BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ VÂN
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC ĐÃ SỬ DỤNG
TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN SÔNG LÔ
TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2017
LUẬN VĂN DƢỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2018
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ VÂN
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC
ĐÃ SỬ DỤNG TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN SÔNG LÔ
TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2017
LUẬN VĂN DƢỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: Tổ Chức Quản Lý Dược
MÃ SỐ: CK60 72 04 12
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Thanh Bình
Thời gian thực hiện: Tháng 07/2018 - Tháng 11/2018
HÀ NỘI 2018
DỤNG TẠI BỆNH VIỆN………………….................................................... 5
1.2.1. Phân tích ABC......................................................................................... 5
1.2.2. Phân tích VEN......................................................................................... 6
1.2.3. Phương pháp phân tích ma trận ABC/ VEN ........................................... 9
1.2.4.Phương pháp phân tích nhóm điều trị .................................................... 10
1.3. TÌNH HÌNH CHUNG VỀ THỰC TRẠNG DANH MỤC THUỐC
TRONG BỆNH VIỆN NƢỚC TA HIỆN NAY…………………………...11
1.3.1. Cơ cấu nhóm thuốc trong danh mục thuốc bệnh viện .......................... 11
1.3.2. Cơ cấu danh mục thuốc về nguồn gốc xuất xứ ..................................... 13
1.3.3. Cơ cấu danh mục thuốc theo đường dùng thuốc................................... 14
1.3.4. Cơ cấu danh mục thuốc kháng sinh trong danh mục thuốc bệnh viện . 15
1.3.5. Cơ cấu danh mục thuốc theo thành phần .............................................. 16
1.3.6. Tình hình sử dụng thuốc biệt dược gốc, thuốc mang tên thương mại .. 16
1.3.7. Phân tích danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp phân tích ABC 17
1.3.8. Phân tích danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp phân tích
ABC/VEN ....................................................................................................... 17
1.4. TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC 20
1.4.1. Giới thiệu chung về Trung tâm y tế huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc .. 20
1.4.2. Mô hình bệnh tật của trung tâm y tế .................................................... 21
1.4.3. Chức năng và nhiệm vụ của khoa dược Trung tâm Y tế huyện
SôngLô tỉnh Vĩnh Phúc ................................................................................. 23
1.4.4. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................ 24
2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
26
2.2.PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
26
2.2.1. Biến số nghiên cứu ................................................................................ 26
2.2.2. Thiết kế nghiên cứu ............................................................................... 27
4.1.2. Cơ cấu các thuốc nhóm kháng sinh....................................................... 50
4.1.3. Cơ cấu thuốc tiêm và các đường dùng khác ......................................... 50
4.1.4. Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc xuất xứ ................................................... 52
4.1.5. Thuốc đơn thành phần và đa thành phần .............................................. 53
4.1.6. Cơ cấu thuốc theo các gói trong thầu ................................................... 53
4.2. PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG NĂM 2017 TẠI ĐƠN
VỊ THEO PHƢƠNG PHÁP ABC…………………………………
54
KẾT LUẬNVÀ KIẾN NGHỊ ....................................................................... 58
1. KẾT LUẬN
58
1.1. Cơ cấu danh mục thuốc trong DMT đã sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện
Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc .................................................................................. 58
1.2. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC THEO PHƢƠNG
PHÁP ABC..................................................................................................... 60
2. Kiến nghị
61
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT
ABC
ADR
BHXH
BHYT
BV
DMT
DMTBV
Hướng thần
Mã bệnh theo quốc tế
Y học cổ truyền
Khám chữa bệnh
Ký sinh trùng
Số khoản mục
Khoản mục
Số lượng sử dụng
Số lượng danh mục
Mô hình bệnh tật
Nhiễm khuẩn
Phân tích tối cần thiết, cần thiết, không cần thiết
Việt Nam đồng
Tổ chức Y tế thế giới
Đ T VẤN ĐỀ
Thuốc là chế phẩm có chứa dược chất hoặc dược liệu dùng cho người
nhằm mục đích phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm
nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể người bao gồm thuốc hóa dược,
thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm… trừ thực phẩm chức
năng. Bởi vậy thuốc là một mặt hàng đặc biết có tác động trực tiếp lên chính
cơ thể con người nhưng để sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn là chuyện không
đơn giản. Bởi vì thuốc thật sự là “con dao hai lưỡi”, ngoài tác dụng điều trị,
chúng hoàn toàn có khả năng gây nguy hiểm cho người được dùng thuốc nếu
không được sử dụng hợp lý.
Việc sử dụng thuốc không hiệu quả và bất hợp lý là một vấn đề có
phạm vi ảnh hưởng rộng ở khắp mọi cấp độ chăm sóc y tế (Hogerzel 1995).
Việc dùng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý trong bệnh viện là nguyên nhân
làm tăng đáng kể chi phí cho người bệnh, làm lãng phí nguồn lực và giảm
+ Tỷ lệ khỏi bệnh ra viện: 92,9 %
Đứng trước những thách thức khó khăn và các thành tích đã đạt được
Trung tâm y tế huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc bắt đầu phát triển các lĩnh vực
Y tế theo chiều sâu và chiều rộng trên quy mô vi mô và vĩ mô nhằm vững
bước trên con đường sự nghiệp phục phục vụ chăm sóc sức khỏe cho người
dân đặc biệt là người dân huyện Sông Lô.
Để làm được điều này Trung tâm y tế huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc
đã đề ra rất nhiều kết hoạch dài hạn và ngắn hạn để đạt được mục tiêu trên và
theo đúng sự chỉ đạo của Bộ y tế và Sở Y tế Vĩnh Phúc - mục tiêu cốt lõi “
hướng tới sự hài lòng của người bệnh”. Trong các kế hoạch phát triển ấy có
kế hoạch phát triển khoa Dược.
Trong 8 năm qua khoa dược đã hoạt động rất nỗ lực để làm cung ứng
thuốc vật tư, trang thiết bị y tế đầy đủ và và công tác dược lâm sàng với mục
tiêu tư vấn, hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn, hợp lý. Để tiếp tục duy trì và
2
phát triển khoa dựơc mạnh hơn nữa cập nhật kịp thông tin thuốc mới và danh
mục thuốc hàng năm cần thiết phải có cán bộ dược được đào tạo chuyên sâu
và có những đề tài nhiên cứu về thuốc và danh mục thuốc sử dung tại đơn vị,
Nhằm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng thuốc, tiết kiệm chi phí và giảm
bớt những tổn hại do việc sử dụng thuốc gây ra, góp phần vào sự nghiệp chăm
sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn. Hiện tại Trung tâm y tế huyện Sông
Lô tỉnh Vĩnh Phúc chưa có một đề tài nghiên cứu nào về danh mục thuốc sử
dụng tại đơn vị.
Bởi vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân tích danh mục
thuốc đã sử dụng tại Trung tâm y tế huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc năm
2017 ‟‟với hai mục tiêu:
1.Phân tích cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm y tế huyện
Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017.
danh mục thuốc đã sử dụng, chỉ ra bất cập tình hình sử dụng thuốc của năm
trước, phát hiện các vấn đề sử dụng thuốc đã sử dụng để đưa ra giải pháp cho
việc xây dựng danh mục thuốc bệnh viện năm tiếp theo, đáp ứng nhu cầu điều
trị một cách tối ưu.
Theo thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 8/8/2013 của Bộ Y tế qui định
về tổ chức và hoạt động của HĐT&ĐT trong bệnh viện, các bước xây dựng
danh mục thuốc được tiến hành như sau:
4
+ Bước 1: Thu thập, phân tích tình hình sử dụng thuốc của năm trước,
trong đó có áp dụng phân tích ABC/VEN để phát hiện các vấn đề sử dụng
thuốc.
+ Bước 2: Đánh giá các thuốc được đề nghị bổ sung thêm hoặc loại bỏ
từ các khoa lâm sàng một các khách quan.
+ Bước 3: Xây dựng danh mục thuốc và phân loại DMT theo nhóm
điều trị và phân loại VEN
+ Bước 4: Xây dựng các nội dung hướng dẫn sử dụng danh mục thuốc.
1.2.MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ
DỤNG TẠI BỆNH VIỆN
1.2.1. Phân tích ABC
a) Khái niệm
Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc
tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ
lớn trong ngân sách. Các thuốc loại A (chiếm 10-20% tổng số thuốc ứng với
khoảng 70-80% ngân sách), các thuốc loại B( với tỷ lệ sử dụng trung bình)và
các thuốc loại C( đại đa số các thuốc có cách sử dụng riêng lẻ ở mức thấp, mà
tổng của chúng chỉ chiếm ít hơn 25% tổng ngân sách). Phân tích ABC có thể
được dùng để đưa ra sự ưu tiên đối với các thuốc thuộc loại A trong việc đưa
ra các quyết định lựa chọn và mua sắm thuốc.
cho những bệnh nặng nhưng không nhất thiết phải có cho các dịch vụ chăm
sóc sức khỏe cơ bản.
- Các thuốc không thiết yếu (Non-Essential – N): gồm các thuốc dùng
để điều trị những bệnh nhẹ, có thể có hoặc không có trong DMT thiết yếu và
không cần thiết phải lưu trữ trong kho.
b) Các bƣớc thực hiện phân tích VEN theo Bộ Y tế
Theo thông tư 21/2013/TT-BYT của Bộ Y tế ngày 8/8/2013, phân tích
VEN được tiến hành sau khi thành lập một hội đồng đánh giá, gồm các bước:
6
Bước 1: Từng thành viên hội đồng sắp xếp các nhóm thuốc theo 3 loai
V, E, và N.
Bước 2: Tập hợp và thống nhất kết quả của các thành viên trong hội
đồng.
Bước 3: Lựa chọn và loại bỏ những phương án điều trị trùng lặp.
Bước 4: Xem xét những thuốc thuộc nhóm N và hạn chế mua hoặc loại
bỏ những thuốc này trong trường hợp không còn nhu cầu điều trị.
Bước 5: Xem lại số lượng mua dự kiến, mua các thuốc nhóm V và E
trước nhóm N và bảo đảm thuốc nhóm V và E có một lượng dự trữ an toàn.
Bước 6: Giám sát đơn đặt hàng và lượng tồn kho của nhóm V và E chặt
chẽ hơn nhóm N.
c) Tiêu chí phân loại VEN
Theo Tổ chức Y tế thế giới, việc phân loại các thuốc vào nhóm “N” khá
dễ dàng, nhưng khó để phân loại thuốc thành “V” và “E”, đôi khi có thể phân
loại thành thuốc thiết yếu và không thiết yếu. Trong đó thuốc thiết yếu là
thuốc đảm bảo đáp ứng nhu cầu chữa bệnh của đa số bệnh nhân. Tại báo cáo
lần thứ 9 của hội đồng chuyên gia của WHO năm 1999 có đưa ra các tiêu chí
để lựa chọn thuốc thiết yếu trong danh mục, phụ thuộc nhiều yếu tố: mô hình
bệnh tật các bệnh phổ biến, cơ sở điều trị, chất lượng đào tạo nhân viên y tế ,
yếu(N)
1-5%
1-5
và sử dụng trong hệ thống, quản lý hàng tồn kho và xác định sử dụng thuốc
với giá cả phù hợp.
+ Về lựa chọn thuốc, các thuốc V và E nên được đưa ra ưu tiên lựa
chọn, đặc biệt là khi ngân sách hạn hẹp.
+ Về mua sắm thuốc: các thuốc V và E cần phải được kiểm soát thường
xuyên khi đặt hàng, và dự trữ thường xuyên các thuốc này, giảm dự trữ các
thuốc không cần thiết. Nếu ngân sách hạn hẹp, thì việc sử dụng phân tích
VEN được dùng để đảm bảo số lượng các thuốc V và E được mua đầy đủ
trước tiên. Sau khi tiến hành phân tích thì sẽ lựa chọn nhà cung cấp đáng tin
cậy để mua thuốc thiết yếu. Đối với nhà cung cấp mới thì có thể thử bằng
cách kí kết hợp đồng các thuốc không thiết yếu.
+ Về sử dụng thuốc: từ kết quả phân tích VEN giúp đưa ra các kiến
nghị sử dụng theo các thuốc V và E, xem xét lại vấn đề sử dụng quá nhiều các
thuốc không thiết yếu.
+ Về dự trữ thuốc: chú ý đặc biệt lưu trữ các hạng mục thuốc V, E để
tránh hết kho.
1.2.3. Phƣơng pháp phân tích ma trận ABC/ VEN
Khi phân tích VEN đã được thực hiện thì nên kết hợp với phân tích
ABC để xác định mối quan hệ giữa các thuốc chi phí cao nhưng có mức độ ưu
tiên thấp, đặc biệt là hạn chế hoặc xóa bỏ các thuốc nhóm N nhưng lại có chi
phí cao ở nhóm A trong phân tích ABC. Sự kết hợp phân tích VEN và ABC
sẽ tạo thành ma trận ABC/ VEN.
Bảng 1.2. Ma trận ABC/ VEN
Nhóm
A
B
cái thứ hai biểu thị cho phân tích VEN.
Từ đây, có 3 nhóm:
- Nhóm I: gồm AV, BV, CV, AE, AN
- Nhóm II: gồm BE, CE, BN
- Nhóm III: CN
Ý nghĩa của ma trận ABC/VEN:
Các nhóm được yêu cầu giám sát với mức độ khác nhau. Nhóm I được
giám sát với mức độ cao hơn( vì cần nhiều ngân sách hoặc cần cho điều trị).
Thuốc nhóm II và nhóm III được giám sát với mức độ thấp hơn. Đặc biệt lưu
ý với các thuốc không thiết yếu nhưng lại có chi phí cao thì cần hạn chế sử
dụng hoặc xóa bỏ khỏi danh mục.
Phương pháp này cung cấp cho HĐT&ĐT các dữ liệu quan trọng để
quyết định thuốc nào nên loại khỏi DMT, thuốc nào là cần thiết và thuốc nào
ít quan trọng hơn.
Cả ba phương pháp trên phân tích cung cấp cho HĐT&ĐT các dữ liệu
quan trọng để quyết định thuốc nào nên loại khỏi DMT, thuốc nào cần thiết và
thuốc nào ít quan trọng hơn. Phương pháp phân tích này đã được áp dụng tại
châu Phi, châu Mỹ la tinh, Ấn Độ. Tại Việt Nam, nghiên cứu về cung ứng
thuốc tại bệnh viện Nhi Trung ương, bệnh viện Lao phổi Trung ương, bệnh
viện Hữu Nghị, bệnh viện Nhân dân 115 đã sử dụng phương pháp phân tích
ABC để đánh giá các bất cập trong quản lý cung ứng thuốc tại bệnh viện.
1.2.4.Phƣơng pháp phân tích nhóm điều trị
Dựa trên phân tích ABC, phân tích nhóm điều trị giúp:
- Xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ cao nhất và chi phí
nhiều nhất.
- Trên cơ sở thông tin về bệnh tật, xác định những vấn đề sử dụng thuốc
bất hợp lý.
10
dụng cao, có tỷ lệ từ 4% đến 7,1%, cao nhất tại tuyến tỉnh, thấp nhất tại tuyến
huyện. Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên năm 2013 cho
thấy giá trị tiêu thụ thuốc của nhóm này là 15,7% tổng giá trị sử dụng thuốc.
Nhóm Vitamin cũng là một trong 10 nhóm thuốc có giá trị chiếm tỷ lệ
cao nhất tại tất cả các tuyến bệnh viện. Giá trị sử dụng của nhóm này chiếm tỷ
lệ tại các BV tuyến tỉnh là 2,2% Vitamin và khoáng chất là nhóm thuốc
thường được sử dụng và có nguy cơ lạm dụng cao.. Bên cạnh đó các thuốc có
tác dụng bổ trợ, hiệu quả điều trị chưa rõ ràng cũng đang được sử dụng phổ
biến ở hầu hết các bệnh viện trong cả nước.
Hiện nay, do ảnh hưởng tiêu cực của một số hoạt động Marketing
không lành mạnh dẫn đến trong DMT của các bệnh viện thường có quá nhiều
tên thuốc khác nhau cho cùng một hoạt chất, đặc biệt là các thuốc kháng sinh,
thuốc bổ (bổ gan, vitamin..), thuốc tăng cường sức đề kháng… Điều này
khiến cho người kê đơn dễ dàng lạm dụng kháng sinh (nhất là Cephalosporin
thế hệ 3) và lạm dụng thuốc bổ, kê quá nhiều thuốc cho người bệnh, dẫn đến
nhiều tương tác khi điều trị. Từ đó gây khó khăn cho người mua thuốc, cấp
phát thuốc và cho người giám sát sử dụng thuốc. Mặt khác, việc truy cập trực
tuyến thông tin thuốc trong phạm vi toàn cầu ở Việt Nam còn hạn chế dẫn đến
khó khăn cho việc cập nhật thông tin thuốc. Hoạt động quảng cáo cho thuốc
sản xuất trong nước còn chưa thực sự phổ biến dẫn đến hạn chế cho việc lựa
chọn thuốc nội vào DMT bệnh viện. Việc giá thuốc tại thị trường Việt Nam
có nhiều biến động trong thời gian gần đây cũng ảnh hưởng đến việc duy trì
danh mục thuốc bệnh viện. Bên cạnh việc nâng cao trình độ, tăng cường trách
nhiệm của người thầy thuốc, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong kê đơn
thuốc, sử dụng thuốc trong bệnh viện cũng được đẩy mạnh. Việc áp dụng kê
đơn điện tử sẽ giúp quản lý các đơn thuốc, dễ dàng phát hiện sai sót, bất cập
như sử dụng nhiều kháng sinh, kháng sinh liều mạnh, chưa đến mức sử dụng
kháng sinh mà kê đơn.
12
13
dụng: Tại trung tâm y tế tỉnh Thanh Hóa năm 2014, thuốc nội chiếm 35,93%
về khoản mục và 29,64% giá trị sử dụng; tại BVĐK Bà Rịa năm 2015, thuốc
nội chiếm 22,84% về số lượng khoản mục và 19,10% giá trị sử dụng. Kết quả
khảo sát tại một số trung tâm y tế và chuyên khoa ở cả 3 tuyến bệnh viện đều
cho thấy, các thuốc sản xuất trong nước chỉ chiếm 25,5% - 43,3% số khoản
mục thuốc và 7%-51% tổng giá trị sử dụng, trong đó thấp nhất là các bệnh
viện tuyến Trung ương. Việc sử dụng thuốc ngoại với tỷ lệ lớn sẽ gây lãng phí
nguồn kinh phí dành cho thuốc đồng thời không khuyến khích được sản xuất
trong nước.
Bên cạnh đó, trong các thuốc nhập khẩu, các bệnh viện sử dụng nhiều
các thuốc nhập khẩu từ Hàn Quốc, Ấn Độ, chiếm tới trên 1/5 tổng kim ngạch
nhập khẩu thuốc thành phần vào thị trường Việt Nam( năm 2008), trong đó
tập trung chủ yếu là các nhóm thuốc kháng khuẩn, chuyển hóa và tiêu hóa mà
nhiều doanh nghiệp trong nước cũng đã sản xuất.
Mặt khác, người dân và thầy thuốc đặc biệt ở các tuyến cao vẫn còn có
thói quen dùng thuốc ngoại đắt tiền để chữa bệnh trong khi hiệu quả so với
thuốc sản xuất tại Việt Nam chưa được chứng minh là hoàn toàn vượt trội.
1.3.3. Cơ cấu danh mục thuốc theo đƣờng dùng thuốc
Nghiên cứu tại các bệnh viện tuyến tỉnh năm 2009, bệnh viện ĐK tỉnh
Bình Định có tỷ lệ số thuốc tiêm cao nhất (72%) nhưng tỷ lệ về giá trị sử
dụng thuốc tiêm cao nhất là bệnh viện ĐK Hải Dương (65,3%).
Các thuốc dạng khác( thuốc đặt, thuốc phun mù, thuốc dùng ngoài da)
chiếm tỷ lệ thấp trong DMTBV. Số thuốc nhóm này chiếm tỷ lệ trung
bìnhkhảng 6,7% ; giá trị sử dụng chiếm tỷ lệ trung bình khoảng 4,5%.
Như vậy thì tỷ lệ và tỷ trọng các dạng thuốc tiêm, truyền cao hơn các
thuốc dạng uống tại tất cả các bệnh viện tuyến tỉnh, tỷ lệ giá trị sử dụng thuốc
tiêm từ 46,1% đến 65,3% . Việc lạm dụng thuốc tiêm truyền là một trong các
nguyên tắc sử dụng kháng sinh để sử dụng kháng sinh hợp lý không những
góp phần vào việc nâng cao chất lượng điều trị mà còn làm giảm được đáng
15
kể chi phí điều trị.Tuy nhiên, kháng sinh chỉ là một trong nhiều yếu tố góp
phần làm giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn chứ không phải là biện pháp duy nhất. Bệnh
viện cần có các biện pháp nâng cao chất lượng vệ sinh bệnh viện, tiệt trùng
dụng cụ và bông băng, quần áo, vệ sinh cá nhân của bệnh nhân và đặc biệt là
trình độ chuyên môn của bác sĩ, tay nghề của phẫu thuật viên… Tức là phải
thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, là nhiệm vụ của cả tập thể nhân viên y tế
trong toàn bệnh viện chứ không thể chỉ một cá nhân.
1.3.5. Cơ cấu danh mục thuốc theo thành phần
Tại một số trung tâm y tế tuyến tỉnh, khi nghiên cứu cơ cấu thuốc đơn
thành phần -thuốc đa thành phần trong DMT của bệnh viện cho thấy, số
khoản mục thuốc và giá trị sử dụng thuốc của đơn thành phần chiếm tỷ lệ
trung bình khoảng 86%, thuốc đa thành phần chiếm tỷ lệ khoảng hơn13%.
Nhóm thuốc đơn thành phần chiếm tỷ lệ cao nhất tại BVĐK tỉnh Điện Biên
(96%), thấp nhất tại BVĐK tỉnh Ninh Bình (79%). Tuy nhiên giá trị sử dụng
thuốc đơn thành phần cao nhất tại BVĐK tỉnh Bắc Kạn (94,2%).
1.3.6. Tình hình sử dụng thuốc biệt dƣợc gốc, thuốc mang tên thƣơng mại
Thuốc biệt dược luôn chiếm tỉ lệ cao trong các bệnh viện, có khi số
thuốc mang tên thương mại chiếm 90% giá trị sử dụng. Bộ y tế đã đưa ra tiêu
chí trong việc lựa chọn thuốc sử dụng trong bệnh viện: sử dụng các thuốc
mang tên gốc( generic) được xem là một trong những cách làm giảm chi phí
điều trị. Tuy nhiên, tỉ lệ thuốc gốc trong danh mục vẫn chiếm tỉ lệ thấp, chủ
yếu là các thuốc nhóm tim mạch, tiêu hóa, vitamin đơn thành phần.
Nghiên cứu tại bệnh viện Phụ sản trung ương năm 2012 thuốc mang tên
thương mại chiếm 76,0%; bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2012 số lượng
thuốc biệt dược chiếm 83,03%; bệnh viện Đông Anh năm 2012 thuốc biệt
1.3.8. Phân tích danh mục thuốc sử dụng theo phƣơng pháp phân tích
ABC/VEN
Trong phần lớn các trường hợp, việc áp dụng phân tích VEN sẽ được
kết hợp với phân tích ABC để xác định mối quan hệ giữa các thuốc có chi phí
17
cao nhưng mức độ ưu tiên thấp hơn. Đặc biệt là cố gắng để xóa bỏ các thuốc
N mà có giá cao hoặc mức độ tiêu thụ cao trong nhóm A. Tuy nhiên, việc ứng
dụng phân tích VEN vào phân tích sẽ khác nhau giữa các bệnh viện và các
nghiên cứu.
Đến thời điểm năm 2012, vẫn chưa có các nghiên cứu tại Việt Nam sử
dụng phân tích ma trận ABC/VEN làm công cụ để đánh giá hoạt động lựa
chọn thuốc. Các hoạt động này chủ yếu dựa trên kinh nghiệm nên cho dù vẫn
đảm bảo cung ứng thuốc cho bệnh viện nhưng chưa khoa học.Việc áp dụng
phương pháp phân tích ABC/VEN này ở các bệnh viện còn nhiều hạn chế.
Trong một nghiên cứu năm 2012 khảo sát về việc sử dụng phương pháp này
tại một số trung tâm y tế các tuyến, đặc biệt đáng lưu ý hầu hết các bệnh viện
chưa dùng phương pháp ABC/VEN để phân tích DMT đã sử dụng. Khi phỏng
vấn về việc không sử dụng phương pháp này, hầu hết các chủ tịch HĐT& ĐT
bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện cho rằng: “ không biết phương pháp
này” hoặc “chưa từng nghe đến phương pháp này”. Một số bệnh viện tuyến
Trung ương đã biết phương pháp này qua một số buổi tập huấn của Cục quản
lý khám chữa bệnh nhưng chưa áp dụng tại bệnh viện. Có BV tuyến TƯ cho
rằng“ phân tích VEN cho một bệnh viện ĐKTƯ với hơn 20 khoa lâm sàng là
rất khó do chưa có hướng dẫn cụ thể”. Việc áp dụng phân tích VEN mới được
nghiên cứu gần đây.
Để tiến hành phân loại, các tác giả từ một số nghiên cứu đưa ra tiêu chí
phân loại thuốc V, E, và N như sau:
Bảng 1.3. Tiêu chí phân loại VEN trong một số nghiên cứu ở Việt Nam