MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ẢNH ..............................................................................................vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU .......................................................................................... vii
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ- HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA
DỰ ÁN HỒ CHỨA ĐA MỤC TIÊU ............................................................................ 4
1.1. Tổng quan về dự án đầu tư xây dựng ....................................................................... 4
1.1.1. Khái niệm về đầu tư............................................................................................... 4
1.1.2. Vị trí và vai trò của đầu tư ..................................................................................... 4
1.1.3. Khái niệm dự án đầu tư xây dựng ......................................................................... 4
1.1.4. Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình ................................................... 5
1.1.5. Các giai đoạn thực hiện của dự án đầu tư xây dựng.............................................. 6
1.2. Tổng quan về hồ chứa đa mục tiêu ........................................................................... 8
1.2.1. Giới thiệu tổng quan về dự án hồ chứa đa mục tiêu .............................................. 8
1.2.2. Vai trò, hiệu quả của công trình hồ chứa đa mục tiêu ......................................... 10
1.2.3. Tình hình đầu tư xây dựng các dự án hồ chứa thủy lợi ....................................... 12
1.3. Tổng quan về hiệu quả kinh tế của hồ chứa đa mục tiêu ....................................... 14
1.3.1. Khái niệm về hiệu quả kinh tế của dự án ............................................................ 14
1.3.2. Phân loại hiệu quả kinh tế ................................................................................... 14
1.3.3. Hệ thống chỉ tiêu và hiệu quả của dự án hồ chứa đa mục tiêu ............................ 16
1.4. Những nhân tố tác động đến hiệu quả kinh tế của hồ chứa đa mục tiêu ................ 17
1.4.1. Nhóm nhân tố trong giai đoạn quy hoạch ........................................................... 17
1.4.2. Nhóm nhân tố trong giai đoạn đầu tư xây dựng .................................................. 18
1.4.3. Nhóm nhân tố trong giai đoạn quản lý vận hành ................................................ 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .............................................................................................. 20
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
KINH TẾ CỦA DỰ ÁN HỒ CHỨA ĐA MỤC TIÊU .............................................. 21
2.1. Đặc điểm vận hành của dự án hồ chứa đa mục tiêu ............................................... 21
2.2. Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới trong quản lý vận hành, khai thác hồ
chứa đa mục tiêu ............................................................................................................ 21
3.6.Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của dự án hồ chứa đa mục
tiêu ................................................................................................................. 70
3.6.1. Định hướng phát triển công tác thủy lợi trong giai đoạn từ nay đến 2020 ......... 70
3.6.2. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của dự án hồ chứa đa mục
iv
tiêu ................................................................................................................................. 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 .............................................................................................. 84
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................................................... 86
1. Kết luận...................................................................................................................... 86
2. Kiến nghị ................................................................................................................... 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................... 89
v
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 3.1: Hồ Đại Lải ..................................................................................................... 45
Hình 3.2: Tràn xả lũ hồ Đại Lải .................................................................................... 48
vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Các thông số kỹ thuật Hồ Đại Lải................................................................. 46
Bảng 3.2: Bảng tổng hợp vốn đầu tư của dự án (K) ...................................................... 51
Bảng 3.3: Diện tích, năng suất, sản lượng nông nghiệp khi không có dự án ................ 53
Bảng 3.4: Diện tích, năng suất, sản lượng nông nghiệp sau khi có dự án..................... 53
Công trình thủy lợi
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
HQKT
Hiệu quả kinh tế
IRR
Suất thu lợi nội tại
KT- XH
Kinh tế - xã hội
TKKT-DT
Thiết kế kỹ thuật- Dự toán
LHQ
Liên hợp quốc
NPV
Giá trị thu nhập ròng hiện tại
trong bước thiết kế chưa đảm bảo và đặc biệt là việc phát huy hiệu quả công trình
trong giai đoạn hậu xây dựng chưa được quan tâm, còn nhiều hạn chế.
Nhận thức rõ tầm quan trọng, vai trò của hệ thống các công trình thủy lợi trong điều
kiện phát triển mới, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương ưu tiên đầu tư các công
trình thủy lợi đa mục tiêu trong chiến lược phát triển thủy lợi đến năm 2020 và tầm
nhìn 2030. Như vậy, việc phân tích đánh giá làm rõ tính hiệu quả kinh tế của các công
trình thủy lợi đa mục tiêu trong giai đoạn đầu tư xây dựng cũng như trong giai đoạn
1
quản lý vận hành sẽ là căn cứ quan trọng để chúng ta sử dụng hiệu quả các nguồn lực
Quốc gia trong quá trình đầu tư phát triển kinh tế xã hội đất nước. Xuất phát từ những
vấn đề nêu trên, tác giả chọn đề tài luận văn thạc sĩ với tên: “Đánh giá hiệu quả kinh
tế và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của dự án hồ chứa đa mục
tiêu- Áp dụng vào dự án hồ chứa nước Đại Lải- Thị xã Phúc Yên- Tỉnh Vĩnh Phúc”
với mong muốn đóng góp chia sẻ những kết quả nghiên cứu và những vấn đề khoa học
mà tác giả quan tâm.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích tìm ra phương pháp phân tích đánh giá hiệu quả
kinh tế của loại hình công trình hồ chứa nước đa mục tiêu ở nước ta, từ kết quả nghiên
cứu sẽ áp dụng đánh giá cho một công trình cụ thể và đề xuất những giải pháp nâng
cao hiệu quả kinh tế của loại hình công trình này.
3. Đối tượng nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là dự án hồ chứa đa mục tiêu.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Các phương pháp và các chỉ tiêu dùng trong phân tích hiệu
quả kinh tế của dự án hồ chứa đa mục tiêu.
- Phạm vi về không gian và thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu, thu thập số liệu của
các dự án hồ chứa đa mục tiêu ở vùng trung du, miền núi phía Bắc mà trọng tâm là hồ
1.1.1. Khái niệm về đầu tư
- Đầu tư là việc bỏ vốn nhằm đạt được một hoặc một số mục đích cự thể của người nào
đó sở hữu vốn (hoặc người được cấp có thẩm quyền giao quản lý vốn) với những yêu
cầu nhất định.
- Đầu tư xây dựng là việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công
trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc
sản phẩm, dịch vụ trong thời gian nhất định.
1.1.2. Vị trí và vai trò của đầu tư
- Đầu tư có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của bất ký hình thức
kinh tế nào, nó tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật, những nền tảng vững chắc ban
đầu cho sự phát triển của xã hội.
- Đầu tư hình thành các công trình mới với thiết bị công nghệ hiện đại, tạo ra những cơ
sở vật chất hạ tầng ngày càng hoàn thiện đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và
đóng vai trò quan trọng trên mọi mặt kinh tế, chính trị- xã hội, an ninh- quốc phòng.
- Đối với một nước đang phát triển như nước ta hiện nay , quản lý hiệu quả các dự án
là cực ký quan trọng nhằm tránh gây ra lãng phí, thất thoát những nguồn lực vốn đã rất
hạn hẹp.
1.1.3. Khái niệm dự án đầu tư xây dựng
- Khi đầu tư xây dựng công trình, Chủ đầu tư (CĐT) xây dựng công trình phải lập báo
cáo đầu tư, dự án đầu tư ( hoặc lập báo cáo kinh tế- kỹ thuật) để xem xét, đánh giá
hiệu quả kinh tế- xã hội của dự án.
- “Dự án” là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ công việc nào đó dưới sự ràng buộc
về yêu cầu và nguồn vật chất đã định. Thông qua việc thực hiện dự án để cuối cùng đạt
được mục tiêu nhất định đã đề ra và kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ.
4
- Theo Luật Xây dựng Việt Nam số 50/2014/QH13 [10] thì dự án đầu tư xây dựng công
trình là tập hợp các đề xuất có lên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng
chính vì vậy để thực hiện được nó chúng ta phải huy động nhiều nguồn lực khác nhau,
việc kết hợp hài hòa các nguồn lực đó trong quá trình triển khai là một trong những
nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả của dự án.
1.1.5. Các giai đoạn thực hiện của dự án đầu tư xây dựng
- Dự án đầu tư xây dựng và quá trình đầu tư xây dựng của bất ký dự án nào cũng bao
gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư, Thực hiện đầu tư, Kết thúc xây dựng và đưa dự án
vào khai thác sử dụng . Quá trình thực hiện dự án đầu tư được nêu bằng sơ đồ 1. 1
dưới đây:
Lập thiết kế
Lập Báo cáo
đầu tư
Đấu thầu
Lập Dự án
đầu tư
Đối với DA quan trọng quốc gia
Chuẩn bị đầu tư
Thực hiện đầu tư
Thi công
Nghiệm
thu
đưa dự
án vào
hoạt
Sau khi lựa chọn được nhà thầu thiết kế, trên cơ sở dự án được phê duyệt, nhà thầu
thiết kế tổ chức thực hiện các công việc tiếp theo của mình. Tuỳ theo quy mô, tính chất
công trình xây dựng, việc thiết kế có thể thực hiện theo một bước, hai bước hay ba
bước.
Thiết kế một bước là thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình chỉ lập báo
cáo kinh tế kỹ thuật.
Thiết kế hai bước bao gồm thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với
công trình quy định phải lập dự án đầu tư.
Thiết kế ba bước bao gồm thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công
áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án và có quy mô là cấp đặc biệt, cấp I
và công trình cấp II có kỹ thuật phức tạp do người quyết định đầu tư quyết định.
Sau khi sản phẩm thiết kế được hình thành, CĐT tổ chức thẩm định hồ sơ TKKT-TDT
và trình lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cụ thể là người có thẩm quyền ra quyết
định đầu tư) phê duyệt. Trường hợp CĐT không đủ năng lực thẩm định thì thuê các tổ
chức, cá nhân tư vấn có đủ điều kiện năng lực để thẩm tra dự toán thiết kế công trình
làm cơ sở cho việc phê duyệt. Trên cơ sở kết quả thẩm định TKKT-DT người có thẩm
quyền quyết định đầu tư sẽ ra quyết định phê duyệt TKKT-DT. Khi đã có quyết định
phê duyệt TKKT- TDT, CĐT tổ chức đấu thầu xây dựng nhằm lựa chọn nhà thầu có
đủ điều kiện năng lực để cung cấp các sản phẩm dịch vụ xây dựng phù hợp, có giá dự
7
thầu hợp lý, đáp ứng được yêu cầu của CĐT và các mục tiêu của dự án.
Sau khi lựa chọn được nhà thầu thi công, CĐT tổ chức đàm phán ký kết hợp đồng thi
công xây dựng với nhà thầu và tổ chức quản lý thi công xây dựng dự án. Nội dung
quản lý thi công xây dựng bao gồm quản lý chất lượng xây dựng; quản lý tiến độ xây
dựng; quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình; quản lý an toàn lao động trên
công trường xây dựng; quản lý môi trường xây dựng.
- Giai đoạn kết thúc xây dựng và đưa công trình vào khai thác sử dụng:
Trong thời gian qua, hồ chứa lớn được xem là biểu tượng của khả năng chế ngự và
chinh phục thiên nhiên của con người nhằm mục đích phát triển công nghiệp cũng như
nông nghiệp, kinh tế xã hội và điện lực. Kết quả là hơn một nửa các con sông lớn trên
thế giới đều bị ảnh hưởng của việc xây dựng hồ chứa và gần 40 triệu người dân đã
phải di dời. Trung Quốc là nước có nhiều hồ chứa lớn nhất, với trên hồ chứa (trên tổng
số > 90.000 hồ chứa); Mỹ có khoảng 6.400 hồ chứa lớn, Ấn Độ có khoảng 4.000 hồ
chứa lớn, Nhật và Tây Ban Nha có khoảng > 1.000 hồ chứa lớn. Năm 1992 Trung
Quốc tiến hành xây dựng hồ chứa nước Tam Hiệp trên sông Dương Tử trị giá 50 tỷ
USD, với đập cao 185m có chức năng cấp nước, điều tiết lũ, phát điện (12% nhu cầu
điện toàn quốc). Công trình làm 1,2 triệu người phải di dời và làm ngập 41.000ha đất
nông nghiệp.
Căn cứ vào tính chất hoặc nhiệm vụ chủ yếu của hồ chứa có thể phân thành 02 loại hồ
chứa chủ yếu là hồ chứa thủy lợi và hồ chứa thủy điện. Hồ chứa đa mục tiêu là loại
công trình hồ chứa thủy lợi được xây dựng để khai thác tổng hợp nguồn nước: cung
cấp nước tưới cho nông nghiệp, giảm lũ, cắt lũ cho hạ du, phát điện, cấp nước cho
công nghiệp và sinh hoạt, tạo cảnh quan môi trường để phát triển dịch vụ du lịch, phục
vụ giao thông thủy, nuôi trồng thủy sản,…
Công trình hồ chứa đa mục tiêu có ba vấn đề chính cần quan tâm giải quyết mà ở công
trình được thiết kế cho một mục tiêu duy nhất không có, đó là:
- Vấn đề giải quyết các xung đột và mâu thuẫn giữa các nhiệm vụ (các ngành dùng
nước) trong bài toán cân bằng nước.
- Vấn đề phân bổ vốn đầu tư cho từng nhiệm vụ.
- Vấn đề xác định thu nhập và lợi ích của từng nhiệm vụ.
9
Nói chung trong lĩnh vực thủy lợi ngày nay, hầu hết các hệ thống thủy lợi, đặc biệt là
các hệ thống có hồ chứa điều tiết dòng chảy đều thuộc loại hệ thống thủy lợi đa mục
tiêu, cùng một lúc phục vụ nhiều ngành kinh tế quốc dân.
án. Tạo điều kiện quan trọng cho phát triển nhanh và ổn định diện tích canh tác, năng
suất, sản lượng lúa để đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu. Tạo điều kiện hình
thành và phát triển các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi như lúa, ngô ở đồng bằng
sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, cao su và cà phê ở miền Đông nam Bộ, Tây
Nguyên, chè ở Trung du và miền núi Bắc Bộ,...Nuôi trồng thủy sản phát triển bền
vững mang lại hiệu quả cao tại những vùng có hệ thống thủy lợi bảo đảm nguồn cấp và
thoát nước chủ động.
Hồ chứa có tác dụng phòng chống giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai (lũ lụt, úng, hạn, sạt
lở,...), bảo vệ tính mạng của nhân dân, bảo vệ sản xuất, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạn chế
dịch bệnh. Các công trình hồ chứa lớn và vừa ở thượng du đã từng bước đảm bảo
chống lũ cho công trình và tham gia cắt lũ cho hạ du.
Hồ chứa còn có tác dụng cung cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ và các
ngành kinh tế khác theo số liệu cụ thể: Ở Việt Nam, Hàng năm các công trình thủy lợi
cung cấp khoảng 6 tỷ mét khối nước cho sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ, trong đó chủ
yếu là từ các hồ chứa cấp nước sinh hoạt cho đồng bằng, trung du miền núi. Đến nay
khoảng (70-75)% số dân nông thôn đã được cấp nước hợp vệ sinh với mức cấp 60
lít/người/ngày đêm.Cấp nước cho các khu công nghiệp, các làng nghề, bến cảng.
Các công trình hồ chứa còn góp phần phát triển nguồn điện: Lợi dụng thủy năng để
phát triển ngành điện - một ngành có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế
của các ngành nghề khác.
Bên cạnh đó các công trình hồ chứa đã góp phần làm tăng độ ẩm, bổ sung nguồn nước
ngầm, điều hòa dòng chảy, cải tạo đất chua, phèn, mặn, cải tạo môi trường nước, bảo
tồn đa dạng sinh học, phòng chống cháy rừng, cải thiện điều kiện vi khí hậu,…
11
Tuy nhiên, việc xây dựng và hoạt động của các hồ chứa đa mục tiêu cũng có thể gây ra
một số tác động tiêu cực như: Phải thực hiện di dân và tái định cư để có diện tích xây
dựng công trình và làm mất đi một số phần trăm diện tích đất canh tác và đất rừng, đa
đất chiếm đa phần như: Đại Lải ( Vĩnh Phúc), Suối Hai, Đồng Mô (Hà Nội); Khuôn
Thần (Bắc Giang); Thượng Tuy (Hà Tĩnh); Rào Nan, Cẩm Ly (Quảng Bình)…, trong
đó, hồ Cấm Sơn với dung tích trữ 248 triệu m3 và chiều cao đập 40m (là hồ chứa có
đập đất cao nhất nhất lúc bấy giờ).
Giai đoạn 1975÷2000: Sau khi đất nước thống nhất, để đẩy mạnh phát triển kinh tế,
nhà nước đã đầu tư xây dựng hàng loạt hồ chứa với nhiều quy mô khác nhau (lớn, vừa
và nhỏ):
+ Một số hồ chứa quy mô lớn như: Núi Cốc (Thái Nguyên), Kẻ Gỗ (Nghệ An); Yên
Lập (Quảng Ninh); Sông Mực (Thanh Hóa), Phú Ninh (Quảng Nam), Dầu Tiếng (Tây
Ninh)…, trong đó hồ Dầu Tiếng có dung tích lớn nhất 1,58 tỷ m3.
+ Các địa phương trên cả nước đã xây dựng hơn 700 hồ chứa có dung tích từ (1÷10)
triệu m3. Đặc biệt trong giai đoạn này các huyện, xã, hợp tác xã, nông lâm trường đã
xây dựng hàng ngàn hồ chứa nhỏ có dung tích dưới 0.2 triệu m3.
Từ năm 2000 đến nay, bằng nhiều nguồn vốn, đặc biệt nguồn vốn trái phiếu Chính
phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã quản lý đầu tư xây dựng mới nhiều hồ chứa có quy
mô lớn, như: Cửa Đạt (Thanh Hóa), Định Bình (Bình Định), Tả Trạch (Thừa Thiên
Huế), Nước Trong (Quảng Ngãi), Đá Hàn (Hà Tĩnh), Rào Đá, Thác Chuối (Quảng
Bình), Đá Mài, Tân Kim (Quảng Trị), Krông Buk Hạ, IaSup Thượng, Krông Pach
Thượng (Đắk Lắk),…
1.2.3.2. Về công tác quản lý đầu tư xây dựng các hồ chứa thủy lợi
Những loại hồ chứa nước vừa và lớn do Bộ Thủy lợi trước đây và nay là Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý việc đầu tư xây dựng đều giao cho các Ban
quản lý đầu tư và xây dựng chuyên ngành thủy lợi thay mặt Bộ làm nhiệm vụ Chủ đầu
tư xây dựng. Đây là những cơ quan có năng lực và kinh nghiệm quản lý xây dựng các
hồ chứa nước nhiều năm. Các cơ quan tham mưu của Bộ là các Cục, Vụ chuyên ngành
có đủ năng lực chuyên môn giúp Bộ theo dõi, kiểm tra và chỉ đạo trực tiếp thường
xuyên công tác quản lý đầu tư xây dựng kể cả mặt kỹ thuật, kinh tế và các thủ tục
chính sách về xây dựng cơ bản.
13
14
- Theo quan điểm lợi ích, hiệu quả về mặt định tính được chia thành hiệu quả của dự
án (hiệu quả tài chính) và hiệu quả đem lại cho nhà nước và cộng đồng (hiệu quả kinh
tế - xã hội).
- Theo phạm vi tác động, hiệu quả về mặt định tính được chia thành hiệu quả toàn cục
và hiệu quả bộ phận.
- Theo phạm vi thời gian, hiệu quả về mặt định tính được chia thành hiệu quả trước
mắt, ngắn hạn và hiệu quả lâu dài.
- Theo mức độ phát sinh, hiệu quả về mặt định tính được chia thành hiệu quả phát sinh
trực tiếp và hiệu quả phát sinh gián tiếp.
- Ngoài ra hiệu quả kinh tế cũng có thể được chia thành hiệu quả hữu hình và hiệu quả
vô hình.
1.3.2.2. Hiệu quả về mặt định lượng
Hiệu quả về mặt định lượng của dự án chỉ rõ độ lớn của mỗi chỉ tiêu hiệu quả định
tính, được chia thành các loại sau:
- Theo cách tính toán, hiệu quả về mặt định lượng được chia thành 2 loại là hiệu quả
được tính theo số tuyệt đối (kết quả của đầu tư) và hiệu quả được tính theo số tương
đối.
- Theo thời gian tính toán, hiệu quả về mặt định lượng được chia thành hiệu quả tính
cho một thời đoạn niên lịch (thường là 1 năm) và hiệu quả tính cho cả đời dự án (kéo
dài nhiều năm).
- Theo mức đạt yêu cầu, hiệu quả về mặt định lượng được chia thành các loại:
+ Hiệu quả chưa đạt mức yêu cầu, khi trị số hiệu quả của công trình được tính ra nhỏ
hơn trị số hiệu quả định mức (ngưỡng hiệu quả). Khi đó công trình được gọi là không
đạt hiệu quả, hay là không đáng giá.
+ Hiệu quả đạt mức yêu cầu, khi trị số hiệu quả của công trình được tính ra lớn hơn trị
số hiệu quả định mức. Khi đó công trình được gọi là đạt hiệu quả, hay đáng giá.
16
- Cấp nước cho sinh hoạt, công nhiệp, dịch vụ và các ngành kinh tế khác:
+ Cấp nước sinh hoạt cho đồng bằng, trung du miền núi. Đến nay khoảng 70 đến 75%
số dân nông thôn đã được cấp nước hợp vệ sinh với mức cấp 60 lít/người/ngày đêm.
+ Cấp nước cho các khu công nghiệp, các làng nghề, bến cảng.
+ Các hồ thuỷ lợi đã trở thành các điểm du lịch hấp dẫn du khách trong nước và quốc
tế như: Núi Cốc, Đồng Mô - Ngải Sơn, hồ Xuân Hương, Dầu Tiếng...
- Góp phần phát triển nguồn điện: hàng loạt hồ chứa thuỷ điện vừa và nhỏ do ngành
Thuỷ lợi đầu tư xây dựng. Sơ đồ khai thác thuỷ năng trên các sông do ngành Thuỷ lợi
đề xuất trong quy hoạch đóng vai trò quan trọng để ngành Điện triển khai chuẩn bị đầu
tư, xây dựng nhanh và hiệu quả hơn.
1.4. Những nhân tố tác động đến hiệu quả kinh tế của hồ chứa đa mục tiêu
1.4.1. Nhóm nhân tố trong giai đoạn quy hoạch
1.4.1.1. Nguyên nhân do chưa lường trước những biến động trong tương lai trong giai
đoạn quy hoạch
Trong giai đoạn quy hoạch việc xác định lượng nước đến cũng như nhu cầu dùng nước
cho tương lai chỉ mạng tính ước đoán, định tính. Nhu cầu cho phát triển kinh tế - xã
hội của vùng có nhiều biến động, những chủ trương định hướng phát triển về cây
trồng, vật nuôi, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và kinh tế chung của vùng nghiên cứu chưa
được xác định chính xác nên gây khó khăn cho công tác quy hoạch xây dựng, nâng cấp
công trình thủy lợi phục vụ cho các ngành. Hệ thống thủy lợi mới chỉ được quy hoạch
cho công tác tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp là chính, chưa có quy hoạch, bố
trí hợp lý để kết hợp nuôi trồng thủy sản trên hồ chứa, trên các ao hồ nhỏ được kênh
mương của hồ chứa cấp, thoát nước mà hầu hết đều do dân làm tự phát, chắp vá, thiếu
đồng bộ, kém ổn định, không chủ động cho việc cấp thoát nước phục vụ yêu cầu cho
các khu nuôi. Tuy nhiên, do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tăng của khu
vực dẫn đến yêu cầu nước ngày càng tăng, đòi hỏi công trình thủy lợi không chỉ phục
chắp vá, thậm chí hầu như không đáng kể. Một số quy trình, quy phạm còn lạc hậu,
chưa cập nhật, chưa phản ánh kịp tiến bộ kỹ thuật và yêu cầu phát triển của thực tiễn.
Tính mỹ thuật công trình và yêu cầu kiến trúc còn ít được quan tâm.
1.4.2.2. Nguyên nhân về xây dựng dự án, về trang thiết bị
Dự án công trình đầu mối hồ chứa quan trọng nhất là đập, cống lấy nước và tràn xả lũ,
nhưng các hạng mục công trình này thường không hoàn chỉnh về thiết kế và thi công
như: mặt cắt ngang đập không đảm bảo, mái dốc chưa phù hợp, cống lấy nước không
18
kín, cầu công tác không đảm bảo an toàn gây khó khăn cho công tác quản lý. Các thiết
bị cảnh báo, dự báo, quan trắc, đóng mở cửa van còn thiếu, lại thô sơ, lạc hậu gây khó
khăn cho việc quản lý sử dụng. Hầu hết hệ thống kênh mương không được xây dựng
đồng bộ hoàn chỉnh cho tới mặt ruộng, về kết cấu kênh dẫn trên các hệ thống chủ yếu
là kênh đất, sau một số năm sử dụng bị sạt lở, bồi lấp không được khôi phục kịp thời
làm giảm khả năng dẫn nước và khả năng đảm bảo điều kiện tưới tự chảy đặc biệt là
hệ thống kênh nội đồng. Các công trình trên kênh đã được xây dựng nhưng thiếu đồng
bộ, hoàn chỉnh và do thời gian đưa vào khai thác, sử dụng đã nhiều năm, lại không
được đầu tư tu bổ, sửa chữa đầy đủ, kịp thời và đúng mức nên phần lớn bị xuống cấp
nhanh chóng.
1.4.3. Nhóm nhân tố trong giai đoạn quản lý vận hành
Hệ thống hồ chứa đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân tuy vậy theo một
số đánh giá thì rất nhiều hệ thống hồ chứa lớn đã không đem lại hiệu ích kinh tế, môi
trường như đã được đánh giá trong quá trình lập dự án. Lý do phát huy hiệu quả kém
có thể do trong giai đoạn thiết kế không chú ý đầy đủ đến chế độ quản lý vận hành sau
khi dự án hoàn tất, không lường trước được các yêu cầu, mục tiêu nảy sinh trong quá
trình vận hành hệ thống sau khi hoàn thành ví dụ như các yêu cầu về cấp nước sinh
hoạt, công nghiệp, yêu cầu duy trì dòng chảy môi trường sông, duy trì sinh thái vùng
hạ lưu. Mâu thuẫn nảy sinh giữa các mục tiêu sử dụng nước có thể coi là nguyên nhân
chính dẫn đến kém hiệu quả trong vận hành khai thác hệ thống hồ chứa.