Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Viện quản trị kinh doanh
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đánh giá chất lượng của sinh viên tốt nghiệp thông qua
năng lực của họ trong khối ngành kinh tế, quản trị kinh
doanh tại các trường Đại học trên địa bàn Hà Nội:
Dưới góc nhìn của người sử dụng lao động
Người thực hiện: Phạm Thanh An (Nhóm trưởng)
Nguyễn Thị Thu Thủy
Nguyễn Mai Phương
Ngô Minh Ánh
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Vũ Thành Hưng
Hà Nội, ngày 19, tháng 4, năm 2019
Mục lục
Chương I: Giới thiệu chung về đề tài.....................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài.........................................................................................1
3. Câu hỏi nghiên cứu................................................................................................5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.........................................................................5
5. Cấu trúc đề tài nghiên cứu.....................................................................................6
Chương II: Cơ sở lý thuyết.....................................................................................7
1. Các khái niệm cơ bản............................................................................................7
1.1. Khái niệm về chất lượng.................................................................................7
1.2. Chất lượng giáo dục đại học...........................................................................8
1.3. Chất lượng sinh viên tốt nghiệp....................................................................10
5.4 Bộ tiêu chí đánh giá kỹ năng hỗ trợ cho công việc chuyên môn................75
5.5 Bộ tiêu chí đánh giá kỹ năng mềm.............................................................75
5.6 Bộ tiêu chí đánh giá khả năng tổ chức và quản lý công việc......................76
5.7. Kết luận về đánh giá mức độ đáp ứng của sinh viên tốt nghiệp qua thống
kê mô tả............................................................................................................76
6. Phân tích mô hình hồi quy...................................................................................77
7. Kiểm định sự khác biệt của các biến nhân khẩu học đến đánh giá chung về chất
lượng sinh viên thông qua năng lực.........................................................................81
8. Kết quả nghiên cứu định tính...............................................................................84
8.1. Khảo sát từ phía nhà sử dụng lao động.....................................................84
8.1.1. Kết quả khảo sát câu hỏi mở người sử dụng lao động............................84
8.1.2 Kết quả câu hỏi phỏng vấn sâu Nhà tuyển dụng......................................87
8.2. Khảo sát từ phía cựu sinh viên..................................................................94
Chương V: Kết luận và kiến nghị.......................................................................111
1. Kết luận.............................................................................................................. 111
2. Kiến nghị...........................................................................................................112
2.1 Kiến nghị đối với sinh viên.....................................................................113
2.2 Kiến nghị đối với nhà trường....................................................................115
Tài liệu tham khảo...............................................................................................125
Chương I: Giới thiệu chung về đề tài
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn lao động chất lượng cao là một trong những mối quan tâm hàng đầu
của xã hội đặt ra trong thời kỳ xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Theo Nghị
quyết Hội nghị Trung Ương 5 khóa XII nhấn mạnh: “Phát triển nguồn nhân lực,
nhất là nhân lực chất lượng cao, tranh thủ những cơ hội và thành tựu của Cách
mạng công nghiệp lần thứ 4.” Mặc dù Nhà nước đã có chủ chương nêu rõ tầm quan
trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hiện tại song chúng ta vẫn
chưa phát triển được nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của cuộc cách mạng
đại học, những chủ nhân trong tương lai.
Như vậy, tầm quan trọng của khối ngành kinh tế đối với nền kinh tế Việt Nam
là thiết yếu. Trong những năm qua, chất lượng đào tạo đại học trong khối ngành này
càng ngày có những sự đổi mới và chuyển biến đáng kể so với trước đây, đáp ứng
được nhu cầu ngày càng tăng cao và phức tạp của các doanh nghiệp, tổ chức, chất
lượng đầu ra sinh viên tốt nghiệp nhìn chung có sự nâng cao rõ rệt phù hợp với yêu
cầu của nhà sử dụng lao động. Tuy nhiên chính vì sự biến động cũng như những yêu
cầu ngày càng phức tạp đòi hỏi sự chất lượng giáo dục phải có những sự thay đổi
thích hợp đối với môi trường kinh tế và thị trường lao động đầy thách thức hiện nay,
dẫn đến một số tranh cãi, sự bất ổn trong đào tạo chất lượng nguồn lao động nói
chung và chất lượng sinh viên tốt nghiệp nói riêng. Một số phản hồi từ phía nhà sử
dụng lao động rằng một phần sinh viên ra trường không đáp ứng đủ chất lượng, làm
việc không hiệu quả và tình trạng thất nghiệp, không có việc làm hiện nay cũng vẫn
còn xuất hiện nhiều. Hiện nay, tại Việt Nam có rất nhiều trường Đại học, nhiều
chương trình đào tạo về những ngành liên quan đến kinh tế. Thành phố Hà Nội lên
tới 43 trường đại học trên tổng số hơn 80 trường đại học đào tạo về ngành kinh tế
trên cả nước. Bên cạnh đấy các trường có các chương trình đào tạo rất đa dạng như
hệ chính quy, hệ đào tạo từ xa, hệ quốc tế,... Số lượng sinh viên theo học lên tới 329
nghìn sinh viên. Vì vậy, để xây dựng được nguồn lao động chất lượng cao thì một
trong những lĩnh vực nền tảng quyết định đến nguồn lao động là ngành giáo dục.
Đối với hệ thống giáo dục nước ta, hàng năm luôn có một số lượng lớn học sinh
sinh viên đăng ký vào các nhóm ngành kinh tế tài chính ngân hàng. Cụ thể, theo
thống kê của Bộ giáo dục và Đào tạo, trung bình số hồ sơ nộp vào ngành kinh tế
chiếm 59% tổng số hồ sơ đăng ký dự thi đại học cao đẳng. Tuy nhiên, dựa trên báo
2
cáo từ Bản tin Thị trường lao động của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, vào
năm 2015 có đến 12.000 trên 29.000 cử nhân thất nghiệp trong nhóm ngành kinh tế.
Điều này cho thấy tình trạng đáng báo động về các cử nhân ngành kinh tế: tuy đông
quản lý, những người sử dụng lao động trực tiếp quản lý nhân viên là những sinh
viên tốt nghiệp để đưa ra những đánh giá chân thực nhất dựa trên các tiêu chí đưa ra
trước đó nhằm giúp nhà trường và nhân viên có những cái nhìn khái quát hơn về
chất lượng giáo dục, chất lượng sinh viên tốt nghiệp. Từ đó, chúng tôi sẽ đi tìm
những nguyên nhân để giải thích hiện tượng không đáp ứng ở một số tiêu chí đó.
Bên cạnh đó, chúng tôi còn tiến hành phỏng vấn những người cựu sinh viên để có
cái nhìn toàn diện hơn trong đánh giá chất lượng sinh viên.Từ đấy đưa ra những giải
pháp kiến nghị giải quyết tình trạng cử nhân ra trường không đáp ứng được tiêu chí
của người sử dụng lao động.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc khảo sát các ý kiến của những người sử dụng lao động cùng
với cựu sinh viên đã ra trường trong vòng 3 năm về năng lực hiện tại của sinh viên
và phân
tích câu trả lời của các đối tượng tham gia khảo sát, đề tài nghiên cứu
hướng tới mục tiêu sau:
1.
Tổng hợp và đề xuất bộ tiêu chí đánh giá chất lượng sinh viên tốt nghiệp
dưới góc nhìn của nhà sử dụng lao động dựa trên các nghiên cứu liên quan đến đề
tài.
2.
Đánh giá chất lượng thực tế của sinh viên tốt nghiệp khối ngành kinh tế
dưới góc nhìn của nhà sử dụng lao động qua việc khảo sát các nhà sử dụng lao động
và thu thập các nguồn dữ liệu thứ cấp.
3.
bộ tiêu chí đó được triển khai như thế nào trong các nghiên cứu liên quan đến đề tài
trước đó?
2.
Sự đánh giá chất lượng đầu ra sinh viên tốt nghiệp qua từng tiêu chí theo
bộ tiêu chí đề xuất của người sử dụng lao động như thế nào? Có cần bổ sung thêm
những yếu tố, tiêu chí khác không?
3.
Thực trạng tình hình chất lượng sinh viên tốt nghiệp qua các góc nhìn của
người sử dụng lao động như thế nào? Những mặt tích cực và tiêu cực trong chất
lượng sinh viên tốt nghiệp, chất lượng giáo dục đào tạo là gì, như thế nào?
4.
Những nguyên nhân dẫn tới tình trạng chất lượng sinh viên không đáp
ứng nhu cầu của người sử dụng lao động là gì, từ góc độ của cá nhân, tổ chức, sinh
viên, người sử dụng lao động, các nhà giáo dục như thế nào?
5.
Những kiến nghị, đề xuất về phía nhà trường, cơ sở đào tạo và về phía sinh viên
là gì?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu này tiến hành khảo sát chất lượng đầu ra
dựa trên những tiêu chí về năng lực của sinh viên thuộc khối ngành kinh tế và quản
trị kinh doanh trên địa bàn Hà Nội.
Chương II: Cơ sở lý thuyết
1. Các khái niệm cơ bản
1.1. Khái niệm về chất lượng
Theo tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000,
đã đưa ra định nghĩa sau: "Chất lượng là khả năng tập hợp các đặc tính của một sản
phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có
liên quan".
Cụ thể, Judan - một giáo sư người Mỹ nhấn mạnh về sự phù hợp tương thích
với nhu cầu của người sử dụng của chất lượng. Một sản phẩm được tạo ra sau một
quá trình không được coi là sản phẩm chất lượng khi không phù hợp với nhu cầu
của khách hàng, hay nói cách khác, chất lượng của sản phẩm được tạo ra là không
có ý nghĩa. Như vậy, một sản phẩm được coi là chất lượng khi và chỉ khi nó tập hợp
được đầy đủ các đặc tính của một sản phẩm được tạo ra dưới một quá trình, hệ
thống nhằm đáp ứng được các tiêu chí của người sử dụng đặt ra.
Mặt khác, nhiều quan điểm cho rằng chất lượng thường được coi là một khái
niệm tương đối. Chất lượng liên quan đến người sử dụng thuật ngữ và hoàn cảnh
mà nó được viện dẫn. Nó có nghĩa là những điều khác nhau đối với những người
khác nhau, hoặc cùng một người có thể áp dụng các khái niệm khác nhau cho các
thời điểm khác nhau. Nói cách đơn giản hơn, nó tùy thuộc vào cảm nhận của người
đánh giá.
Trong các quan điểm khác, chất lượng được đánh giá theo các ngưỡng tuyệt
đối là nó phải vượt quá một tiêu chuẩn gì đó để đạt được một sự xếp hạng về chất
lượng (ví dụ: đầu ra phải đáp ứng một hệ thống tiêu chuẩn có sẵn). Hầu hết những
đánh giá này là về sự kiểm soát chất lượng, việc đảm bảo, quản lý, kiểm toán, đánh
giá, chính sách và tài trợ.
Tựu chung lại chất lượng là một khái niệm mang tính tương đối, nó phụ thuộc
vào từng quan điểm của các bên liên quan đánh giá. Ngoài ra, chất lượng là sự phù
hợp, tương thích với nhu cầu người sử dụng, nó tập hợp những đặc tính nhất định
tượng có liên quan chính tới việc đánh giá chất lượng giáo dục đó là:
1. Các tổ chức, các nhà tài trợ cho hoạt động giáo dục đại học: Đây chính là
các nhà đầu tư cho giáo dục với mục đích nhận được tỷ lệ sinh lời, giá trị gia tăng
cho họ hoặc cho xã hội sao cho tương xứng với nguồn tài trợ mà họ bỏ ra.
8
2. Nhóm người sử dụng dịch vụ giáo dục (sinh viên): Đối với sinh viên, chất
lượng đào tạo đại học là khả năng cung cấp các dịch vụ đào tạo có chất lượng như
giảng viên giỏi, chương trình đào tạo tốt, trang thiết bị tân tiến để tạo điều kiện tốt
cho họ học tập, rèn luyện, ngoài ra họ đặc biệt quan tâm đến những giá trị mà giáo
dục đại học mang lại cho họ như kiến thức, kỹ năng, phát triển bản thân,...để có khả
năng làm được những công việc trong tương lai và có được lợi thế cạnh tranh trên
thị trường lao động.
3. Nhóm người sử dụng đầu ra của giáo dục đại học (người sử dụng lao
động): Đối với người sử dụng lao động, chất lượng giáo dục đại học được thể hiện
đầu ra, hay chính xác hơn, điều họ quan tâm đến nhất là chất lượng đầu ra. Chất
lượng đầu ra sinh viên tốt nghiệp là mức độ đáp ứng công việc của sinh viên sau khi
tốt nghiệp, nó thể hiện ở năng lực, kiến thức, kỹ năng của sinh viên phù hợp với
nhu cầu của tổ chức để mang lại sự hiệu quả cho tổ chức của họ.
4. Người lao động trong khu vực giáo dục đại học (giảng viên và nhân viên
hành chính). Đối với nhóm người này, chất lượng của giáo dục đại học được thể
hiện ở chất lượng học tập của sinh viên, chất lượng hỗ trợ cho điểm số, các yêu
cầu thỏa mãn một hệ thống tiêu chuẩn của giáo dục đại học.
Như vậy có nhiều bên liên quan trong vấn đề đánh giá chất lượng giáo dục
đại học, những nhóm đối tượng ở các cương vị khác nhau có những ưu tiên khác
nhau khi xem xét về chất lượng giáo dục. Đối với cán bộ giảng dạy và sinh viên thì
ưu tiên của khái niệm chất lượng phải là ở quá trình đào tạo, là cơ sở vật chất kỹ
thuật phục vụ cho quá trình giảng dạy và học tập. Đối với nhóm người sử dụng đầu
tiêu chuẩn đầu ra riêng về sinh viên tốt nghiệp của họ dựa trên một cơ sở thống nhất
chung của ngành giáo dục. Tuy nhiên, vấn đề đảm bảo đầu ra tại một trường đại học
không chỉ đơn thuần là những con số tính toán mà nó còn đo lường bằng năng lực,
mức độ đáp ứng làm việc thực tế của sinh viên tốt nghiệp tại các doanh nghiệp. Hay
nói cách khác chất lượng đầu ra phải gắn liền với mục đích của việc sử dụng sinh
viên tốt nghiệp của người sử dụng lao động, đó là họ quan tâm đến chất lượng của
người sinh viên tốt nghiệp thể hiện trong quá trình làm việc thực tế. Cụ thể, chất
lượng sinh viên tốt nghiệp có thể được đo lường thông qua năng lực, kiến thức và
kỹ năng sinh viên tốt nghiệp có được và có thể được áp dụng trong môi trường làm
việc. Kiến thức và các kỹ năng mà sinh viên tốt nghiệp sở hữu có thể được xác định
thông qua phản hồi từ nhà tuyển dụng về mức độ hoàn thành công việc của họ. Như
10
vậy, nghiên cứu về chất lượng sinh viên tốt nghiệp dưới góc nhìn của người sử dụng
lao động tại các doanh nghiệp mang tính thực tiễn và khái quát hóa hơn là việc đánh
giá chất lượng đầu ra bằng điểm số và các tiêu chí của nhà trường mang tính lý
thuyết và phần nào không phản ánh đầy đủ chất lượng của sinh viên tốt nghiệp.
Chất lượng nói chung là một khái niệm rất rộng, tùy thuộc vào hoàn cảnh
mà nó được viện dẫn và những người liên quan đánh giá. Trong bài nghiên cứu, để
đánh giá được chất lượng sinh viên tốt nghiệp không phải là một điều dễ dàng. Hiện
nay trên thế giới vẫn chưa có một hình cụ thể đánh giá được hoàn toàn chính xác về
chất lượng sinh viên tốt nghiệp bởi đây là khái niệm rất chung và đôi khi được cho
là mơ hồ. Tuy nhiên đánh giá về vấn đề này là điều có thể làm được, bằng cách
chọn hướng phân tích, góc nhìn để có cái nhìn cụ thể về nó. Góc nhìn chính mà
chúng tôi sử dụng trong bài nghiên cứu là từ góc độ nhà tuyển dụng, người sử dụng
lao động- những người trực tiếp quản lý, theo dõi quá trình làm việc của sinh viên
tốt nghiệp. Chất lượng sinh viên tốt nghiệp nói chung của thể được hình thành sau
quá trình đào tạo tại môi trường giáo dục đại học, có thể được tích lũy từ những trải
nghiệm, học hỏi từ môi trường làm việc
3. Khả năng giao tiếp và đàm phán, khả năng thích ứng với sự thay đổi.
4. Khả năng tổ chức và hoàn thành công việc.
Ví dụ về chuẩn đầu ra của trường Đại học Kinh tế quốc dân 2017 (được tóm
tắt trong bảng 1), gồm ba nhóm tiêu chí chính: Kiến thức, Kỹ năng và Thái độ
12
Bảng 1: Bảng tóm tắt chuẩn đầu ra ngành kinh tế tại Đại học kinh tế quốc
dân (ban hành kèm theo Quyết định số 01/QĐ-ĐHKTQD ngày 03/01/2017)
Tiêu chí
đánh giá
Mục tiêu yêu cầu
Kiến thức - Có nền tảng kiến thức giáo dục đại cương theo chuẩn chương
cơ bản
trình đào tạo Quốc gia ngành kinh tế do Bộ GD&ĐT ban hành;
- Có hệ thống kiến thức cơ bản về kinh tế, quản lý và quản trị
kinh doanh hiện đại;
- Có hiểu biết rộng về lý luận và thực tiễn kinh tế thị trường
trong nước và trên thế giới.
Kiến thức - Nắm vững kiến thức chuyên sâu về kinh tế, quản lý trên cấp
chuyên
độ nền kinh tế, ngành và lĩnh vực tương ứng với chuyên ngành
ngành
mềm
- Kỹ năng tin học: Đạt trình độ về tin học theo chuẩn đầu ra
của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân là đạt chứng chỉ tin học
quốc tế IC3 hoặc MOS
- Trình độ ngoại ngữ: Trình độ tiếng Anh bậc 3/6 theo khung
năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam
Thái độ
- Có đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp; tôn trọng và chấp
hành pháp luật; có ý thức tổ chức kỷ luật; năng động, nhiệt tình
và có tình thần hợp tác trong công việc;
- Có ý thức cộng đồng và trách nhiệm công dân.
1.4. Chất lượng sinh viên tốt nghiệp thông qua năng lực dưới góc nhìn
nhà sử dụng lao động
Đối với các nhà sử dụng lao động, nguồn nhân lực là những sinh viên mới tốt
nghiệp ra trường mang lại nhiều lợi thế và có giá trị về mặt lâu dài. Mặc dù sinh
viên mới ra trường họ có rất ít kinh nghiệm làm việc, kỹ năng chuyên môn nhưng
không thể phủ nhận sức trẻ, sự linh hoạt và khả năng phát triển sáng tạo mà họ
14
mang lại. Đó là những nguồn gió mới rất cần để trau dồi, phát triển; để không
những các nhân viên trẻ đó mà cả công ty có thể phát triển theo nhiều hướng đa
dạng với nhiều tiềm năng khác nhau. Vì vậy, việc tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp
không những dễ đào tạo phát triển mà còn đem lại nhiều lợi ích phát triển cho công
ty. Từ mục đích tuyển dụng đó sẽ kéo thêm nhiều vấn đề cần quan tâm như phương
Các kỹ năng về tư duy logic, phân tích, phê phán, giải quyết, tổng hợp vấn đề của
sinh viên tốt nghiệp và tác động của sinh viên tốt nghiệp đối với sự đổi mới.
Bốn lý do cơ bản để tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp trên có thể được coi với
mục đích là sự liên tục tăng cường, nâng cao bao gồm việc sinh viên tốt nghiệp
được thêm vào tổ chức và sau đó là tạo ra sự chuyển đổi trong tổ chức. Càng nhiều
nhân viên là sinh viên tốt nghiệp có thể hoạt động cho doanh nghiệp, sự phát triển
tiềm năng của tổ chức càng lớn.
Những người trả lời trong một nghiên cứu của Gordon (1983) cho rằng sinh
viên tốt nghiệp “mang lại một tinh thần sáng tạo mới cho công việc”, “học hỏi
nhanh, có xu hướng đặt câu hỏi giả định và do đó, có khả năng đối phó với sự thay
đổi nhiều hơn” và “mang lại những sự nhanh nhạy về công nghệ”. Một nghiên cứu
trước đây cũng cho thấy rằng các nhà tuyển dụng đang tìm kiếm nhiều hơn những
sinh viên tốt nghiệp mà không chỉ đơn giản là có khả năng làm được một công việc,
mà điều họ thực sự muốn là những sinh viên tốt nghiệp có thể tạo ấn tượng về cách
thức làm việc trong tổ chức, doanh nghiệp (Harvey, Burrows và Green, 1992).
Ngoài ra, điều tra của nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, chính sinh viên là những người
mang đến, tạo ra những ý tưởng mới mẻ.
Tiếp theo là vấn đề chất lượng sinh viên tốt nghiệp các trường đại học theo
quan điểm của người sử dụng lao động. Chất lượng sinh viên tốt nghiệp được nhiều
nhà nghiên cứu định nghĩa ở những thời điểm khác nhau. Đó có thể là chất lượng
sinh viên ở thời điểm vừa mới ra trường, thể hiện ngay ở kết quả giáo dục đào tạo
của nhà trường. Nhưng cũng có thể là chất lượng sinh viên khi đã tốt nghiệp đi làm
trong thời gian ngắn, điều đó không những thể hiện được kết quả giáo dục của
trường đại học mà còn thêm cả khả năng thích ứng làm việc trong môi trường công
ty. Có nhiều định nghĩa khác nhau về các kỹ năng cần có đối với sinh viên mới tốt
nghiệp đi làm. Harvey và Green (1994) đã chỉ ra các kỹ năng cơ bản cần thiết để
hoàn thành tốt công việc, chia ra thành năm nhóm: Kiến thức; Năng lực tư duy; Khả
16
17
tính (năng lực, kỹ năng, kiến thức,...) mà họ có hơn là bằng cấp cấp cụ thể mang
tính hạn hẹp. Hơn nữa, Barrie (2004) chỉ ra rằng các thuộc tính (attributes) tốt
nghiệp chung của sinh viên sẽ liên quan trực tiếp đến kết quả của việc có được
tuyển dụng hay không của sinh viên đó.
Theo Yorke và Knight (2006), kỹ năng sử dụng lao động là tiềm năng mà
một sinh viên tốt nghiệp có được và thành công ở cấp độ đại học. Họ cho rằng các
khía cạnh việc làm có thể được phân loại thành: Phẩm chất con người (ví dụ: tự
nhận thức và tự tin), kỹ năng cốt lõi (ví dụ: phân tích phản biện và sáng tạo), kỹ
năng xử lý (ví dụ: ứng dụng trên máy tính và đối phó với sự phức tạp). Những kỹ
năng này trở thành phương tiện để sinh viên tốt nghiệp có thể bước vào thị trường
lao động. Al-Alwneh (2014) cho rằng sinh viên có việc làm tốt hơn khi họ có được
sự trau dồi và trải nghiệm các hoạt động khác nhau do mỗi hoạt động có nền tảng
kiến thức cần thiết cũng như ngữ cảnh khác nhau, thay vì triển khai các kỹ năng
phẩm chất chung. Khả năng tuyển dụng được coi là hiệu quả hơn khi có được sự
tương tác giữa con người với bối cảnh mà họ được trải nghiệm. Như vậy, một việc
làm có thể coi là chất lượng khi chất lượng nơi làm việc và chất lượng con người
làm việc tốt.
Harvey (2001) định nghĩa việc làm sau đại học là khả năng tốt nghiệp để thể
hiện những phẩm chất mà người sử dụng lao động cần cho các nhu cầu trong tương
lai của doanh nghiệp. Kỹ năng làm việc là một tập hợp các thành tích, hiểu biết, thái
độ/ phẩm chất cá nhân thể hiện cá nhân đó có tiềm năng và có khả năng để được
công việc mong muốn và thành công hơn trong sự lựa chọn nghề nghiệp. Nói
chung, kỹ năng việc làm là những khía cạnh về kỹ năng và kiến thức mà sinh viên
cần phải trang bị để đáp ứng các nhu cầu việc làm đa dạng trong thị trường lao động
sau khi hoàn thành việc học. Các khía cạnh về khả năng việc làm đóng một phần rất
quan trọng trong sự phát triển của sinh viên tốt nghiệp trong tương lai. Chúng là cốt
các kỹ năng giải quyết vấn đề rất quan trọng trong việc chuẩn bị cho sinh viên tận
dụng các cơ hội có được từ các khóa học capstone và để đáp ứng tốt hơn nhu cầu và
mong đợi của các nhà tuyển dụng tiềm năng(Diamond et al., 2008). Ngoài ra,
Hodges và Burchell (2003) đã khảo sát các nhà tuyển dụng New Zealand Quan
điểm về việc sinh viên tốt nghiệp ngành kinh doanh được chuẩn bị tốt như thế nào
cho công việc của mình. Họ phát hiện ra rằng các nhà tuyển dụng rất chú trọng đến
các kỹ năng mềm của sinh viên tốt nghiệp, khả năng giải quyết vấn đề một cách
19
thấu đáo và hiệu quả với nhu cầu công việc. Họ đưa ra bằng chứng cho thấy các nhà
tuyển dụng tin rằng sinh viên tốt nghiệp có những kỳ vọng không thực tế về cuộc
sống trong môi trường kinh doanh và nói chung là thiếu kỹ năng giao tiếp. Hodges
và Burchell (2003) khuyến nghị rằng các chương trình giáo dục hợp tác có thể giúp
sinh viên hiểu rằng nơi làm việc là nơi họ phải chịu trách nhiệm xác định nhu cầu
học tập của chính mình và sau đó phải làm điều gì đó để thay đổi và thích nghi với
yêu cầu công việc. Andrew và Higson (2008) đã khám phá những quan điểm của
nhà tuyển dụng về khả năng tuyển dụng tốt nghiệp kinh doanh tại bốn quốc gia châu
Âu (Anh, Áo, Slovenia và Romania). Họ phát hiện ra rằng có những điểm tương
đồng đáng chú ý trong quan điểm của người sử dụng lao động về những gì có thể
được gọi là các thành phần cốt lõi về khả năng tuyển dụng trong lĩnh vực kinh
doanh. Các thành phần cốt lõi bao gồm giá trị của kiến thức và kỹ năng cứng liên
quan đến kinh doanh, tầm quan trọng của các kỹ năng mềm, năng lực liên quan đến
kinh doanh và nhu cầu kinh nghiệm làm việc trước đó.
Mặt khác, hai nhà nghiên cứu Ting và Ying (2012) chứng minh rằng các học
viên và học giả có quan điểm tương tự về tầm quan trọng của năng lực của sinh viên
tốt nghiệp trong những kỹ năng viết, kỹ năng nói, kỹ năng nghiên cứu, kỹ năng tiếp
thu kiến thức, sự trung thực, siêng năng, tháo vát, sự nâng cao giá trị bản thân, khả
năng làm việc nhóm, kỹ năng sáng tạo và kỹ năng tin học. MdSaad, Robani, Jano và
Majid (2013) nhận thấy rằng khả năng giải quyết vấn đề, năng lực xử lý công việc
Oussii (2013) đã phân tích nhận thức của sinh viên về các kỹ năng cần thiết và cố
gắng đưa họ đến gần hơn với kỳ vọng của nhà tuyển dụng. Họ thấy rằng các nhà
tuyển dụng nhấn mạnh sự cần thiết của sinh viên tốt nghiệp trong việc phát triển các
kỹ năng chung liên quan đến nhận thức đạo đức, giao tiếp, phân tích phản biện và
làm việc theo nhóm. Họ kết luận rằng các trường đại học nên có những sự thay đổi
cần thiết trong việc phát triển các chính sách và khung tiêu chuẩn rõ ràng để thúc
đẩy khả năng về trí tuệ, nhận thức, về xã hội, về việc đào tạo và sự phát triển cá
nhân của các sinh viên tốt nghiệp.
E. Ramadi, S. Ramadi và Nasr (2015) đã khám phá những lỗ hổng giữa kỳ
vọng và thực tế của các nhà sử dụng lao động về bộ kỹ năng của sinh viên kỹ sư.
Họ đã đo lường tầm quan trọng mà các nhà quản lý kỹ sư đặt vào 36 kỹ năng liên
quan đến kỹ sư. Kết quả cho thấy khoảng cách đáng kể giữa sự kỳ vọng và sự hài
lòng của nhà quản lý đối với tất cả 36 kỹ năng. Các nhà quản lý cảm thấy rằng sinh
21