1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
------------------
NGUYỄN NHƯ DƯƠNG
GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Hà nội, 2018
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
------------------
NGUYỄN NHƯ DƯƠNG
GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
AMA
Phương pháp đo lường hiện đại
CRO
Bộ phận quản lý rủi ro
RRTK
Rủi ro thanh khoản
QLRR
Quản lý rủi ro
IRB
Hệ thống đánh giá xếp hạng nội bộ
EAR
Thu nhập chịu rủi ro
ROE
Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu
ROA
RSA
Tài sản có nhạy cảm với lãi suất
RSL
Tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất
NII
Thu nhập lãi ròng
RRLS
Rủi ro lãi suất
RRTK
Rủi ro thanh khoản
NLP
Trạng thái thanh khoản ròng
5
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu, có tác động mạnh mẽ
đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Rủi ro tín dụng xảy ra còn tác
Theo công văn này, 10 ngân hàng thương mại Việt nam trong đó có Ngân hàng
thương mại cổ phần Công thương Việt nam được chọn triển khai thí điểm theo lộ
trình, các ngân hàng thương mại khác triển khai sau giai đoạn thí điểm.
6
Xuất phát từ nhận thức quan trọng về lý luận và thực tiễn đó, tôi quyết định
chọn đề tài “Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Công thương Việt nam” cho luận án tiến sỹ kinh tế là rất cần thiết, với mong
muốn hoàn thiện lý luận chuyên môn của bản thân, tiếp cận nghiên cứu thực trạng
quản trị rủi ro tín dụng và bước đầu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách
quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam
góp phần đẩy mạnh sự phát triển hoạt động tín dụng trong điều kiện hội nhập
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
2.1 Tình hình nghiên cứu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt
nam
- "Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương
Việt nam" Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Đức Tú (2012), Đại học
Kinh tế Quốc dân.
Luận án đã làm rõ cơ sở lí luận về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại,
sự cần thiết phải quản lý rủi ro tín dụng, nội dung quản lý rủi ro tín dụng bao gồm:
nhận biết, đo lường, ứng phó và kiểm soát rủi ro tín dụng. Bên cạnh đó, tác giả cũng
tìm hiểu kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng như: Ngân hàng
Phát triển Hàn Quốc, Ngân hàng Nova Scotia - Canada, Ngân hàng Citibank của
Mỹ, Ngân hàng ING bank của Hà Lan và Ngân hàng KasiKom của Thái Lan. Qua
tìm hiểu công tác quản lí rủi ro của các ngân hàng trên, tác giả đúc rút các bài học
kinh nghiệm trong công tác quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại cổ
phần Việt Nam
Trong phần tìm hiểu thực tiễn, tác giả đi vào tìm hiểu và đánh giá rủi ro tín
dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam và công tác quản trị
tín dụng thể hiện chủ yếu ở việc cho vay quá chú trọng vào nhóm doanh nghiệp nhà
nước, tỉ lệ cho vay trung dài hạn tăng cao và tỉ lệ nợ quá hạn qua các thời kỳ tăng
cao. Giai đoạn sau năm 2000, môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng trong giai
đoạn này đã trở nên hoàn thiện hơn và giảm bớt rủi ro. Luận án phân tích việc áp
dụng các mô hình quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam trên ba
nội dung: mô hình tổ chức quản trị rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm
soát rủi ro. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất lựa chọn mô hình áp dụng thích hợp với
Việt Nam.
Trên thực tế, mỗi ngân hàng có đặc điểm riêng về cơ cấu tổ chức, quy mô vốn,
lĩnh vực ưu tiên hoạt động, hình thức sở hữu, trình độ công nghệ và nhân lực…do đó,
các giải pháp trong luận án có thể chưa phù hợp với một ngân hàng cụ thể.
- "Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội"
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Quang Hiện (2016), Học viện Tài chính
Trong luận án này, tác giá đã hệ thống hóa những cơ sở lí luận về rủi ro tín
dụng, quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại có bổ sung những thay đổi mới
khi các ngân hàng đang triển khai thực hiện các quy định trong Hiệp ước Basel II; Hệ
thống hóa các bài học kinh nghiệm trong công tác quản trị rủi ro tín dụng của Ngân
hàng Thương mại trên thế giới từ đó đúc rút các bài học kinh nghiệm trong quản trị rủi
ro tín dụng đối với NHTM Việt Nam.
Đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
TMCP Quân đội giai đoạn 2011-2015 đưa ra nguyên nhân của những tồn tại trong
công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội.
Đề xuất các giải pháp, các kiến nghị đối với Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước,
Ủy ban giám sát Tài chính quốc gia nhằm tăng cường công tác quản trị rủi ro tín dụng
tại Ngân hàng TMCP Quân đội.
8
- "Quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel 2 tại Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam" Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Trần
doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam theo Hiệp ước Basel.
2.3 Câu hỏi nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu
2.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Như vậy, thế nào là rủi ro tín dụng? thế nào là quản trị rủi ro tín dụng? nội
dung, ý nghĩa, mô hình và quy trình quản trị rủi ro tín dụng như thế nảo? thực trạng
quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam
9
ra sao và giải pháp nào để tăng cường quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương
mại cổ phần Công thương Việt nam trong thời gian tới? Đây là những câu hỏi
nghiên cứu và câu hỏi quản lý cần phải có lời giải đáp?
2.3.2 Khoảng trống nghiên cứu
Các nghiên cứu trên đây đã góp phần quan trọng đưa ra những lí luận cơ bản
về quản trị rủi ro tín dụng trong thời gian qua. Tuy nhiên, các nghiên cứu đề cập
trên đây còn một số “khoảng trống” trong nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng mà
điển hình là quản trị rủi ro tín dụng đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Công
thương Việt nam giai đoạn 2011 - 2017
Các “khoảng trống” trong nghiên cứu lí luận về rủi ro tín dụng, quản trị rủi
ro tín dụng và thực trạng rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Công thương Việt nam:
- Cơ sở lí luận chưa có tính hệ thống và cập nhật về rủi ro tín dụng trong giai
đoạn hiện nay, khi mà việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang thực thi lộ trình
quản trị rủi ro trong đó có rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel II. Bên cạnh đó, Việt
Nam đã có sự phát triển và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng với kinh tế
các quốc gia trong khu vực và quốc tế
- Các nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng hầu hết chỉ đưa ra các giải
pháp là “ngăn ngừa” rủi ro, “hạn chế” rủi ro tín dụng, “quản lý” rủi ro tín dụng hay
“kiểm soát” rủi ro tín dụng chứ không đi vào “quản trị” rủi ro, tức là coi rủi ro như
là một vấn đề mà ngân hàng phải “chấp nhận” hay nói cách khác coi rủi ro là vấn đề
Vì vậy, đề tài “Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Công thương Việt nam” được phát triển nhằm bổ sung phần nghiên cứu về cơ
sở lí luận và từ cơ sở lí luận trên vận dụng trong điều kiện thực tiễn thực hiện quản trị
rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam trong thời
gian từ năm 2011 - 2017, từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín
dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam đến năm 2030
3. Mục đích nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản trị rủi ro
tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Xuất phát từ sự cần thiết của vấn đề cần nghiên cứu, trên cơ sở yêu cầu và
với khả năng nghiên cứu, luận án lựa chọn đối tượng nghiên cứu chính là “rủi ro tín
dụng” và “Quản trị rủi ro tín dụng” tại Ngân hàng thương mại
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung:
. Tín dụng bao gồm hai mặt hoạt động là huy động vốn và cấp tín dụng, luận
án chỉ nghiên cứu khâu cấp tín dụng cho khách hàng (doanh nghiệp và dân cư)
. Luận án tập trung nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng tiếp cận theo các
chuẩn mực của Basel 2 về quản trị rủi ro tín dụng: chiến lược và khẩu vị rủi ro tín
dụng, chính sách quản trị rủi ro tín dụng, tổ chức bộ máy quản trị rủi ro tín dụng,
qui trình và nội dung quản trị rủi ro tín dụng tại VietinBank, trong đó hoạt động tín
dụng được tiếp cận theo Luật số 47/2010/QH12 “Luật các Tổ chức tín dụng”, có
hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 và thông tư 39/2016/TT-NHNN của Ngân
hàng Nhà nước ngày 30/12/2016,
- Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng trong
hoạt động ngân hàng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam
(không bao gồm các công ty con, công ty liên doanh, liên kết).
kiểm soát rủi ro tín dụng tại các chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Công
thương Việt nam. Các chi nhánh được NCS chọn khảo sát đảm bảo tính đại diện:
Có chi nhánh thành phố lớn, chi nhánh khu vực nông thôn, chi nhánh có tỷ lệ nợ
xấu cao, chi nhánh có tỷ lệ nợ xấu thấp. Do các mô hình lượng hóa, các công thức
đo lường vốn, đo lường, đánh giá rủi ro tín dụng đã được đề cập và thừa nhận tính
chính xác và khoa học ở các công trình nghiên cứu liên quan trước đó. Vì vậy, khi
đề cập đến việc đo lường, đánh giá, lượng hóa rủi ro tín dụng, NCS không đi sâu
vào nghiên cứu các kỹ thuật tính toán mà sẽ kế thừa kết quả nghiên cứu các công
trình liên quan.
12
Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp: Thông qua việc thống kê,
so sánh, phân tích, tổng hợp số liệu các báo cáo thống kê của Ngân hàng thương mại
cổ phần Công thương Việt nam NCS đánh giá phân tích thực trạng rủi ro tín dụng và
quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam
giai đoạn 2011 - 2017
Phương pháp suy luận logic: Từ những vấn đề cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
đặc biệt những tồn tại, yếu kém và nguyên nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần
Công thương Việt nam về quản trị rủi ro tín dụng, NCS suy luận logic để đề xuất các
giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương
mại cổ phần Công thương Việt nam.
6. Đóng góp mới của luận án
- Đóng góp mới về lý luận cơ bản: Luận án đã trình bày khá đầy đủ, chuẩn
xác, khoa học hơn về các vấn đề lý luận cơ bản như mô hình đo lường rủi ro tín
dụng, mô hình quản trị rủi ro tín dụng, các mô hình quản trị rủi ro tín dụng tiên tiến,
vận dụng sáng tạo những nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng của hiệp ước Basel 2…
- Đóng góp mới về thực tiễn:
+ NCS đã sử dụng những kiến thức lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng:
nội dung, mô hình đo lường rủi ro tín dụng, mô hình quản trị rủi ro tín dụng và quản
1.1.1 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm
Trong nền kinh tế hàng hóa tiền tệ, do tính chất vận động của các nguồn vốn
hàng hóa, tiền tệ và sự độc lập tương đối của tiền tệ, nên tất yếu nảy sinh mâu thuẫn
tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn tiền tệ. Để giải quyết căn bản mâu thuẫn đó tín
dụng đã xuất hiện như là một hiện tượng tất yếu khách quan. Biểu hiện bên ngoài
của quan hệ tín dụng trước hết đó là sự chuyển giao quyền sử dụng vốn theo thời
hạn giữa chủ thể sở hữu chúng nhưng chưa có nhu cầu sử dụng với chủ thể đang có
nhu cầu sử dụng nhưng chưa có đủ khả năng tạo lập. Hay nói một cách cụ thể hơn
tín dụng được biểu hiện trước hết là sự vay, mượn tạm thời một số vốn tài sản hàng
hóa hay tiền tệ mà qua đó người đi vay có thể có được quyền sử dụng một lượng giá
trị nhất định theo cam kết giữa các bên. Như vậy quan hệ tín dụng là một quan hệ xã
hội biểu hiện thông qua các liên hệ về kinh tế, trong đó yếu tố lòng tin được xem
như đặc trưng cơ bản nhất.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự hoàn chỉnh của thị trường, từ
thấp tới cao quan hệ tín dụng cũng ngày càng phát triển dưới nhiều hình thức đa
dạng và phong phú. Trong nền kinh tế thị trường đã và đang tồn tại nhiều hình thức
tín dụng như: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước, TDNH và
các hình thức tín dụng kết hợp khác... Tuy nhiên TDNH với các đặc trưng riêng vẫn
được coi là hình thức tín dụng cơ bản và giữ vai trò quan trọng nhất trong hệ thống
tín dụng.
Vậy có thể hiểu: Tín dụng NHTM là các quan hệ vay mượn vốn tiền tệ phát
sinh giữa các NHTM với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế theo nguyên tắc
hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời hạn nhất định.
1.1.1.2 Phân loại
Trong nền kinh tế hiện đại, các NHTM phân loại tín dụng theo các tiêu thức
cơ bản sau:
* Theo mục đích sử dụng tiền vay: Căn cứ vào tiêu thức này người ta chia
tín dụng ra thành hai loại:
- Tín dụng đối với sản xuất và lưu thông hàng hóa: là loại cấp tín dụng cho
tín của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh
doanh, có khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể
cấp tín dụng mà không cần đòi hỏi nguồn thu nợ bổ sung. Đây là căn cứ pháp lý
quan trọng trong việc truy đòi các khoản nợ có vấn đề phát sinh.
Ngoài ra tín dụng có thể phân theo: loại tiền, phạm vi quốc gia, cơ cấu vốn
tín dụng tham gia, đối tượng tạo lập của vốn vay.
1.1.1.3 Đặc điểm của hoạt động tín dụng
- Trong hoạt động tín dụng, các NHTM đóng vai trò là tổ chức trung gian:
Các NHTM đóng vai trò là tổ chức trung gian tức là các NHTM vừa đóng
vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay.
16
Khi huy động, các NHTM sử dụng các hình thức huy động khác nhau để thu
hút mọi nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi để tạo lập nguồn vốn kinh doanh, lúc này
NHTM đóng vai trò là người đi vay lớn nhất trong nền kinh tế.
Khi cho vay, các ngân hàng lại dùng chính nguồn vốn đã huy động được để
cho vay lại đối với nền kinh tế, lúc này ngân hàng lại đóng vai trò là người cho vay
lớn nhất trong nền kinh tế.
- Huy động vốn và cho vay của NHTM đều chủ yếu thực hiện dưới hình
thức tiền tệ:
Trong quan hệ TDNH, các NHTM bằng cơ chế thích hợp, huy động các
nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để tạo ra quỹ cho vay của ngân hàng.
Như vậy, tiền ở đây là công cụ thực hiện tín dụng, đó là loại tiền tín dụng hay còn
gọi là công cụ lưu thông TDNH.
- Quá trình vận động và phát triển của TDNH độc lập tương đối với sự vận
động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội:
Vốn tín dụng là bộ phận không thể thiếu trong quá trình vận động của mọi
hoạt động xã hội nói chung và các hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng. Tuy
- Doanh số hoạt động tín dụng lớn, các hình thức tín dụng đa dạng, nhiều
rủi ro:
Doanh số hoạt động tín dụng lớn vì hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản
của ngân hàng thương mại. Dư nợ tín dụng thường chiếm trên 50% tổng tài sản
của ngân hàng thương mại và thu nhập từ tín dụng thường chiếm 50% - 70% tổng
thu nhập của Ngân hàng thương mại. Bên cạnh việc đem lại thu nhập chính cho
ngân hàng thì rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng có xu hướng tập trung vào
danh mục tín dụng với các hình thức tín dụng rất đa dạng. Chính vì vậy mà hoạt
động tín dụng luôn là mối quan tâm lớn nhất của các ngân hàng thương mại cũng
như thanh tra ngân hàng.
Độ rủi ro của hoạt động tín dụng là khá cao vì nó phụ thuộc khả năng tài
chính của khách hàng, đặc biệt khách hàng cá nhân thường thay đổi nhanh chóng
tùy theo tình trạng công việc và sức khỏe của họ. Ngoài ra, các thông tin tài chính
của khách hàng vay thường không chính xác và khó kiểm soát. Vì thế, ngân hàng
sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro nếu người vay mất khả năng thanh toán. Trên thực
tế, các khoản vay có tài sản đảm bảo hoặc có người thứ ba bảo lãnh sẽ làm tăng
mức độ tin cậy hơn, đồng thời giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro hơn so với các
khoản vay không có tài sản đảm bảo.
1.1.1.4 Vai trò của hoạt động tín dụng
Tín dụng là mối quan hệ kinh tế nên có tác động nhất định đối với hoạt động
kinh tế. Tuy nhiên vai trò của tín dụng phụ thuộc chủ yếu vào nhận thức và vận dụng
quan hệ tín dụng vào xây dựng và quản lý kinh tế của con người.
TDNH ra đời xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn trong nền kinh tế luôn làm
phát sinh hiện tượng có những chủ thể tạm thời thừa vốn và những chủ thể khác tạm
thời thiếu vốn. TDNH đã giải quyết được mâu thuẫn giữa cung cầu về vốn, là sự
cần thiết khách quan phù hợp với sự vận động vốn tiền tệ trong nền kinh tế thị
trường. Khối lượng TDNH chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế, ngày càng giữ
vị trí quan trọng đối với lĩnh vực sản xuất và lưu thông hàng hóa cũng như lưu
thông tiền tệ. TDNH trong nền kinh tế thị trường được cụ thể hóa bằng các vai trò
sau đây.
- TDNH đáp ứng nhu cầu vốn để quá trình sản xuất được liên tục: Trong nền
kinh tế, có nhiều chủ thể kinh tế hoạt động trong nhiều ngành nghề khác nhau, mỗi chủ
thể, mỗi ngành kinh tế lại có chu kỳ sản xuất khác nhau, trong khi đó, quá trình tái sản
xuất xã hội lại diễn ra liên tục trên cơ sở phân công lao động và hợp tác trong toàn bộ
nền kinh tế. Vì vậy, tất yếu xảy ra tình trạng nơi tạm thời thừa vốn, nơi tạm thời thiếu
vốn. Với tư cách là trung gian tài chính, các ngân hàng tập trung các nguồn vốn tạm
thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, và cho vay đối với các thành phần đang tạm thời thiếu
vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục. Điều này có nghĩa là
TDNH là công cụ tích tụ và tập trung vốn rất quan trọng góp phần thúc đẩy nhanh tốc
độ chu chuyển vốn trong nền kinh tế thị trường. Hoạt động theo phương châm "đi
vay để cho vay", TDNH không những đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra
bình thường, mà còn đẩy nhanh quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, mở rộng sản
19
xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ sản xuất mới, nâng cao chất lượng sản
phẩm dịch vụ.
- TDNH góp phần thúc đẩy phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh
thêm năng động và có hiệu quả hơn: Hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt
đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng vận động để phù hợp với những biến
động của thị trường. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhằm đáp ứng nhu cầu
vốn của mình doanh nghiệp phải đi vay ngân hàng và phải hoàn trả cả gốc và lãi sau
một thời gian nhất định, do đó doanh nghiệp cần tìm hiểu và đầu tư vốn vào những
ngành nghề có tỷ suất lợi nhuận cao, qua đó vừa duy trì được hoạt động của mình,
vừa hoàn trả được vốn vay ngân hàng. Bên cạnh đó, TDNH cũng tạo điều kiện
thuận lợi cho việc di chuyển vốn, góp phần thay đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh.
TDNH thực sự là công cụ kinh tế quan trọng góp phần tạo ra các nguồn vốn hỗ trợ
hữu hiệu, và các sản phẩm dịch vụ tiện ích phục vụ đắc lực cho các hoạt động sản
xuất kinh doanh, đồng thời nó cũng là công cụ điều tiết có hiệu quả của nhà nước để
tác động vào mọi HĐKD theo các mục tiêu chung của nền kinh tế, từ đó làm cho
cầu vốn qua kênh tín dụng lớn hơn nhiều so với các kênh phân phối khác. Mặt khác
thông qua sự vận dụng lãi suất linh hoạt (cả lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay) và
các công cụ khác, TDNH còn góp phần định hướng đầu tư, xác định hiệu quả kinh
doanh một cách cụ thể, giúp cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, và có
thể lượng hóa rõ hơn các rủi ro có thể xảy ra trong sản xuất kinh doanh.
Đồng thời cũng có thể thông qua TDNH, nhà nước có thể vận dụng nhiều
biện pháp ưu đãi cho doanh nghiệp (hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh, cho vay chỉ định,…)
để giải quyết các khó khăn về tài chính trong điều kiện nền kinh tế có những biến
động lớn.
TDNH tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thị trường vốn ngắn hạn.
Thông qua việc huy động vốn và cho vay tín dụng đã góp phần đẩy nhanh tốc độ
chu chuyển vốn xã hội thông qua việc điều tiết các vốn chậm sang chỗ có vòng chu
chuyển vốn nhanh hơn. Đồng thời thông qua hoạt động TDNH có thể tạo ra nhiều
công cụ lưu thông (như kỳ phiếu ngân hàng) và nhiều dịch vụ tiện ích (chiết khấu,
bao thanh toán, bảo lãnh,…) phục vụ đắc lực cho quá trình vận động vốn của mọi
chủ thể trên thị trường. Đây là tiền đề quan trọng để phát triển mở rộng thị trường
vốn ngắn hạn.
- Hoạt động TDNH góp phần điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông, đáp
ứng các nhu cầu trao đổi:
Ngân hàng trung ương (NHTW) thông qua quan hệ tín dụng để điều tiết
khối lượng cho vay tại các tổ chức tín dụng (TCTD). Với vai trò là người cho vay
cuối cùng, việc mở rộng hay thu hẹp cửa sổ chiết khấu sẽ ảnh hưởng đến quy mô tín
dụng, từ đó sẽ tác động đến khối lượng cho vay của các TCTD. Thông qua hoạt
động tín dụng, NHTW có thể sử dụng NHTM như là chiếc "cầu nối" giữa nhà nước
với thị trường thông việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ để từ đó có thể
điều tiết được khối lượng tiền cung ứng. Đồng thời thông qua hoạt động của
NHTM, NHTW có thể thu nhận các dấu hiệu, các thông tin thị trường để từ đó có
biện pháp điều chỉnh kịp thời và phù hợp với thực tế về cung - cầu tiền tệ trong nền
kinh tế. Điều này có ý nghĩa đặc biệt trong nền kinh tế đang có lạm phát hay bất ổn
định. Như vậy, NHNN thông qua cửa sổ chiết khấu đã tác động tới khối lượng cho
nền kinh tế ngày càng phát triển thì hoạt động sản xuất hàng hóa càng đa dạng và
phong phú. Các doanh nghiệp không chỉ bó hẹp quan hệ kinh doanh trong phạm vi
một quốc gia mà đã mở rộng quan hệ với các doanh nghiệp nước ngoài. Nhờ có
hoạt động tín dụng mà cụ thể hơn là bảo lãnh ngân hàng đã tạo cơ hội cho sự phát
triển của các doanh nghiệp, nâng cao vị thế của các doanh nghiệp trên thị trường
quốc tế, từ đó mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. Đa số các NHTM hiện nay đều
mở các ngân hàng đại lý bên nước ngoài để phục vụ khách hàng quốc tế trong hoạt
động thanh toán thẻ, cho vay cá nhân và các tổ chức nước ngoài.
TDNH đã trở thành một trong những phương tiện để nối liền kinh tế của các
nước với nhau. Đặc biệt với các nước đang phát triển, TDNH đóng vai trò quan
trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hóa đồng thời nhờ nguồn vốn tín dụng bên
ngoài để công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Tóm lại, trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển TDNH luôn được
coi là một trong các biện pháp cơ bản để điều hòa các dòng vốn trong xã hội và đáp
ứng các yêu cầu trong sử dụng vốn của nền kinh tế. Thực tế cho chúng ta thấy
22
TDNH thực sự là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa tiêu dùng và sản xuất, giữa
trong nước và quốc tế,… Do vậy việc nâng cao chất lượng tín dụng nói chung, chất
lượng TDNH nói riêng không chỉ là vấn đề quan tâm của các NHTM mà thực sự là
vấn đề lớn của cả nền kinh tế trong điều kiện hiện nay.
1.1.2 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
RRTD gắn liền với hoạt động tín dụng, là hoạt động cơ bản của ngân hàng và
đem lại nguồn thu chủ yếu của ngân hàng hiện nay, có thể gây tổn thất về tài chính,
về kinh tế mà tác động trực tiếp là làm giảm lãi, giảm giá trị thị trường về vốn, trong
trường hợp nghiêm trọng hơn có thể làm HĐKD của ngân hàng bị thua lỗ, thậm chí
là phá sản ngân hàng. Có nhiều khái niệm về RRTD được ghi nhận trong các tài liệu
nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước, có thể dẫn ra như sau:
1.1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Có nhiều cách phân loại và tiếp cận RRTD khác nhau, sau đây là một số cách
phân loại phổ biến:
- Căn cứ vào nguồn gốc của RRTD có thể chia RRTD làm 2 nhóm: rủi ro
đạo đức và rủi ro do sự lựa chọn đối nghịch;
+ Rủi ro đạo đức: là rủi ro do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc
giao dịch diễn ra. Vì lợi ích cá nhân mà bên cho vay đã bỏ qua các thông tin không
tin cậy về năng lực trả nợ của bên đi vay hoặc bên đi vay đã cố tình không tuân thủ
các quy định trong thỏa thuận vay, không cung cấp các thông tin có thể ảnh hưởng
đến năng lực trả nợ trong quá trình sử dụng vốn vay.
+ Rủi ro do sự lựa chọn đối nghịch: là rủi ro do thông tin không cân xứng tạo
ra trước khi cuộc giao dịch diễn ra. Bên cho vay tin tưởng vào năng lực của người
vay mà cho vay trong khi người đi vay với mục đích để vay được vốn đã cung cấp
thông tin không trung thực cho bên cho vay.
- Căn cứ vào mức độ tổn thất, có thể chia RRTD ra làm 2 loại là rủi ro mất
vốn và rủi ro đọng vốn;
+ Rủi ro mất vốn: Rủi ro mất vốn là rủi ro khi người vay không có khả năng
trả được nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc hoặc lãi vay, ngân hàng chỉ trông chờ
vào giá trị thanh lý tài sản của doanh nghiệp. Rủi ro mất vốn sẽ làm (i) tăng chi phí
do nợ khó đòi tăng, chi phí quản trị, chi phí giám sát (ii) giảm lợi nhuận do các
khoản dự phòng gia tăng cho những khoản vốn mất đi.
+ Rủi ro đọng vốn: Rủi ro đọng vốn là rủi ro xảy ra trong trường hợp đến hạn
mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi vốn vay, dẫn đến các khoản vốn bị đông cứng và
ảnh hưởng đến ngân hàng trên hai phương diện: (i) ảnh hưởng đến kế hoạch sử
dụng vốn của ngân hàng, (ii) gặp khó khăn cho việc thanh toán cho khách hàng.
- Căn cứ theo đối tượng sử dụng, có thể chia làm ba nhóm:
+ Rủi ro khách hàng cá thể: RRTD xảy ra đối với đối tượng khách hàng là cá
nhân.
+ Rủi ro công ty, tổ chức kinh tế, định chế tài chính: RRTD xảy ra đối với
khách hàng là công ty, tổ chức kinh tế, định chế tài chính.
+ Rủi ro trong khi cho vay: Rủi ro này xảy ra trong quy trình cấp tín dụng.
Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro này bao gồm: (i) việc giải ngân không đúng tiến độ
(ii) không cập nhật thông tin khách hàng thường xuyên và (iii) không dự báo được
rủi ro tiềm năng. Khách hàng cố tình không trả nợ vay hoặc cung cấp thông tin
không trung thực về khả năng trả nợ.
+ Rủi ro sau khi cho vay: Rủi ro này xảy ra khi mà cán bộ tín dụng không nắm
được tình hình sử dụng vốn vay, khả năng tài chính tương lai của khách hàng.
- Căn cứ vào quy mô ảnh hưởng của RRTD đến hoạt động của ngân hàng,
RRTD được chia thành rủi ro khoản vay và rủi ro danh mục.
+ Rủi ro khoản vay: Là rủi ro được đánh giá đối với mỗi khoản vay, mức độ
rủi ro khoản vay được đánh giá đơn lẻ và mức độ ảnh hưởng thường được giới hạn
do quy mô khoản vay.
+ Rủi ro danh mục: Là rủi ro được đánh giá đối với một danh mục các khoản
vay có tính chất tương đồng (đối tượng khách hàng, đối tượng cho vay hay tính chất
khoản vay…). Việc đánh giá rủi ro danh mục có vai trò quan trọng vì mức độ ảnh
hưởng lan tỏa và quy mô tín dụng lớn.
1.1.2.3 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
25
Các nguyên nhân khách quan:
Nguyên nhân từ môi trường chính trị và pháp lý
Môi trường chính trị có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Tình hình chính trị xã hội không ổn định thì không chỉ riêng các khách hàng sản xuất
mà cả các ngân hàng cũng khó có thể yên tâm tập trung vào đầu tư, mở rộng kinh
doanh, đặc biệt là mở rộng tín dụng. Hơn nữa, sự bất ổn về chính trị xã hội sẽ dẫn đến
sự mất lòng tin của dân chúng như các nhà đầu tư trong và ngoài nước, ảnh hưởng đến
hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Môi trường pháp lý cũng có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình QTRRTD
của ngân hàng. Xác lập một khuôn khổ pháp luật đồng bộ, nhất quán điều chỉnh các