VIỆN HẦN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIỆU ĐÌNH PHƯƠNG
QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG CHUỖI CUNG ỨNG TẠI CÁC
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT LĨNH VỰC ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
- VIỄN THÔNG VIỆT NAM
Ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 9.34.01.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI-năm 2019
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS Trần Nhuận Kiên
2. PGS. TS Chu Đức Dũng
Phản biện 1: PGS. TS. Nguyễn Xuân Trung
Phản biện 2: PGS. TS. Lê Công Hoa
Phản biện 3: PGS. TS. Lê Thái Phong
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Học viện họp tại: ……………………………………………..
85% lực lượng lao động, phần đóng góp còn lại của các doanh
nghiệp nội địa là rất hạn chế. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp
sản xuất nội địa không đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chuẩn về
sản phẩm như chất lượng, chi phí, thời gian giao hàng. Nghiên cứu
mô hình và các thực hành quản trị chất lượng làm cơ sở tạo ra các
sản phẩm có chất lượng ổn định, đáp ứng các yêu cầu của khách
hàng về chi phí, thời gian giao hàng là nhu cầu cấp thiết.
Từ các lí do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Quản trị chất lượng
chuỗi cung ứng tại các doanh nghiệp sản xuất lĩnh vực điện – điện tử
- viễn thông Việt Nam” làm đề tài luận án của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích luận án nghiên cứu hoạt động thực hành quản trị chất
lượng chuỗi cung ứng (SCQM) và mối liên hệ với kết quả hoạt động
tại doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện/điện tử/viễn thông Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động thực hành quản trị chất lượng chuỗi cung ứng tại các
doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện - điện tử - viễn thông Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện/điện tử/viễn thông Việt Nam
được nghiên cứu là các doanh nghiệp đăng ký mã ngành kinh doanh
thuộc nhóm C26, C27 của Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Trong Luận án này, sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp
nghiên cứu tại bàn, Phương pháp nghiên cứu định tính, Phương pháp
nghiên cứu định lượng, Phương pháp nghiên cứu tình huống.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Đóng góp về mặt lý thuyết:
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Các nghiên cứu quốc tế về SCQM
1.1.1 Các nghiên cứu về tích hợp QM và SCM
Khái niệm Quản trị chuỗi cung ứng (SCM) hình thành từ trong thập
niên 1980 và ban đầu liên quan đến các hoạt động quản trị mua hàng,
quản trị tồn trữ, vận chuyển trong chuỗi cung ứng. Quản trị chất
lượng toàn diện (TQM): “…là cách quản lý một tổ chức tập trung
vào chất lượng dựa vào sự tham gia của tất cà các thành viên, nhằm
đạt tới sự thành công lâu dài nhờ thoả mãn khách hàng và đem lại lợi
ích cho các thành viên của tổ chức và cho xã hội” [14].
Cho đến năm 2000, nỗ lực QM chỉ tập trung cải thiện chất lượng sản
phẩm tại các quá trình trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp. Với sự
không chắc chắn ngày càng gia tăng của môi trường kinh doanh, chất
lượng sản phẩm cuối cùng phụ thuộc vào toàn bộ dòng chảy liên tục
trong chuỗi cung ứng. Việc làm thỏa mãn khách hàng chỉ có thể đạt
được khi toàn bộ chuỗi cam kết, tích hợp, phối hợp chặt chẽ với nhau
[94]. Các hoạt động thực hành TQM truyền thống cần phải được
chuyển đến một cách tiếp cận khác về chuỗi cung ứng [85], mở rộng
hoạt động với các đối tác chuỗi cung ứng cả xuôi dòng và ngược
dòng để thu được toàn bộ lợi ích tiềm năng của cải tiến chất lượng,
nâng cao chất lượng để làm hài lòng khách hàng [85], [93]. Tích hợp
hai khái niệm QM và SCM được đề xuất bởi nhiều học giả, dẫn tới
sự ra đời của quản trị chất lượng chuỗi cung ứng (Supply Chain
Quality Management - SCQM), mang lại các tiềm năng để đối phó
với những thách thức trong tương lai của chuỗi cung ứng [45].
1.1.2 Các nghiên cứu về khái niệm và nội hàm của SCQM
2
3
Công ty với khách hàng và nhà cung cấp. Trong khi đó, Kaynak và
Hartley [61] phát triển 8 thực hành SCQM với tập trung vào nội bộ
và QM nhà cung cấp: sự lãnh đạo, đào tạo, quan hệ nhân viên, tập
trung khách hàng, báo cáo và dữ liệu chất lượng, QM nhà cung cấp,
thiết kế sản phẩm/dịch vụ và quản trị quá trình. Rồi sau đó, Zeng và
cộng sự [103] đề xuất thực hành SCQM được chia thành 3 nhóm:
QM nội bộ, QM dòng ngược, QM dòng xuôi. Gần đây, các thực hành
SCQM liên quan tới chia sẻ thông tin và quản trị tri thức giữa các
doanh nghiệp, nhà cung cấp và khách hàng [55], [103], cũng như ứng
dụng hệ thống thông tin như công nghệ Internet mới nhất để nâng
cao kết quả chất lượng trong toàn bộ chuỗi cung ứng [85].
Tác động của SCQM tới kết quả hoạt động cũng được nghiên cứu
rộng rãi bởi nhiều học giả để có hiểu biết tốt hơn cách thức hoạt
động thực hành SCQM tác động tới kết quả chất lượng [93], [95], sự
hài lòng khách hàng [103], kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
[55], [66], [83]. Kết quả thu được khá đa dạng do khác nhau về bối
cảnh, mẫu nghiên cứu cũng như không có một thang đo thống nhất
và hoàn chỉnh các hoạt động thực hành SCQM. Cụ thể như, Zeng và
cộng sự [103] chỉ ra rằng không có bằng chứng về tác động của quản
trị chất lượng ngược dòng tới sự phù hợp về chất lượng, trong khi đó
Soares và cộng sự [95] chỉ ra rằng tập trung vào nhà cung cấp và tích
hợp nhà cung cấp có thể cải thiện kết quả chất lượng.
1.1.4 Các hướng nghiên cứu khác liên quan đến SCQM
Bên cạnh 3 hướng nghiên cứu chính về SCQM gồm (1): định nghĩa
và xác định các đặc tính của SCQM, (2) xem xét và phát triển các
thực hành SCQM để cải thiện chất lượng và kết quả hoạt động chuỗi
cung ứng (3) đánh giá thực chứng tác động của thực hành SCQM tới
kết quả hoạt động của doanh nghiệp, các học giả trên thế giới còn
5
1.3 Tổng kết đánh giá và khoảng trống nghiên cứu
Qua tổng quan, tác giả nhận thấy tồn tại 04 khoảng trống nghiên cứu:
- Nghiên cứu tích hợp hệ thống quản trị chất lượng và quản trị chuỗi
cung ứng hướng tới một hệ thống quản trị vượt trội hơn tại các doanh
nghiệp sản xuất chế tạo Việt Nam.
- Nghiên cứu xác định các cấu trúc đo lường/đánh giá chất lượng
chuỗi cung ứng và các hoạt động thực hành quản trị chất lượng chuỗi
cung ứng xét trong bối cảnh nghiên cứu tại các doanh nghiệp sản
xuất chế tạo Việt Nam.
- Nghiên cứu thực chứng mối quan hệ giữa các hoạt động thực hành
quản trị chất lượng chuỗi cung ứng và kết quả hoạt động, năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất chế tạo tại Việt Nam.
- Các vấn đề liên quan đến chất lượng và mô hình, hoạt động quản trị
chất lượng chuỗi cung ứng ứng tại các doanh nghiệp sản xuất thiết bị
điện/điện tử /viễn thông Việt Nam
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án tập trung trả lời 03 câu hỏi nghiên cứu sau:
- Cách tiếp cận đo lường/đánh giá SCQM bao gồm 3 thành phần:
Quản trị chất lượng nội bộ, Quản trị chất lượng dòng ngược, Quản trị
chất lượng dòng có phù hợp xét trong bối cảnh nghiên cứu tại các
doanh nghiệp sản xuất, chế tạo Việt Nam ?
- Hiện trạng thực hành SCQM tại các doanh nghiệp sản xuất thiết bị
điện/điện tử/viễn thông Việt Nam hiện nay ?
- Liệu tăng cường các thực hành SCQM có cải thiện kết quả hoạt
động, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất
thiết bị điện/điện tử/viễn thông Việt Nam ?
nhà cung cấp và khách hàng nhằm cung cấp giá trị khách hàng cao
7
hơn với chi phí thấp hơn cho toàn bộ chuỗi cung ứng” [40]
2.1.3.2 Các hoạt động thực hành quản trị chuỗi cung ứng
Hai chức năng chính của SCM là tích hợp mạng lưới các tổ chức và
phối hợp đảm bảo sự lưu chuyển liên tục, ổn định của dòng thông tin,
nguyên liệu/sản phẩm và tài chính. Dựa trên hai chức năng nền tảng
của chuỗi cung ứng, các học giả trên thế giới đã phát triển các thực
hành SCM hướng tới cải thiện hiệu suất hoạt động. Các thực hành
quản trị chuỗi cung ứng được định nghĩa là một tập hợp các hoạt
động được thực hiện trong một tổ chức để thúc đẩy quản trị hiệu quả
chuỗi cung ứng [70]. Theo cách tiếp cận quá trình của Li và cộng sự
[70] các hoạt động thực hành quản trị chuỗi cung ứng gồm 4 nhóm
hoạt động với 5 thực hành gồm: quản trị dòng ngược (quan hệ đối tác
chiến lược với nhà cung cấp), quản trị dòng xuôi (quan hệ khách
hàng), quản trị luồng thông tin trong chuỗi (mức độ và chất lượng
chia sẻ thông tin), quản trị quy trình chuỗi cung ứng nội bộ (trì hoãn)
2.2 Chất lượng và quản trị chất lượng
2.2.1 Khái niệm về chất lượng
Chất lượng là một khái niệm trừu tượng, hiện nay có rất nhiều định
nghĩa về nó tùy thuộc vào quan điểm, cách tiếp cận. Vì mục đích của
nghiên cứu này là tìm ra những yếu tố trong mô hình quản trị chất
lượng sản phẩm, dịch vụ trên phạm vi toàn bộ chuỗi cung ứng do đó,
định nghĩa chất lượng được tác giả sử dụng trong luận án này là: “sự
phù hợp với các yêu cầu kỹ thuật và đáp ứng hoặc vượt quá mong
đợi của khách hàng”.
2.2.2 Quản trị chất lượng và tiến trình phát triển của QM
Chất lượng luôn đóng một vai trò quan trọng trong thương mại giữa
các quan điểm về SCQM có thể kể đến gồm có:
- SCQM là giai đoạn phát triển mới của quản trị chất lượng toàn
diện: đạt được chất lượng cao liên quan tới quá trình hợp tác giữa
các đối tác thay vì tập trung vào nội bộ [103].
9
- SCQM là hiệu ứng cộng hưởng giữa quản trị chuỗi cung ứng
(SCM) và quản trị chất lượng (QM): cách tiếp cận này cho rằng,
cách tiếp cận truyền thống về SCM không còn phù hợp, tỏ ra kém
hiệu quả ở bối cảnh cạnh tranh hiện tại, ứng dụng nguyên tắc QM
mở ra các cơ hội mới để cải thiện kết quả hoạt động của chuỗi [45].
- SCQM là cơ chế quản trị chất lượng các dòng chảy trong chuỗi
cung ứng: sự phối hợp chính thức và tích hợp các quy trình kinh
doanh giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng để tạo ra giá trị và
đạt được sự hài lòng cho khách hàng trung gian và cuối cùng trên thị
trường.
Trong luận án này, tác giả sử dụng cách tiếp cận quản trị chất lượng
chuỗi cung ứng là cơ chế quản trị chất lượng các dòng chảy trong
chuỗi cung ứng.
2.3.2 Vai trò của quản trị chất lượng chuỗi cung ứng
- Giảm thiểu rủi ro và sự cố về chất lượng
- Giảm chi phí sản xuất và nâng cao kết quả hoạt động
- Xây dựng và bảo vệ danh tiếng/thương hiệu
- Vũ khí cạnh tranh trong môi trường kinh doanh toàn cầu
2.3.3 Các cấu phần và thực hành SCQM
Với cách tiếp cận SCQM như là cơ chế quản trị chất lượng các dòng
chảy trong chuỗi cung ứng, hoạt động SCQM bao gồm các cấu phần:
hoạt động QM nội bộ (bên trong tổ chức); hoạt động QM dòng
ngược (quan hệ, hợp tác, tích hợp với nhà cung cấp); hoạt động QM
nhân viên, Tuy nhiên, vẫn chưa có một thang đo thống nhất về kết
quả hoạt động.
11
CHƯƠNG 3
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
3.1 Khung phân tích và các giả thuyết nghiên cứu về SCQM
3.1.1 Khung phân tích
SCM bao gồm các hoạt động nội bộ diễn ra trong phạm vi
của một công ty và các hoạt động bên ngoài vượt qua ranh giới tổ
chức để hợp nhất một công ty với khách hàng và nhà cung cấp của
nó [70]. Từ quan điểm quản trị hoạt động, quản trị dòng chảy và QM
là hai thành phần chính của chuỗi cung ứng. Duy trì sự phù hợp chất
lượng ngược dòng (chất lượng nhà cung cấp) cao giúp tránh, giảm
các hoạt động kiểm tra bổ sung hoặc quản trị dòng chảy ngược (sản
phẩm thu hồi) để kiểm tra, sửa chữa, nâng cấp, thu hồi…, nâng cao
hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng. Phát triển quan hệ đối tác
chiến lược mạnh mẽ với các nhà cung cấp sẽ tạo điều kiện cho sự
hiểu biết và dự đoán nhu cầu của nhà sản xuất, nhằm đáp ứng tốt hơn
các yêu cầu thay đổi của nhà sản xuất.. Mối quan hệ chặt chẽ giữa
khách hàng và nhà sản xuất tạo cơ hội cải thiện độ chính xác của
thông tin nhu cầu, làm giảm thời gian thiết kế sản phẩm và thời gian
lập kế hoạch sản xuất của nhà sản xuất và thời gian tồn kho, cho
phép đáp ứng nhanh hơn nhu cầu của khách hàng. Tích hợp khách
hàng tạo ra cơ hội cho phép các nhà sản xuất giảm chi phí, tạo ra giá
trị lớn hơn và phát hiện các thay đổi nhu cầu nhanh hơn.
Như trên, có thể thấy hoạt động SCQM không chỉ bao gồm các hoạt
động quản trị chất lượng nội bộ trong mỗi tổ chức của chuỗi cung
ứng mà còn đòi hỏi sự giao tiếp, chia sẻ thông tin, hợp tác, liên kết
3.1.3 Phương pháp và quy trình nghiên cứu
Hình 3.2: Các bước trong quá trình triển khai nghiên cứu
14
3.2 Thiết kế bảng hỏi (Mục hỏi và tham chiếu)
Các thang đo được phát triển dựa trên quá trình tổng quan tài liệu và
có sự hiệu chỉnh nhằm đảm bảo tương thích với bối cảnh nghiên cứu
tại Việt Nam. Các khái niệm tiềm ẩn/biến được đề xuất trong khung
phân tích sử dụng thang đo Likert 7 mức độ (1 – Hoàn toàn không
đồng ý, 4 - Bình thường, 7 – Hoàn toàn đồng ý).
3.2.1 Thang đo Quản trị chất lượng nội bộ
Theo Flynn và cộng sự [43] các hoạt động thực hành QM trong tổ
chức có thể được chia làm 2 nhóm như sau: thực hành cơ sở hạ tầng
QM gồm có: Sự hỗ trợ từ lãnh đạo cao nhất, Lập kế hoạch chiến lược
về chất lượng, Đào tạo chất lượng, Phần thưởng; các thực hành QM
cốt lõi: Quản trị quá trình, Dữ liệu và báo cáo chất lượng, Thông tin
phản hồi, Thiết kế chất lượng, Cải tiến liên tục, Giải quyết vấn đề.
Kế thừa kết quả nghiên cứu này, các hoạt động thực hành QM nội bộ
được đánh giá, đo lường thông qua 10 thang đo thành phần.
3.2.2 Thang đo Quản trị chất lượng dòng ngược
QM dòng ngược được đánh giá, đo lường thông qua 06 thành phần
gồm: QM nhà cung cấp, Liên kết công nghệ, Chia sẻ thông tin với
nhà cung cấp, Sự tham gia của nhà cung cấp trong thiết kế sản phẩm,
Sự tham gia của nhà cung cấp trong cải tiến chất lượng,
3.2.3 Thang đo Quản trị chất lượng dòng xuôi
Thang đo QM dòng xuôi bao gồm 5 thành phần: Phát triển quan hệ
với khách hàng; Khuyến khích khách hàng tham gia vào quá trình
thiết kế và cải tiến chất lượng sản phẩm; Liên kết công nghệ, chia sẻ
- Độ giá trị (Validity)
3.4.2 Kỹ thuật kiểm định giả thuyết
- Thống kê mô tả (Descriptive Statistics)
- Phân tích tương quan (Correlation analysis)
- Phân tích hồi quy tuyến tính (Linear regression analysis)
16
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý
4.1 Tổng quan về ngành sản xuất thiết bị điện/điện tử/viễn thông
Việt Nam
4.1.1 Đặc điểm ngành sản xuất thiết bị điện/điện tử/viễn thông
Theo Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam năm 2018 (VSIC 2018),
ngành sản xuất thiết bị điện/điện tử/viễn thông gồm có mã ngành
C26 và C27. Ngành này có các đặc điểm chính như sau: (1) ngành sử
dụng công nghệ cao; (2) sản phẩm có mức độ phức hợp cao (3) tốc
độ phát triển nhanh; (4) chi phí/vốn đầu tư ban đầu lớn (5) sản phẩm
sản xuất và tiêu thụ với khối lượng lớn, giá thành giảm nhanh, vòng
đời ngắn; (6) ngành có xu hướng chuyển dịch công nghệ từ các quốc
gia có nền công nghiệp phát triển sang các quốc gia đang phát triển.
4.1.2 Chuỗi giá trị ngành sản xuất thiết bị điện/điện tử/viễn thông
Chuỗi giá trị sản xuất thiết bị điện - điện tử - viễn thông tiêu dùng:
bao gồm nguyên liệu thô và nguyên liệu đầu vào, linh kiện điện/điện
tử, sản phẩm trung gian (cụm lắp ráp), lắp ráp sản phẩm cuối cùng
cho các phân khúc thị trường.
4.1.3 Cấu trúc của ngành và vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị
sản xuất toàn cầu
a. Về cấu trúc của ngành
Ngành sản xuất thiết bị điện/điện tử /viễn thông tiêu dùng bao gồm
các doanh nghiệp nội địa là rất hạn chế. Doanh nghiệp FDI đóng góp
tới trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu và thu hút tới 578.036 lao
động, chiếm 88,76%. Quy mô các doanh nghiệp nội địa chủ yếu là
nhỏ và vừa, năng lực sản xuất hạn chế cả về kỹ thuật và các nguồn
lực khác. Số liệu điều tra doanh nghiệp 2015 cho thấy có 943 doanh
nghiệp (chiếm 38,62%) có dưới 10 lao động, 1270 doanh nghiệp
(chiếm 52%) có vốn chủ sở hữu dưới 5 tỷ đồng.
4.2 Kết quả khảo sát hoạt động SCQM tại các doanh nghiệp sản
xuất thiết bị điện/điện tử/viễn thông Việt Nam
18
4.2.1 Mô tả mẫu nghiên cứu
Trong số 100 doanh nghiệp tham gia khảo sát: 50% Công ty TNHH,
25% Công ty cổ phần, 10% Doanh nghiệp FDI, 10% Doanh nghiệp
tư nhân, 5% Doanh nghiệp nhà nước. Về quy mô lao động, cao nhất
7.855 người, thấp nhất là 10. Dựa trên các đặc điểm trên của mẫu
nghiên cứu có thể nhận thấy mẫu nghiên cứu đã đáp ứng được các
yêu cầu về tính đại diện, dữ liệu thu được có độ tin cậy cao.
4.2.2 Kết quả kiểm định thang đo
Kết quả Kiểm định các thang đo cho thấy các thang đo đều đạt độ giá
trị và độ tin cậy khá cao. Dữ liệu thu về có độ tin cậy cao, có thể
được sử dụng để đánh giá thực trạng, kiểm định mô hình và các giả
thuyết nghiên cứu đề ra ban đầu.
4.2.3 Kết quả đánh giá mức độ triển khai các thực hành quản trị
chất lượng chuỗi cung ứng tại các doanh nghiệp tham gia khảo sát
4.2.3.1 Hoạt động thực hành quản trị chất lượng nội bộ
Hoạt động quản trị chất lượng nội bộ được nghiên cứu gồm 10 thực
hành quản trị, với điểm đánh giá trung bình từ 3.99 đến 4.33, điểm
trung bình của toàn bộ thang đo là 4.15/7.0, cho thấy hoạt động này
4
5
6
7
8
Quản trị chất lượng nội bộ
Quản trị chất lượng dòng
ngược
Quản trị chất lượng dòng xuôi
Quản trị chất lượng chuỗi
cung ứng
Chất lượng sản phẩm
Chi phí chất lượng
Thời gian giao hàng
Kết quả hoạt động
2.97
4.75
4.1483
.44632
2.60
4.78
3.9490
3.6475
4.2025
4.0292
.63701
.89336
.69513
.59722
Nguồn: Tác giả xử lý trên phần mềm SPSS
Tại các doanh nghiệp tham gia khảo sát các hoạt động thực hành
SCQM nói chung đã được thực hiện với điểm đánh giá trung bình đạt
3.97/7.0 trong đó thực hành QM nội bộ được đánh giá cao nhất với
điểm đánh giá là 4.14/7.0, tiếp theo là thực hành QM dòng ngược với
điểm đánh giá ở mức 3.94/7.0, được đánh giá thấp nhất là hoạt động
thực hành QM dòng xuôi chỉ đạt 3.83/7.0. Các kết quả này cho thấy
tại các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện/điện tử/viễn thông Việt
Nam hiện nay dường như vẫn tập trung hơn vào các thực hành QM
diễn ra trong phạm vi doanh nghiệp. Về kết quả hoạt động, cơ bản
các doanh nghiệp tham gia khảo sát có kết quả hoạt động ở mức
trung bình trong mối quan hệ so sánh với các đối thủ cạnh tranh trực
tiếp trong ngành
20
4.3 Hoạt động SCQM tại Công ty cổ phần K.I.P Việt Nam
4.3.1 Tổng quan chung về Công ty cổ phần K.I.P Việt Nam
Công ty cổ phần K.I.P Việt Nam có trụ sở chính đặt tại phường Xuân
Khanh, Sơn Tây, Hà Nôi. Hiện nay, Công ty đang sản xuất 3 dòng
sản phẩm chính: điện dân dụng; điện công nghiệp; dây và cáp điện.