MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………………………...1
1.
Tính cấp thiết của đề tài……………………………………………………….1
2.
Mục đích nghiên cứu của đề tài:………………………………………………2
3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu…………………………………………….2
4.
Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu……………………………………2
4.1. Cách tiếp cận .............................................................................................................. 2
4.2. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................... 3
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ................................................................... 3
6. Dự kiến kết quả đạt được ............................................................................................. 3
7. Nội dung của luận văn: ................................................................................................. 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI
CÔNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI………………………………………………..5
1.1 Tổng quan về tình hình phát triển các công trình thủy lợi ở Việt Nam và trên
địa bàn tỉnh Nghệ An. ....................................................................................................... 5
1.1.1 Tình hình phát triển các công trình thủy lợi ở Việt Nam. ................................5
1.1.2 Tình hình phát triển các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Nghệ An. .........9
1.2. Sự cần thiết của công tác quản lý chất lượng công trình thủy lợi ở Việt Nam
hiện nay............................................................................................................................. 20
2.3.1 Mô hình giám sát chủ đầu tư. ........................................................................ 49
2.3.2. Mô hình tư vấn giám sát độc lập. ................................................................. 53
2.3.3. Mô hình giám sát cộng đồng ........................................................................ 54
2.4. Một số phương pháp giám sát chất lượng công trình. ........................................ 55
2.4.1. Phương pháp quan sát................................................................................... 55
2.4.2. Phương pháp thực nghiệm ............................................................................ 56
2.4.3. Phương pháp kiểm tra bằng thí nghiệm........................................................ 57
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG
LỰC GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRONG
GIAI ĐOẠN THI CÔNG TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN NGÀNH NÔNG
NGHIỆP & PTNT NGHỆ AN.
58
3.1. Giới thiệu về Ban Quản lý dự án ngành Nông nghiệp & PTNT Nghệ An ..... 58
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ban ................................................... 58
3.1.2. Chức năng ..................................................................................................... 58
3.1.3. Nhiệm vụ ...................................................................................................... 58
iv
3.1.4 Sơ đồ tổ chức nhân sự của Ban ......................................................................60
3.2. Đánh giá chung về công tác quản lý chất lượng các công trình thủy lợi trong
giai đoạn thi công tại Ban quản lý dự án ngành Nông nghiệp & PTNT Nghệ An.. 67
3.2.1. Những kết quả đạt được ................................................................................67
3.2.2. Những tồn tại và nguyên nhân ......................................................................67
3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giám sát các công trình
trong giai đoạn thi công tại Ban quản lý dự án ngành Nông nghiệp & PTNT Nghệ
An.
QLDA
Quản lý dự án
PTNT
Phát triển nông thôn
CTXD
Công trình Xây dựng
CLCTXD
Chất lượng công trình xây dựng
TCXDVN
Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam
QLDA
Quản lý dự án
CĐT
Chủ đầu tư
DA
đoạn thi công, máy móc chỉ giải phóng được một phần công việc nặng nhọc, còn
những công việc liên quan mật thiết đến chất lượng công trình, yếu tố con người
vẫn đóng vai trò chủ chốt. Giám sát thi công xây dựng là yếu tố quan trọng trong
quá trình xây dựng, công trình xây dựng không đảm bảo chất lượng sẽ có nguy hại
đến đời sống xã hội của mọi người, không ít công trình do không đảm bảo chất
lượng đã sụt lún, vỡ đập...gây nguy hiểm đến tính mạng con người, nhiều công
trình có chất lượng không đảm bảo cũng gây mất mỹ quan giảm độ bền vững của
công trình, gây lãng phí, tốn kém.
Tăng cường công tác giám sát chất lượng thi công xây dựng đã và đang được Đảng
và nhà nước quan tâm trong những năm gần đây. Nhà nước đã ban hành Luật Xây
dựng, chính phủ đã ban hành các Nghị định, các ban ngành đã có các thông tư
hướng dẫn công tác giám sát chất lượng công trình xây dựng.
Tuy nhiên, chất lượng công trình xây dựng trong giai đoạn thi công vẫn đang là
vấn đề bức xúc hàng đầu trong xây dựng công trình, giám sát thi công công trình
còn mang tính chủ quan, đối phó, chưa quyết liệt dẫn đến hiện tượng rút ruột công
trình vẫn đang xảy ra.
1
Trong những năm qua, Ban quản lý dự án ngành Nông nghiệp & PTNT Nghệ An
được chủ đầu tư là Sở Nông nghiệp và PTNT Nghệ An và UBND Tỉnh Nghệ An
giao nhiệm vụ quản lý xây dựng nhiều dự án phát triển nông thôn trong đó các
công trình xây dựng kênh mương, hồ, đập,kè sông, trạm bơm.. bên cạnh những kết
quả đạt được từ các dự án, vẫn còn nhiều mặt hạn chế, thiếu sót, đặc biệt là công
tác giám sát chất lượng công trình trong giai đoạn thi công.
Với mục đích tìm ra giải pháp để nâng caochất lượng công tác giám sát trong giai
đoạn thi công, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao năng lực giám sát chất lượng
thi công công trình thủy lợi của Ban quản lý dự án ngành Nông nghiệp &
PTNT Nghệ An ” để làm luận văn tốt nghiệp của mình, với mong muốn có những
a. Ý nghĩa khoa học:
Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý chất lượng công trình thủy lợi, vấn đề và giải
pháp nâng cao chất lượng quản lý công trình thủy lợi, quan điểm lý luận về hiệu
quả chất lượng quản lý công trình.
b. Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu, phân tích đánh giá và các giải pháp đề xuất, đóng góp thiết
thực cho tiến trình nâng cao chất lượng quản lý trong giai đoạn thi công công trình
thủy lợi của Ban quản lý dự án nghành Nông nghiệp và phát triển nông thôn Nghệ
An, đảm bảo cho việc phát triển bền vững về kinh tế - xã hội đáp ứng được yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống trong khu vực
dự án.
6. Dự kiến kết quả đạt được
- Hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng và quản lý chất lượng công
trình thủy lợi, phân tích các nhân tố ảnh hưởng.
- Đánh giá thực trạng hệ thống tổ chức và công tác quản lý chất lượng công trình
thủy lợi trong giai đoạn thi công xây dựng tại Ban Quản lý dự án ngành Nông
Nghiệp và PTNT Nghệ An.
- Đề xuất những giải pháp tổ chức, quản lý phù hợp bảo đảm tốt công tác giám sát
chất lượng công trình thủy lợi trong giai đoạn thi công của Ban quản lý dự án
ngành Nông Nghiệp và PTNT Nghệ An.
3
7. Nội dung của luận văn:
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và kiến nghị. Nội dung luận văn dự kiến
gồm 3 chương nội dung sau:
Chương 1: Tổng quan về công tác quản lý chất lượng thi công công trình thủy lợi.
Chương 2:Cơ sở pháp lý và phương pháp giám sát chất lượng trong giai đoạn thi
công các công trình thủy lợi.
giải phóng; Đảng, Nhà nước ta đã khôi phục nhanh chóng các hệ thống thủy lợi bị
chiến tranh tàn phá, đẩy mạnh xây dựng các công trình thủy lợi từ nhỏ đến lớn như
hồ Cấm Sơn, Núi Cốc, hệ thống đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải, các hệ thống trạm
bơm ở Bắc Hà Nam, Nam Định, Thái Bình… Năm 1975, sau khi nước nhà thống
nhất với sự tăng cường của lực lượng cán bộ khoa học, kỹ thuật miền Bắc, công
việc quy hoạch và xây dựng các hệ thống thủy lợi đã nhanh chóng được triển khai
5
mạnh mẽ ở miền Trung và miền Nam, tạo ra bước đột phát về phát triển thủy lợi
trong phạm vi cả nước.
Ở Đồng bằng sông Cửu Long do có chủ trương kỹ thuật và bước đi thích hợp để
cải tạo các vùng bị ngập lũ, chua phèn và xâm nhập mặn bằng các hệ thống kênh
trục, kênh ngang, cống, đập, bờ bao…. Nên đã tạo ra khả năng để chuyển vụ lúa
mùa nổi năng suất thấp sang 2 vụ lúa đông xuân, hè thu có năng suất cao trên một
vùng rộng lớn ở Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Tây Sông Hậu….Ở miền
Đông Nam Bộ, miền Trung, Tây Nguyên ngoài phát triển các hệ thống thủy lợi
vừa và nhỏ đã xây dựng nhiều công trình hồ đập lớn như Dầu Tiếng, Kẻ Gỗ, Phú
Ninh, Thạch Nham Đá Bàn, Sông Quao, Yaun, Krông Buk…Ở miền Bắc tiếp tục
nâng cấp và làm mới các công trình tưới, tiêu úng và nâng cấp hệ thống đê điều.
Thành quả chung của công tác thủy lợi đã đưa lại cho đất nước là rất to lớn và đã
góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp và phòng chống thiên tai có bước phát
triển mạnh mẽ, góp phần cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh
hoạt, và cải tạo môi trường. Dưới đây là một số kết quả cụ thể:
Năm 1945 không kể ở đồng bằng sông Cửu Long, cả nước có 13 hệ thống thủy
nông tập trung ở các tỉnh trung du, đồng bằng Bắc Bộ, khu Bốn cũ, Duyên hải
miền Trung, đập Thác Huống trên sông Cầu, đập Bái Thượng trên sông Chu, đập
Đô Lương trên sông Cả, đập Đồng Cam trên sông Ba…Tổng năng lực tưới của các
công trình đập lớn cùng với 13 hệ thống thủy nông nói trên đã đảm bảo tưới cho
có đến 700 nghìn ha bị mặn xâm nhập. Từ sau năm 1975 đã đắp hệ thống bờ bao
ngăn lũ sớm, hạn chế xâm nhập mặn và nhiều công trình thoát lũ, hệ thống đê biển
cũng từng bước được xây dựng ở nhiều địa phương, nhờ vậy đã bảo vệ được hầu
hết diện tích gieo trồng lúa hè thu ở vùng lũ và lúa đông xuân ở vùng trũng không
bị lũ sớm đe dọa và nước biển xâm nhập.
Vềcấp nước sinh hoạt, nước công nghiệp và nuôi trồng thủy sản: Các hệ thống
thủy lợi được xây dựng trong nhiều năm liên tục được phân bổ rộng khắp trên mọi
vùng của đất nước đã góp phần cung cấp nước sinh hoạt cho dân cư xung quanh
công trình, nhiều hồ còn cấp nước sinh hoạt cho các điểm công nghiệp và đô thị
như hồ Song Ray (Bà Rịa - Vũng Tàu), hồ Mỹ Tân (Ninh Thuận), Hòa Sơn
(Khánh Hòa), cụm hồ Thủy Yên - Thủy Cam (Thừa Thiên Huế), Ngàn Trươi Cẩm Trang (Hà Tĩnh), Bản Mòng (Sơn La), Ia Keo - Nà Cáy (Lạng Sơn). Nổi bật
nhất là đã xây dựng được các công trình cấp nước cho 30 vạn đồng bào vùng cao
7
đặc biệt là những vùng núi đá vôi như Trà Lĩnh, Hà Quảng, Lục Khu (Cao Bằng)
Yên Ninh, Quảng Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang)… nhiều huyện vùng cao ở
Lào Cai, Lai Châu, Sơn La...Thuỷ lợi cũng cấp nước cho nuôi trồng thủy sản, hàng
vạn ha mặt nước của các ao hồ nuôi thủy sản đều dựa chủ yếu vào nguồn nước
ngọt từ các hệ thống thủy lợi; đối với các vùng ven biển, phần lớn các công trình
thủy lợi đều ít nhiều đóng góp vào việc tạo ra môi trường nước lợ, nước mặn để
nuôi tôm và một số loài thủy sản quý hiếm, tạo điều kiện cho việc nuôi trồng thủy
sản có bước phát triển mạnh mẽ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân
trong nước và xuất khẩu.
Về đóng góp vào xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới: Nhiều vùng nông
thôn Việt Nam, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa do ruộng đất ít, tập quán canh tác còn
lạc hậu, dân số tăng nhanh, vì vậy cuộc sống gặp nhiều khó khăn, có nơi còn quá
nghèo; các công trình thủy lợi nhỏ được xây dựng bằng nhiều nguồn vốn khác
nhau đã giúp cho nông dân có nước để canh tác, góp phần xóa đói giảm nghèo cho
chua phèn. Thủy lợi đã và đang cải tạo những vùng đất “chiêm khê mùa thối”
chấm dứt được cảnh “sống ngâm da, chết ngâm xương” và các bệnh đau mắt hột ở
các vùng chiêm trũng, tiêu thoát nước thải bẩn, nước gây ngập úng khi mưa và
triều dâng cho nhiều đô thị.
1.1.2 Tình hình phát triển các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
1.1.2.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội.
a) Vị trí giới hạn, diện tích tự nhiên:
Nghệ An có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước với 1.648.729 ha được giới hạn
bởi:
- Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa
- Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh
- Phía Tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.
- Phía Đông là biển.
b) Phân bố hành chính:
Nghệ An có dân số 3.003.179 người, gồm 19 huyện, thành phố, thị xã. Được phân
ra làm 2 vùng kinh tế:
9
- Vùng miền núi có 10 huyện: Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Quế Phong,
Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Anh Sơn, Thanh Chương, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, diện tích tự
nhiên 1.374.501ha, dân số 1.108.763 người (khoảng 40% là dân tộc ít người)
- Vùng đồng bằng 9 huyện thành, thị xã gồm: Diễn Châu, Yên Thành, Đô Lương,
Quỳnh Lưu, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, thị xã Cửa Lò và thành phố Vinh,
diện tích tự nhiên là 274.288 ha, dân số là 1.894.407 người.
1.1.2.2. Những yếu tố thuận lợi, khó khăn đối với công tác thủy lợi.
a) Những yếu tố thuận lợi:
- Có khoảng 200.000 ha đất nông nghiệp đại bộ phận tập trung thành các vùng lớn
nằm ở ven sông gần nguồn nước. Các vùng đất cần tưới hầu hết đã được khai thác
hóa giúp cho việc vận chuyển vật liệu xây dựng thuộc các huyện đồng bằng vùng
núi thấp khá thuận lợi.
- Hệ thống điện lưới Quốc gia đã phủ 18 trên 19 huyện thành tạo thuận lợi cho việc
xây dựng các trạm bơm.
b) Những khó khăn thách thức:
- Điều kiện địa hình phức tạp, tỷ lệ đồi núi lớn chiếm trên 80% diện tích, bị chia
cắt mạnh bởi hệ thống khe suối mật độ dày, độ cao mặt đất chênh lệch lớn, hướng
dốc đa chiều, tỷ suất đầu tư lớn.
- Nền địa chất công trình đa dạng, phức tạp, dễ gây trượt, sạt lở mái, thấm qua nền,
thay đổi dòng chảy sông suối gây bồi lấp cửa lấy nước, xói lở vùng bờ biển, cửa
sông.
- Diễn biến khí hậu thời tiết phức tạp:
+ Lượng mưa phân bố không đều không gian và thời gian: Tương Dương, Kỳ Sơn
theo 1200 mm, các vùng thung lũng 1100 Kỳ Sơn 700, 900 mm, lượng mưa 3
tháng mùa lũ (tháng 9-11) chiếm 75%.
+ Nhiệt độ, độ ẩm cao có biên độ dao động lớn.
11
+ Chịu ảnh hưởng trực tiếp của nước dâng và bão từ biển Đông và gió khô nóng
Tây Nam.
Trên đây là những nguyên nhân trực tiếp gây hạn hán gay gắt, lụt lội ác liệt, lũ quét,
sạt lở đất, xâm nhập mặn tác động xấu đến công tác phát triển thủy lợi, chi phí đầu
tư thủy lợi cao đặc biệt là các huyện miền núi.
- Điều kiện kinh tế Nghệ An gặp nhiều khó khăn, mức thu nhập đầu người thấp
hơn bình quân cả nước.
- Phân bố dân cư: Nghệ An có 10 huyện miền núi có 37,5% dân số cả tỉnh nhưng
diện tích tự nhiên chiếm 83% diện tích cả tỉnh. Có nhiều núi cao hiểm trở, dân ở
rải rác, đặc biệt là các vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa ruộng đất ít, dân thưa thớt,
chữa khôi phục (làm thêm một cửa Tuy nen) lưu lượng lấy vào tăng, giải quyết
nước tưới cơ bản cho diện tích lúa nước. Tuy nhiên do nguồn vốn có hạn kênh
chính còn 15.452m, kênh cấp 1 còn 88.078m, kênh cấp 2 còn 126.000m chưa được
kiên cố, vì vậy nước về phần cuối kênh cấp 1 như N13, N20, N18, N8, N24, N26,
N2 gặp khó khăn trong một số năm hạn hán gay gắt. Các vùng màu tập trung như
Bãi ngang Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Cửa Lò thiếu công trình dẫn nước
tưới. Một vài vùng đã có kênh dẫn tạo nguồn đi qua nhưng chưa phát huy tác dụng,
nguyên nhân là do vừa thiếu hệ thống kênh mặt ruộng vừa chưa có biện pháp tưới
thuyết phục.
Hiện nay hệ thống tưới tự chảy là 14.038 ha 133 trạm bơm lấy nước hệ thống và
nước ngọt hoá sông Bùng kênh nhà Lê, trạm bơm Văn Tràng, 29 trạm lấy nước
Khe Khuôn tưới 11.062 ha, đưa tổng diện tích vùng hệ thống được tưới 25.100 ha,
diện tích tăng hơn trước khôi phục là 3.000 ha.
Hiện tượng thay đổi dòng chảy, tạo bãi bồi Thượng đập Đô Lương ảnh hưởng đến
khả năng lấy nước vào hệ thống.
- Hệ thống thủy lợi Nam - Hưng – Nghi:
13
Hệ thống Nam - Hưng - Nghi được đầu tư khôi phục và nâng cấp bằng vốn vay
ngân hàng thế giới WB đã sửa chữa khôi phục lại các công trình chính: cống Nam
Đàn, cống Bến Thuỷ, nạo vét hệ thống kênh dẫn, tu sửa phần cơ điện đầu mối 30
trạm bơm và kênh dẫn. Làm thêm cống Nghi Quang tạo thành hệ thống ngọt hoá
sông Bùng, sông Cấm góp phần giải quyết cấp nước cho 192 trạm bơm tưới vùng
lúa nước tương đối ổn định 14.000 ha.
Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, hiện tại hệ thống Nam - Hưng - Nghi còn
một số tồn tại sau:
+ Còn 26.729 m kênh chính các trạm bơm chưa kiên cố nên việc dẫn nước tưới
còn gặp hạn chế.
+ Các hồ nhỏ, nhiều hồ đập tràn chưa được gia cố, cống hư hỏng không kín nước
vừa không an toàn, vừa lãng phí nước.
+ Đập dâng: toàn tỉnh có 339 đập dâng tưới cho 5.990 ha hầu hết là ở các huyện
miền núi. Trong 5 năm qua phần lớn các đập này đã được sửa chữa nâng cấp và
một số làm mới nhưng nhìn chung chất lượng còn tốt.
+ Các trạm bơm lấy nước ven sông: vùng đồng bằng có 81 trạm tưới cho 5030 ha,
vùng miền núi có 140 trạm tưới 8803 ha. Các trạm bơm hiện nay còn một số tồn
tại sau:
Do thay đổi dòng sông, một số trạm bơm không hoạt động được như trạm bơm
Nghĩa Hoàn, Thuận Sơn, một số trạm hoạt động khó khăn nhất là những năm kiệt
nước như trạm bơm Lam Sơn, Trung Sơn, Hưng Xuân…
Một số trạm bơm chưa có hiệu quả như trạm Làng Rào, Đồng Cốc, Cây Khế.
Công trình tiêu:
Song song với việc giải quyết nước, tỉnh ta đã được đầu tư xây dựng một số công
trình tiêu lớn và đã đạt được hiệu quả như sau:
15
- Hệ thống tiêu úng Diễn Châu, Yên Thành (sông Bùng) tiêu 739 km2, trong đó
32.000 ha đất nông nghiệp bao gồm 3 kênh tiêu lớn: Sông Bùng, Vách Bắc, kênh
Diễn Hoa có các cống ngăn mặn, giữ ngọt tiêu lũ và hệ thống đê sông dài 59, 26
km đã giải quyết tiêu ổn định cho 25.000 ha cây lúa Đông xuân, Hè thu.
- Hệ thống tưới tiêu kết hợp Nam - Hưng - Nghi bao gồm gần 170 km kênh chính,
các cống ngăn mặn giữ ngọt tiêu úng Bến Thủy, Nghi Quang giải quyết tiêu cho
643 km, trong đó có 32.000 ha đất nông nghiệp, giải quyết tiêu ổn định cho 16.000
ha diện tích cây lúa đông xuân và hè thu.
- Một số vùng tiêu khác như Bắc Diễn Châu, Quỳnh Lưu và Đô Lương, Thanh
Chương giải quyết tiêu cho 36.000 ha đất nông nghiệp trong đó có 10.000 ha lúa
đông xuân và hè thu vùng thấp.
2,6 m (đoạn Cẩm Thái K16 K90+744). Mặt đê đã được cứng hoá 10 km (đoạn
Hưng Lợi K80)
- Cơ đê đảm bảo đủ rộng và đạt cao trình (tương đương mức báo động III) đã được
rải nhựa 40,25 km, còn 39 km.
Hiện nay đoạn từ cống Rào Đừng đến Nam Đàn đang được thi công đường du lịch
ven sông Lam kết hợp đi theo đê. Từ cống Rào Đừng đến cống Bến Thuỷ đường đi
trên mặt đê, từ cống Bến Thuỷ đến Nam Đàn đường đi theo cơ đê, mặt đường rộng
11 m được láng nhựa, các công trình qua đê được làm lại hoặc nâng cấp mở rộng.
- Phía sông có 16 hệ thống kè lát mái dài 9.900 m, 45 mỏ hàn bảo vệ bờ các đoạn
xung yếu đã phát huy lái dòng chảy có hiệu quả. Tuy nhiên do biến đổi của dòng
chảy lớn, một số vị trí kè bị xói như Phượng Kỷ, Cẩm Thái, Hồng Ong, Hưng
Xuân, Hưng Lam. Mùa lụt 2005 một số đoạn đê bị nứt dọc như đoạn Cẩm Thái,
Hưng Châu.
- Có 40 cống dưới đê, nhìn chung chất lượng còn tốt, một số cống bị hỏng như
cống Hưng Xuân 1, cống Rào Đừng 1, Rào Đừng 2 đang được làm lại.
Các tuyến đê cấp IV:
17
Tuyến đê cấp IV nằm ở 2 phía tả hữu sông Lam, với tổng chiều dài 74,6 km, bảo
vệ cho 18.152 ha, 212.000 người dân. Nhiệm vụ các tuyến đê này bảo vệ sản xuất
vụ đông xuân và vụ hè thu với mức chống lũ báo động II, khi lũ cao đây là vùng
chặn lũ.
- Đô Lương có đê Nam Bắc Đặng dài 7 km, Thanh Chương có 7 tuyến đê dài
47,01 km, Nam Đàn có 3 tuyến dài 23, 32 km. Các tuyến đê Nam Bắc Đặng, đê
Nam Trung, đê Năm Nam đã đắp ngang cao trình báo động III, thực tế cao hơn cao
trình yêu cầu, đê đắp chất lượng tương đối tốt, tuy nhiên các công trình bảo vệ đê
chưa đầy đủ, chưa chủ động cho lũ tràn vào và tháo nước ra sau lũ.
- Các tuyến đê Tả Lam Lương – Yên – Khai, Nam Thái được đầu tư bằng nguồn
- Vùng Diễn - Yên - Quỳnh 59, 26 km đã được nâng cấp một số tuyến phía tả sông
như đê Long Thành, Nhân Thành, Diễn Nguyên, Diễn Quảng, đê sông Dinh, đang
được nâng cấp đê Khánh Thành. Còn lại phần lớn các tuyến đê sông Bùng, đê
nhánh bờ hữu sông Bùng chưa được nâng cấp.
- Vùng Nam - Hưng - Nghi có 69, 24 km dọc kênh Thấp sông Vinh, Hoàng Cần,
kênh Gai sông Cấm, một số tuy hạ lưu sông Cấm như Nghi Quang, Nghi Yên,
Nghi Tiến được nâng cấp theo dự án 4617, nhưng đã bị xuống cấp, các tuyến
thượng lưu sông Cấm mới hình thành đê thấp, mặt cắt nhỏ. Riêng tuyến đê kênh
Thấp – sông Vinh (Hưng Nguyên) đang được đầu tư nâng cấp theo dự án đến 2007
hoàn thành.
Một số tồn tại lớn.
- Chưa có quy hoạch tổng thể hệ thống đê toàn tỉnh để làm cơ sở thực hiện hàng
năm.
- Các tuyến đê địa phương chưa có cơ chế tổ chức quản lý chuyên trách nên không
được theo dõi, cập nhật diễn biến hư hỏng và không được duy tu, bảo dưỡng
thường xuyên, vì vậy công trình xây dựng mau xuống cấp.
19