nước còn lại trong gỗ sẽ
bị lạnh và trở về trạng thái ban đầu, thể tích không gian mà chúng chiếm chỗ sẽ nhỏ
hơn. Kết quả làm cho áp suất trong khoang rỗng tế bào gỗ bị giảm, thấp hơn áp suất
môi trường xung quanh. Do sự chênh lệch áp suất này, dung dịch chế phẩm lạnh sẽ dễ
dàng thấm vào gỗ (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [5].
2.1.2.4. Phương pháp chân không áp lực
Phương pháp này gồm hai quá trình:
Tăng áp lực: Tạo ra sức ép để ép chế phẩm thấm vào gỗ, trị số áp lực thông
thường 6 - 12.105pa
Hút chân không: Độ sâu chân không thường là 600 – 650 mmHg. Cụ thể
hút chân không ở các thời điểm: Chân không trước khi tăng áp lực. Chân không
giữa các quá trình áp lực. Chân không sau quá trình áp lực.
Trật tự của hai quá trình cơ bản này thay đổi tùy theo quy trình, tức phụ
thuộc vào nhiều yếu tố: Khả năng thấm chế phẩm của các loại gỗ, độ ẩm gỗ, loại
chế phẩm, lượng thấm chế phẩm cần thiết…


7
Sự thay đổi của hai quá trình đã tạo nên nhiều phương pháp tẩm gỗ như:

Phương pháp ngâm tre, gỗ trong ao hồ hoặc bùn với một thời gian 6 tháng
đến 1 năm hoặc lâu hơn sẽ hạn chế được mọt mốc. Phương pháp này sẽ làm biến
đổi thành phần hóa học trong gỗ, cụ thể làm cho hàm lượng đường và tinh bột có
trong tre, gỗ giảm đi (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [5].
2.1.2.8. Phương pháp tẩm cây đứng
Phương pháp này có tên là tẩm cây sống (cây chưa bị chặt hạ). Lợi dụng
đặc điểm của cây phải hút nước, muối khoáng từ đất qua hệ thống rễ, theo các
mạch dẫn lên lá để sau quá trình quang hợp tạo thành nhựa luyện nuôi cây.
Phương pháp này sẽ tác động chặn dòng nhựa luyện và thay bằng dung dịch chế
phẩm bảo quản, chế phẩm sẽ đi theo mạch dẫn và phân bố trong cây (Nguyễn
Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [5].
2.1.2.9. Phương pháp thay thế nhựa
Gỗ sau khi chặt 2 - 3 ngày, nhựa cây vẫn ở trang thái lỏng sẽ dịch chuyển
được nếu có lực đẩy từ phía gốc đến ngọn của khúc gỗ.
Lợi dụng đặc điểm này, người ta dùng dung dịch chế phẩm tiếp vào một
đầu của khúc gỗ (phía gốc), nhờ sự chênh lệch áp lực của dung dịch ở đầu gốc và
đầu ngọn khúc gỗ, dung dịch tẩm sẽ ép vào các mạch, dồn dần nhựa về một phía
và sẽ thay thế vị trí của nhựa vào các khoảng trống.
Thời gian ngâm tẩm tùy thuộc vào từng loại gỗ, bình quân 5 - 12 ngày.
Sau khi kết thúc quá trình tẩm một tuần lễ có thể tiến hành bóc vỏ và tùy theo
thời gian hong phơi tương ứng với yêu cầu về độ ẩm ta có thể đem sử dụng.
Lượng thuốc tiêu hao cho phương pháp này khoảng 400 - 500 kg/m3 dung
dịch thuốc nước. Có nồng độ dung dịch thuốc tẩm tùy thuộc vào từng loại thuốc
mà sử dụng (Nguyễn Thị Tuyên, 2008) [10].
2.1.2.10. Phương pháp phun, quét
+ Phương pháp quét
Là phương pháp bảo quản thô sơ nhất, thường gặp trong thực tế sản xuất,
như trong các khâu bảo quản tạm thời gỗ ở các bãi bến trong một thời gian ngắn
và bảo quản lớp mặt các vật dụng bằng gỗ




10
trình thấm của thuốc vào gỗ. Từ thấm theo nguyên lý mao dẫn sang thấm theo
nguyên lý khuếch tán.
+ Độ ẩm gỗ:
Với phương pháp ngâm thường thì độ ẩm trên điểm bão hòa thớ gỗ đôi khi
không xác định được lượng thuốc thấm bằng phương pháp cân trong lượng. Do đó
trong quá trình ngâm tẩm dung dịch ta cần chú ý tới độ ẩm của gỗ.
2.1.3.2. Chế phẩm bảo quản
* Yêu cầu của chế phẩm bảo quản:
- Độc hại cao với sinh vật hại lâm sản nói chung.
- Không độc hại với con người và gia súc.
- Khả năng ổn định của thuốc lâu dài trong lâm sản khi sử dụng trong các
môi trường khác nhau.
- Dễ thấm, thấm sâu vào lâm sản.
- Không làm ảnh hưởng đến tính chất của gỗ và giảm tối đa khả năng bén
cháy của gỗ, không làm ảnh hưởng đến độ bền cơ học của gỗ.
- Không ảnh hưởng đến màng keo dán và quá trình trang sức bề mặt.
- Không ăn mòn kim loại.
- Không gây ô nhiễm môi trường.
- Giá thành rẻ, thông dụng, dễ sử dụng.
* Cơ chế tác dụng của chế phẩm bảo quản với nấm
Mỗi loài nấm có một ngưỡng độ ẩm thích hợp cho quá trình phát triển,
ngoài ra còn các điều kiện khác như oxy, nhiệt độ, ánh sáng và độ pH. Để phòng
chống nấm gây hại lâm sản, người ta thường áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm
thay đổi điều kiện sống của nấm hoặc làm độc hóa nguồn thức ăn của nấm bằng
các loại thuốc bảo quản lâm sản. Chế phẩm bảo quản có hiệu lực đối với nấm khi
được tẩm vào gỗ, trước hết nó đã tạo ra một môi trường khác hẳn với gỗ không
tẩm chế phẩm, nó tước bỏ những điều kiện thuận lợi cho việc nảy mầm của các

loại áp lực mao quản thuận, nghịch khác nhau. Khi áp lực mao quản thuận, sự
thấm chế phẩm sẽ kém và ngược lại khi áp lực mao quản nghịch thì sự thấm
thuốc sẽ tốt hơn.


12
Trên thực tế, do tế bào gỗ có cấu tạo không đồng nhất, đẳng hướng và một
số loại gỗ còn có dầu nhựa cản trở sự thấm chế phẩm và việc xác định các thông
số sẽ gặp khó khăn (Lê Xuân Tình và cs,1992) [9].
+ Thấm do khuếch tán:
Quá trình khuếch tán là quá trình di chuyển vật chất từ pha này sang pha
khác khi hai pha tiếp xúc trực tiếp với nhau. Trong dung dịch quá trình khuếch
tán làm cho dung dịch đồng nhất về khối lượng riêng và áp suất. Do vậy, các
phần tử ion thuốc bảo quản hòa tan trong nước sẽ chuyển động với một động
năng trung bình của chuyển động tịnh tiến vào, áp suất đó do các phần tử gây
lên. Áp suất này gọi là áp suất thẩm thấu. Trong ngâm tẩm gỗ vách tế bào gỗ có
thể coi là màng bán thấm. Vận tốc chuyển động của các phân tử hoặc ion phụ
thuộc vào nhiệt độ, khi nhiệt độ càng cao thì vận tốc chuyển dịch tăng lên. Bằng
các phép đo chính xác, người ta đo được tốc độ chuyển động tỷ lệ với T (T là
nhiệt độ). Áp suất thấm thấu phụ thuộc vào T, nếu T tăng thì áp suất tăng.
Đối với gỗ có độ ẩm cao, khi tẩm thuốc bảo quản, nước ở trong gỗ có xu
hướng dịch chuyển ra dung dịch tẩm và các phân tử hoặc ion chất bảo quản sẽ
dịch chuyển vào gỗ (Lê Xuân Tình và cs,1992) [9].
* Thấm do áp lực từ bên ngoài:
Quá trình thấm này là do có áp lực được tạo ra từ bên ngoài tác động lên bề
mặt dung dịch thuốc hoặc bề mặt gỗ. Áp lực này có thể được tạo ra bằng những
hình thức sau:
Dùng thiết bị tạo áp suất nén áp lực lên bề mặt dung dịch chế phẩm. Trong
thực tế người ta có thể kết hợp với rút chân không cho gỗ để tăng thêm độ chênh
lệch áp suất.

sản phẩm hóa học dung cho bảo quản lâm sản ngày càng được bổ sung thêm.
Song chính trong quá trình phát triển đó, các hóa chất có độc tính cao đối với sức
khỏe con người và môi trường đã dần bị loại bỏ. Các hợp chất tổng hợp bằng con
đường hóa học, chiết xuất từ thực vật, từ vi sinh vật có hiệu lực phòng trừ sinh
vật có hiệu lực phòng trừ sinh vật gây hại lâm sản cao và an toàn với con người,
môi trường sống đã được ưu tiên nghiên cứu và đưa vào sử dụng (Coventry E và
cs, 2002) [13].


14
Cùng với sự ra đời phát triển của các lĩnh vực khoa học sinh vật, nhiều loài
nấm mốc, côn trùng, hà... phá hại gỗ và lâm sản cũng đã được điều tra, phân loại.
Các công trình nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh thái... đã làm tiền đề cho
các nhà hoá học, công nghệ, nghiên cứu mở rộng các chế phẩm bảo quản, các
biện pháp kỹ thuật xử lý bảo quản gỗ và lâm sản. Một trong những thành tựu nổi
bật về sự kết hợp hữu hiệu này của các nhà nghiên cứu cơ bản và các nhà nghiên
cứu kỹ thuật giữa thế kỷ 20 này là nghiên cứu diệt mối gây hại lâm sản trong các
công trình xây dựng bằng phương pháp lây truyền để diệt mối tận tổ. Từ việc
phát hiện ra đặc tính của mối: chúng mớm thức ăn cho nhau, liếm lẫn nhau, một
số nhà khoa học của ấn Độ, Inđônexia đã nghĩ đến biện pháp dùng các chất hoá
học xử lý lên con mối, nhờ đặc tính sinh học nói trên, mối sẽ truyền chất độc về
tận tổ, tận hoàng cung của mối chúa. Feytand (1949) cho biết cụ thể thêm rằng
các hợp chất có gốc là asenic hoặc fluo ở dạng bột mịn có thể dùng làm thuốc để
gây cho mối chết bằng cách lây truyền (Coventry E và cs, 2002) [13].
Một số công trình nghiên cứu trên thế giới đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn
các cơ sở lý luận để từ đó nghiên cứu các giải pháp phù hợp trong việc bảo
quản lâm sản.
Christebsen (1951) nghiên cứu mối quan hệ giữa nhiệt độ với khả năng
khuếch tán của thuốc bảo quản gỗ và nhận định rằng: Nhiệt độ tăng thì khả năng
khuếch tán tăng, do khi nhiệt độ tăng thì khả năng linh động của điện tử phân ly

sử dụng làm nguyên liệu trong sản xuất đồ mộc đã có một số công trình nghiên
cứu về đặc điểm phá hoại của sinh vật hại gỗ, các giải pháp kỹ thuật và loại chế
phẩm bảo quản phù hợp với điều kiện sử dụng lâm sản.
Một số tài liệu nghiên cứu trong lĩnh vực bảo quản ở nước ta như sau:
Nguyễn Xuân Khu (1972), trong luận án PTSKH đã nghiên cứu chế độ tẩm
gỗ dương ở độ ẩm khác nhau. Tác giả đã nghiên cứu về mối tương quan giữa sức
thấm thuốc với độ ẩm gỗ, nồng độ thuốc theo các chiều thớ gỗ khác nhau ở gỗ
giác, gỗ lõi. Tác giả cũng đã rút ra nhiều kết luận có ý nghĩa khoa học về bảo
quản gỗ như: Khi gỗ có độ ẩm dưới điểm bão hòa sức thấm thuốc gỗ dương sẽ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status