LUẬN VĂN Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái - Pdf 54

67

Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái
Luận văn thạc sĩ văn học
Người viết: Nguyễn Thị Huế
Lớp cao học Văn học Việt Nam khóa I (2010-2012)
Người hướng dẫn: TS Hỏa Diệu Thúy
Đại học Hồng Đức, Thanh Hóa

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thuộc thế hệ các nhà văn thời hậu chiến, khi Hồ Anh Thái tạo được ấn
tượng thì trên văn đàn Việt Nam đã xuất hiện những cái tên lừng lững: Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, và sau này là Nguyễn Huy
Thiệp, Phạm Thị Hoài v.v… Song, giống như trong một cuộc thi chạy việt dã,
người xuất phát trước chưa hẳn đã là người cán đích. Trong hành trình đổi mới văn
học Việt Nam sau 1975, cái đích vẫn còn ở phía trước, nhưng có cây bút dường
như đã tạm bằng lòng, thậm chí có người đã "giã từ vũ khí", hoặc "rời cuộc chơi".
Theo quan sát của chúng tôi, trong số không nhiều cây bút càng viết càng tỏ ra
trường sức và lôi cuốn, Hồ Anh Thái nổi lên như là một đại diện tiêu biểu. Truyện
của Hồ Anh Thái thu hút độc giả bởi vốn sống và vốn văn hóa lịch lãm của một
nhà ngoại giao, sự tinh nhạy và sắc bén trong tiếp cận và nắm bắt hiện thực của
một nhà báo, sự thâm trầm sâu sắc của một tiến sĩ Đông phương học và hơn cả là
một trái tim yêu thương cuộc sống, con người cùng với một tình yêu văn chương
đến đam mê.
1.2. Hồ Anh Thái thành công ở cả tiểu thuyết và truyện ngắn. Nhưng ở đề tài
này, chúng tôi chọn khảo sát truyện ngắn, thể loại đến sớm nhất và luôn đều đặn
xuất hiện trong hơn ba mươi năm cầm bút, thậm chí nhiều truyện ngắn đã trở thành
"vốn" cho những tiểu thuyết sau này của tác giả. Truyện ngắn của Hồ Anh Thái
được độc giả, dư luận quan tâm nhiều. Đã có nhiều bài viết và công trình nghiên

2. Lịch sử vấn đề
Với lối viết thông minh, trẻ trung của một nhà văn có tầm văn hóa, các tác
phẩm của Hồ Anh Thái ngay từ đầu đã có sức hấp dẫn đặc biệt, chứng tỏ khả năng
thu hút sự quan tâm, chú ý của đông đảo bạn đọc, của dư luận trong và ngoài nước.
Số lượng bài viết, công trình nghiên cứu về tác phẩm của Hồ Anh Thái khá nhiều.
Chỉ kể riêng các bài viết, lời giới thiệu của các nhà xuất bản, của giới nghiên cứu,
đồng nghiệp... theo thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi đã lên tới khoảng trên 100
bài. Thêm nữa, trong vòng khoảng 7, 8 năm trở lại đây, các tác phẩm của Hồ Anh
Thái khi đã được công chúng thẩm định, thực sự đã trở thành nguồn đề tài, đối
tượng nghiên cứu của nhiều công trình khoa học. Đến nay, đã có trên 20 luận văn
thạc sĩ và khóa luận tốt nghiệp đại học nghiên cứu về sáng tác của nhà văn này.
Các bài viết, các công trình nghiên cứu đã tìm hiểu, thẩm định giá trị văn
chương Hồ Anh Thái trên hầu hết các phương diện từ nội dung, tư tưởng tới hình
thức nghệ thuật với những cách tiếp cận, kiến giải khác nhau, song nhìn chung đều
đồng tình ghi nhận năng lực tư duy và khả năng sáng tạo nghệ thuật của nhà văn,
thống nhất khẳng định Hồ Anh Thái là cây bút đa phong cách, "có cố gắng tìm tòi
một lối đi riêng trong phương pháp tiếp cận và phản ánh hiện thực" [98].
2


Hồ Anh Thái chủ yếu viết truyện ngắn và tiểu thuyết. Hai mảng thể loại chủ
lực này của tác giả cũng khó cân đo tầm vóc, giá trị, thành công. Mỗi thể loại với
Hồ Anh Thái có một thế mạnh riêng. Trần Thị Hải Vân cho rằng: "Tiểu thuyết là
phần quan trọng nhất trong sáng tác của Hồ Anh Thái, thể hiện sức bút mạnh mẽ
của anh" [91]. Trong khi đó, Điêu Thị Tú Uyên lại khẳng định: truyện ngắn của Hồ
Anh Thái mới là mảng thành công hơn cả. Nó tập trung thể hiện sâu đậm tư tưởng,
chủ đề, giọng điệu của nhà văn. Và "... người ta thấy ở đây những yếu tố mới lạ,
hấp dẫn từ nội dung, tư tưởng đến các thủ pháp nghệ thuật" [91].
Theo chúng tôi, bài viết và công trình nghiên cứu về truyện ngắn của Hồ
Anh Thái có thể tập hợp theo hai hướng cơ bản như sau:

Trong khi phần lớn các tác giả đánh giá về nội dung, về chiều sâu văn hóa và
cách nhìn hiện thực của nhà văn trong tập truyện thì Nguyễn Đăng Điệp cho rằng:
3


về mặt nghệ thuật, "sức hút của văn phong Hồ Anh Thái còn nằm ở chỗ anh biết
phủ lên thế giới nghệ thuật của mình những màu sắc tượng trưng, siêu thực và gắn
với nó là khả năng tổ chức những kiểu, những giọng điệu khác nhau" với cách
phản ánh "vượt qua lối miêu tả hiện thực giản đơn, tạo nhiều biểu tượng, ẩn dụ
nghệ thuật giàu sức gợi..." [70; tr 323].
Cũng cần nhắc đến đánh giá của nhà văn Mỹ W. Ehrhart trong lời giới thiệu
cho bản in tiếng Anh Tiếng thở dài qua rừng kim tước: "Các tác phẩm... hướng
những độc giả nghĩ cả vào chiều sâu văn hóa, văn học và cả xã hội Việt Nam. Đây
là cuốn sách giá trị và đáng thưởng thức của một nhà văn xuất sắc thuộc thế hệ
sau chiến tranh Việt Nam" [70; tr 342].
Tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày lại là một góc nhìn khác của Hồ Anh Thái
về hiện thực. Dễ dàng nhìn thấy sự thay đổi giọng văn của tác giả khác hoàn toàn
với thời kỳ đầu: trào lộng, châm biếm, hóm hỉnh và sắc sảo. Theo Ngô Thị Kim
Cúc, 11 truyện ngắn "đều phác vẽ những chân dung trí thức, kẻ sĩ của thời đại
bằng giọng cười xót đau của một Hồ Anh Thái tinh quái đến suồng sã khi vẽ nên
một tập hợp chân dung kiểu như thế, khi bắt người đọc phải cười đau như thế!"
[71; tr 233]. Và với Hoàng Lan Anh: "Đó là những bức chân dung đáng được đọc
và suy nghĩ" [71; tr 236]. Còn Vũ Bão thì tâm đắc với "lối vẽ" của Hồ Anh Thái:
"không phải vẽ truyền thần mà dùng ngòi bút sắc sảo dựng lên những chân dung
công chức với đầy đủ mảng sáng tối", rằng: nhà văn đã "dùng mũi kim vừa "châm"
vừa "cứu" đúng huyệt tính cách giới công chức" [71; tr 243-244].
Các bài phỏng vấn của Lê Hồng Lâm (Báo Sinh viên 9/2001) và Nguyễn Thị
Minh Thái (Báo Thể thao và Văn hóa 3/2005) đều cho thấy quan điểm thống nhất
của Hồ Anh Thái về phong cách "phong cách không phải là cái vỏ ngoài bất biến
và ngoan cố", quan điểm này đã lý giải cho sự thay đổi phong cách của Hồ Anh

tốt nghiệp, báo cáo khoa học. Điều này chứng tỏ sáng tác của Hồ Anh Thái đã tạo
dựng được một chiều sâu trong tư tưởng và phong cách, không chỉ dày dặn về số
lượng mà còn hấp dẫn bởi chất lượng nghệ thuật. Hướng nghiên cứu này có hai
dạng:
Thứ nhất, nghiên cứu bao quát toàn bộ tác phẩm của Hồ Anh Thái
Trong số các bài viết chuyên sâu, nổi bật hơn cả là bài viết của Nguyễn Đăng
Điệp - Hồ Anh Thái, người mê chơi cấu trúc [77; tr 355-372] với những nhận định
khái quát và xác đáng. Tác giả đã khảo sát cách chơi cấu trúc của Hồ Anh Thái ở cả
truyện ngắn và tiểu thuyết. Ngoài ra, còn có thể kể đến các bài nghiên cứu của Hoài
Nam (Hồ Anh Thái - người lúc nào cũng viết), của Anh Chi (Hiện tượng văn
chương Hồ Anh Thái), bài viết của Lê Hồng Lâm, Hoàng Lan Anh [77; tr 245256]... trên các báo với những đánh giá, nhận xét chung về phong cách, về những
đóng góp cũng như hành trình sáng tạo của nhà văn này...
Thứ hai là dạng nghiên cứu một vấn đề trên phương diện thể loại
Ngoài những bài viết của giới nghiên cứu, tác phẩm của Hồ Anh Thái cũng
thu hút sự quan tâm tìm hiểu của sinh viên, học viên cao học khi thực hiện khóa
luận, luận văn thạc sĩ. Truyện của Hồ Anh Thái đã được nghiên cứu ở một số
phương diện như: quan niệm nghệ thuật về con người, thế giới nhân vật, tiếng
cười, người kể chuyện không đáng tin cậy, kết cấu, nghệ thuật trần thuật v.v... (xin
xem cụ thể ở mục Tài liệu tham khảo).
* Riêng về vấn đề Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái đã
có những ý kiến như sau:
Nguyễn Đăng Điệp đánh giá: "Chiều sâu trong cái nhìn hiện thực của Hồ
Anh Thái trước hết thể hiện ở chỗ anh biết vượt qua những lối mòn của tư duy coi
văn học như là tấm gương phản ánh hiện thực một cách đơn giản... Đó không phải
là thứ hiện thực "dẹt", "phẳng" mà góc cạnh, nhiều chiều". Theo Nguyễn Đăng
Điệp, Hồ Anh Thái bao giờ cũng tạo được cái nhìn riêng về thế giới và như đã nói
ở trên: độ sắc trong những trang viết của Hồ Anh Thái lộ ra ở chỗ anh "dám nhìn
thẳng vào những mảnh vỡ, những bi kịch nhân sinh, mổ xẻ nó bằng cái nhìn trung
thực, táo bạo". Quan trọng hơn, "phía sau những bi kịch nhân sinh, nhà văn không
mất đi niềm hy vọng vào con người" [77; tr 356-358].

ý kiến nhận xét, đánh giá về Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái
mới chỉ dừng lại dưới dạng một bài viết, hoặc là một vài ghi nhận còn sơ lược, lẻ tẻ
(nằm trong luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đại học, báo cáo khoa học...),
chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu và có tính hệ thống,
toàn diện về vấn đề này. Chúng tôi xem đó là mảnh đất còn để ngỏ hứa hẹn những
khám phá mới nhằm góp phần tìm hiểu về một cây bút có nhiều cống hiến vào việc
thúc đẩy sự phát triển của nền văn học Việt Nam đương đại.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
''Mọi sản phẩm nghệ thuật đều là một thế giới riêng, mà khi đi vào đó ta
buộc phải sống theo các quy luật của nó, hít thở không khí của nó'' [62; tr 29]. Và
theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi
chủ biên, NXB Giáo Dục, 2000): ''Thế giới nghệ thuật là một thế giới riêng được
sáng tạo theo các nguyên tắc tư tưởng, thẩm mỹ, có không gian riêng, thời gian
riêng, có quy luật tâm lý riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang
6


bậc giá trị riêng". Mỗi thế giới nghệ thuật ''ứng với một quan niệm về thế giới, một
cách cắt nghĩa về thế giới''. Thế giới nghệ thuật giúp ta ''hình dung tính độc đáo về
tư duy nghệ thuật của sáng tác nghệ thuật, có cội nguồn trong thế giới quan, văn
hóa chung, văn hóa nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nghệ sĩ'' [19; tr 302-303].
Từ quan niệm trên, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn là
"thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái".
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát tất cả truyện ngắn của
Hồ Anh Thái, chủ yếu tập trung trong các tập truyện tiêu biểu sau:
- Mảnh vỡ của đàn ông, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, tái bản năm 2006.
- Tiếng thở dài qua rừng kim tước, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2003.
- Tự sự 265 ngày, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005.

sánh với tiểu thuyết (của Hồ Anh Thái) để thấy được sự vận động của hành trình
sáng tạo cũng như những biến đổi trong phong cách của nhà văn. Ngoài ra, cũng
cần so sánh truyện ngắn của tác giả này với truyện ngắn trước 1975 để thấy sự kế
thừa và phát triển; so sánh với một số cây bút truyện ngắn đương đại tiêu biểu
nhằm chỉ ra những sáng tạo, nét độc đáo của thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn
Hồ Anh Thái.
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Nghiên cứu toàn bộ truyện ngắn của Hồ
Anh Thái với quan niệm thế giới nghệ thuật là sự tổng hòa của nhiều yếu tố, nhiều
phương diện và mỗi phương diện lại là một tiểu hệ thống bao gồm những biểu hiện
cụ thể. Ý nghĩa của phương pháp này là giúp người viết đưa ra được cái nhìn, cách
đánh giá toàn diện cho vấn đề nghiên cứu.
- Phối hợp các phương pháp: Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết
còn sử dụng phối hợp các phương pháp (cũng được xem là thao tác) quen thuộc
như: khảo sát, thống kê, phân tích - tổng hợp, đánh giá - khái quát, thống kê, phân
loại... cho việc xây dựng các luận điểm, luận cứ nhằm đi sâu tìm hiểu các phương
diện khác nhau của thế giới nghệ thuật truyện ngắn Hồ Anh Thái, đồng thời có sự
tổng hợp, khái quát hóa để đi đến những nhận xét tổng thể.
6. Đóng góp của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu một cách hệ thống những phương diện cơ bản
của thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái. Từ đó, chúng tôi mong
muốn góp phần khẳng định những đóng góp của nhà văn trong lĩnh vực truyện
ngắn của văn xuôi Việt Nam đương đại.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được triển khai thành ba chương:
- Chương 1. Bức tranh hiện thực trong truyện ngắn Hồ Anh Thái
- Chương 2. Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái
- Chương 3. Một số phương thức tổ chức thế giới nghệ thuật

8

Hiện thực trong trang viết của Hồ Anh Thái - đó chính là sự hình dung về
thế giới của nhà văn đã được hình tượng hóa mang đậm dấu ấn của thời gian trong
từng chặng đường cụ thể. Đó là cuộc sống của lớp thanh niên, học sinh, sinh viên
thời hậu chiến trước ngưỡng cửa cuộc đời; là những mảng khuất tối trong đời sống
công chức, thị dân thời "mở cửa" và cả những chuyện bi hài của môi trường văn
hóa, nghệ thuật; là những vấn đề phổ quát của đời sống nói chung... Hiện thực đó

9


được soi chiếu từ những góc nhìn và cảm quan khác nhau vừa hiện thực vừa ít
nhiều lãng mạn, trữ tình, triết lý và sau này là hí lộng.
1.1. Góc nhìn riêng về cuộc sống của lớp người trẻ tuổi thời hậu chiến
1.1.1. Từ môi trường sống của lớp trẻ thời hậu chiến...
Hồ Anh Thái từng nói: "Có lẽ chính là hoàn cảnh đã chọn đề tài cho tôi,
sống đâu quen đấy. Không thể gọi là đã hiểu, nhưng có thể nói tôi thuộc môi
trường sống của mình" [94]. Vì lẽ đó mà dấu ấn cuộc đời in đậm trên từng trang
viết của nhà văn. Lần tìm trong sáng tác của Hồ Anh Thái, người đọc dễ nhận ra
những bối cảnh, môi trường sống mà bản thân nhà văn đã trải: từ cuộc sống sinh
viên đến đời sống công chức và công việc của một nhà ngoại giao sau này. Khởi
nghiệp văn chương từ khi còn rất trẻ, mười bảy tuổi, cây bút này đã có truyện ngắn
đầu tay. Sáng tác của Hồ Anh Thái ở thời kỳ đầu hé mở ít nhiều về cuộc sống tuổi
trẻ thời hậu chiến trong học đường, xí nghiệp, nhà máy, công trường, quân đội...
Trong đó, nổi lên hai môi trường chủ yếu mà nhà văn thông thuộc: học đường và
quân đội. Hồ Anh Thái từng là sinh viên đại học Ngoại giao, từng đi lính. Nhà văn
trải nghiệm ở những môi trường sống này nhiều mối quan hệ của con người với
bạn bè, người thân, với công việc, nghề nghiệp, tình yêu và cả những điều thường
nhật nhất... Trong Lời giới thiệu tập truyện ngắn Mảnh vỡ của đàn ông, Ma Văn
Kháng cho rằng: "những trang viết của tác giả đã thổi vào nền văn học lúc này
một luồng gió tươi mới. Đó là những câu chuyện viết về lớp thanh niên đầy chất

phá hiện thực mới mẻ cho truyện ngắn thời hậu chiến. Những trang viết tươi tắn,
hồn nhiên của một cây bút trẻ cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề đã mang lại cho người
đọc nhiều cảm nhận thú vị. Nó như một luồng gió mát lành khác lạ thổi vào đời
sống văn học lúc này. Và điều chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là: Hồ Anh Thái
có góc nhìn riêng của người trong cuộc với những trải nghiệm thực sự của đời học
sinh, đời lính để có thể thấu hiểu tường tận đối tượng phản ánh cũng như hiện thực

11


cuộc sống của một thế hệ. Từ đó, dự báo về khả năng vươn xa của nhà văn trong
hành trình sáng tạo sau này.
1.1.2. ... đến những băn khoăn, khát vọng và niềm tin của tuổi trẻ trước
cuộc đời
Cảm quan lãng mạn của tuổi trẻ chưa cho phép truyện ngắn Hồ Anh Thái
thật sự đi sâu phản ánh trực tiếp những vấn đề nổi cộm của hiện thực lúc này. Cái
nhìn hiện thực của nhà văn "trưởng thành" hơn trong các tiểu thuyết. Dù vậy, ta
vẫn thấy ở đây sự đằm lắng bởi những băn khoăn của tuổi trẻ trước ngưỡng cửa
của cuộc đời. Đó là sự kiếm tìm, xác lập những thang bảng giá trị mới của tuổi trẻ
nói riêng và của con người trong cuộc sống thời hậu chiến nói chung. Điều này
được thể hiện một cách sâu lắng đẹp đẽ trong cuốn tiểu thuyết giàu chất thơ, chất
lý tưởng Người và xe chạy dưới ánh trăng và sau đó là Trong sương hồng hiện ra,
Người đàn bà trên đảo. Trước những thời điểm có tính chất bước ngoặt của cuộc
đời, người ta thường suy tư để lựa chọn hướng đi đúng hay khao khát hoàn thiện
bản thân. Cấu tứ ấy đã trở nên quen thuộc, xuyên suốt các truyện ngắn trong tập
Mảnh vỡ của đàn ông, Những cuộc kiếm tìm, Chàng trai ở bến đợi xe, Đi về phía
mưa...
Những băn khoăn đó là gì? Là câu hỏi về sự lựa chọn giữa hai cách sống:
ngại khó nên chờ ăn sẵn như Khải; hay xông xáo, quyết tâm, không sợ gian khổ
như Hoàn? (Chàng trai ở bến đợi xe). Là sự kiếm tìm tình yêu theo kiểu gặp chăng

khiến trái tim chàng trai xao xuyến? Và sự động viên của người bạn gái hẳn sẽ
giúp Tứ - người vốn nặng lòng với quá khứ - xóa đi mọi đau buồn, tiếc nuối để đón
chào những điều tốt đẹp đến với mình (Đi về phía mưa).
Kỷ niệm về tình yêu đẹp trong chiến tranh còn được nhắc lại trong truyện
ngắn Mảnh vỡ của đàn ông. Châu và Tĩnh yêu nhau chỉ sau vài bận cùng đi làm
nhiệm vụ. Khi họ ở giữa khoảng lặng của hai trận bom: "Phút giây thần tiên bất
ngờ đến - không còn ai nghe tiếng bom rơi đạn nổ nữa, chỉ còn một dòng suối thao
thiết chảy, có hoa thơm cỏ lạ và ngào ngạt hương rừng" [69; tr 75]. Nhưng chiến
tranh đã làm ly tán họ. Bảo - đứa con trai, kết quả của tình yêu ấy giờ đã trưởng
thành đủ để nhận thức được trách nhiệm của mình trước tổ ấm gia đình, biết hàn
gắn cho những buồn đau của mẹ, của người thân. Anh cảm thấy mình có lý khi đến
với Duyên bằng trách nhiệm, bằng tình thương, muốn bù đắp cho cô khỏi những
thiệt thòi. Bảo đã không dám chắc chắn cho lòng chung thủy của mình dù không
bao giờ dám nghĩ đến chuyện chia ly.
Cánh võng không người là câu chuyện tình yêu đượm buồn. Chính đã cảm
mến Hảo, người con gái hơn mình tới năm, sáu tuổi. Có lẽ vì lây cái ước mơ của
Hảo mà anh cũng theo học ngoại ngữ và họ đã gặp nhau, học cùng nhau dưới một
giảng đường. Chính đã dành cho Hảo một tình cảm vô cùng trong sáng và thánh
thiện. Người con gái ấy mang vẻ đẹp đôn hậu, dịu dàng nhưng lại đến trong cuộc
đời anh như một ảo ảnh. Sự ra đi lặng lẽ của Hảo là một mất mát không gì lấy lại
được. Những bài thơ anh viết sau đó như nhỏ ra từ mấy đầu ngón tay bị đâm cho
chảy máu - và anh biết mình đã thực sự có được cái gì.
Có tình yêu đẹp đẽ, sáng trong là có một tình cảm đầy ý nghĩa, mang tinh
thần đắp vun, xây dựng và cả sức mạnh của một niềm tin vững vàng. Mang theo
tình yêu ấy đi vào đời, con người sẽ làm nên, sẽ tạo ra những điều tốt đẹp, kỳ diệu
và sẽ vươn xa hơn trong hành trình của cuộc sống sau này.
Bên cạnh những giá trị, ý nghĩa gắn với khát vọng về tình yêu, khát vọng
sống, truyện ngắn Hồ Anh Thái chặng đường đầu cũng thể hiện niềm tin, lòng lạc
quan hướng vào cuộc sống mới. Tinh thần lạc quan đầy ắp những trang viết của nhà
văn trẻ tuổi viết về tuổi trẻ. Không phải là không có những thất vọng trước những

của nhân dân, bảo vệ và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc vừa tiếp
thu tinh hoa văn hóa, tinh thần của nhân loại, sáng tạo nên những tác phẩm có giá
trị tư tưởng, nghệ thuật cao, có tác dụng to lớn trong việc xây dựng con người, cải
tạo xã hội, đồng thời lên án, phê phán không khoan nhượng những tiêu cực, xấu xa
đang cản trở sự phát triển của đất nước và con người. Đi cùng cuộc sống, nhà văn
phải là người có cái nhìn hiện thực sâu sắc, phát hiện ra những vấn đề nổi cộm, căn
bản, cốt lõi; mổ xẻ và hình dung nó bằng nghệ thuật; đồng thời dự báo về con
đường phía trước của hiện thực đó và đưa ra những lời cảnh tỉnh.
Trong khi phần nhiều tác giả lớp trước tập trung phản ánh những mặt lạc
hậu, lỗi thời của cơ chế cũ đã đem đến không ít bi hài kịch thì Hồ Anh Thái ở mảng
truyện ngắn những năm gần đây lại đi vào mổ xẻ những cái lố lăng, kệch cỡm của
con người trong cơ chế mới từ góc nhìn thế sự, đạo đức về xã hội hiện thời... Xu
hướng phản ánh mặt tiêu cực của đời sống như một nhu cầu chung được đặt ra
mạnh mẽ trong sáng tác của nhiều cây bút xông xáo, trong đó Nguyễn Huy Thiệp
là một đại diện tiêu biểu. Với Hồ Anh Thái, những hiện thực mặt trái được nhà văn
đề cập là mảnh đất riêng chưa được chú ý khai thác nhiều hoặc chưa để lại ấn
tượng. Là người nhập cuộc, có tư tưởng cấp tiến, Hồ Anh Thái tỏ ra thông thuộc
những vỉa tầng, những mảng nổi, mạch chìm của đời sống công chức, thị dân hiện
đại. Không hướng về những truyện ngắn giả lịch sử, tìm về những bài học nông
thôn hay huyền thoại phố phường kiểu Nguyễn Huy Thiệp hoặc đặt ra một cách
riết róng những vấn đề về một thế giới vô nghĩa và cả vô hồn kiểu Phạm Thị Hoài,
14


Hồ Anh Thái tái hiện một cách sinh động và chân thực những mảng tối, những góc
khuất của đời sống thị dân, công chức cùng những thảm trạng trong đời sống văn
hóa, nghệ thuật thời "mở cửa". Đây hẳn là mảng hiện thực làm nên thế mạnh của
ngòi bút Hồ Anh Thái, mang lại ấn tượng sâu đậm khó quên với độc giả. Tất cả
được tập hợp trong ba tập truyện ngắn tiêu biểu gần đây: Tự sự 265 ngày, Bốn lối
vào nhà cười, Sắp đặt và Diễn...

một "cấu trúc liền mạch về đời sống công chức..., ngay cả trong những chuyến đi
nghỉ mát ra các bãi tắm thì đời sống công chức, sở thích công chức, những ước ao
cũng rất công chức vẫn đeo bám, không buông người ta ra" [71; tr 224]. Những
câu chuyện trong tập truyện mở ra một không gian nghệ thuật vừa quen thuộc, gần
gũi lại vừa mới mẻ, xa lạ: một phòng khách - nơi người ta học được nhiều mánh
15


lới, trải qua nhiều kỳ sát hạch để tiến những bước xa hơn trên con đường danh lợi;
một sứ quán với những trò đời trớ trêu không hiếm gặp; một viện nghiên cứu, một
công sở với những gương mặt nhàm chán, vô vị trở đi trở lại nhiều trong các
truyện ngắn. Đó không phải chỉ là những biểu tượng cho một cuộc sống nhiều tù
đọng, quẩn quanh kiểu "sống mòn" mà còn gợi một vẻ ngoài hào nhoáng, lịch sự
để hé mở những sự thật thấp kém bên trong của giới trí thức công sở. Đó là những
kẻ đang cố tìm cách chen chúc, cố lọt được vào phòng khách của một vị quyền thế
mong có cơ hội gặp giới ngoại giao để tạo đà cho một chuyến đi nước ngoài hoặc
tìm một cơ hội thăng tiến (Phòng khách). Việc đi nước ngoài, đặc biệt là đến nước
Mỹ đồng nghĩa đến với sự giàu sang, phú quý. Tư tưởng vọng ngoại nảy sinh từ
tâm lý hy vọng đổi đời ở một miền đất khác tổ quốc mình (Tờ khai visa, Vẫn tin
vào chuyện thần tiên...) Vì tham vọng đó mà không ít kẻ "chiến thắng" cố kiên
nhẫn khai đủ ba mươi lăm điều trong tờ khai visa, kể cả việc dẹp đi cái máu Đại Cồ
Việt để đến một nước "chiến bại". Cuộc sống nhàn nhã, tẻ nhạt văn phòng khiến
những công sở vốn thiếu công trình nghiên cứu lại thừa những chuyện tiếu lâm
hiện đại (Chim anh chim em, Bóng ma trên hành lang...).
Theo Nguyễn Chí Hoan: "Mỗi truyện ngắn (của Hồ Anh Thái) đều bày ra
một bối cảnh, phông màn khác nhau nhưng tấn bi kịch của cuộc đời gần như chỉ
một. Đây là mặt trái của một lớp thị dân hiện đại" [71; tr 250]. Nhà văn quả là
người có con mắt tinh tường trong việc nắm bắt những vấn đề nhạy cảm của đời
sống công sở và cũng thật thâm sâu khi dựng lên những chân dung trí thức. Đó là
những vị giáo sư văn chuyên phân tích xác ướp và những vị giáo sư sử học luôn

hiểu của người trong cuộc. Cùng với những tác giả khác như: Ma Văn Kháng,
Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Thân... dù chưa đủ tạo nên một vệt đậm cho đề
tài nói trên, song Hồ Anh Thái cũng đã thể hiện một cách nghiêm túc tinh thần tự
nhận thức về giới mình với một mối hoài nghi lành mạnh về vai trò dẫn dắt xã hội
của trí thức trong một điều kiện xã hội có nhiều ưu việt hơn. Không đi vào bi kịch
sống mòn, lạc thời, quẫn bách của trí thức, điều nhà văn quan tâm hơn chính là
những mặt trái của đời sống công chức cùng những thói tật không đáng có ở những
kẻ này. Từ đó, rung lên những hồi chuông cảnh tỉnh đối với con người, trong đó có
cả bản thân mình (xem thêm mục 2.3.1 chương 2).
Bên cạnh đó, diện mạo văn phòng, công sở trong Tự sự 265 ngày cũng đầy
sự lem nhem, nhếch nhác. Đám công chức buổi sáng đi như cướp đường đến công
sở chỉ để dềnh dàng buôn dưa lê. Đám viện sĩ mỗi tháng đến viện có khi chỉ được
bốn ngày. Đề tài năm nay chưa có thì sang năm, không có cũng chẳng chết ai, thiếu
đề tài một năm chẳng lo bằng thiếu gạo ăn vài ngày. Văn phòng thì tổ chức đủ các
loại văn hóa ăn trưa, văn hóa khao, văn hóa chiêu đãi mà nếu ai không góp mặt thì
bị coi như một tính cách "phản xã hội" (Chạy quanh công viên mất một tháng).
Vậy mà chả ai ưa ai, chả ai phục ai. Có mặt vợ khen chồng, có mặt chồng khen vợ,
vắng mặt họ thì nói xấu cả hai, chỉ chê bai, bôi bác sau lưng, trước mặt thì cười
nói bắt tay ca mừng...
Trong khi phác vẽ những nét thô lậu của giới công chức, Hồ Anh Thái còn
cho người đọc thấy điều đáng sợ hơn cả là sự tha hóa, vô độ, những biểu hiện lệch
chuẩn của trí thức, trong đó có quan chức (Lũ con hoang, Chim anh chim em, Cả
một dây theo nhau đi...). Không hiếm gặp những chuyện về sự tham nhũng, sa đọa
ở những kẻ có quyền và có tiền. (Điều này sẽ được nói kỹ hơn ở chương 2, mục
2.3). Cánh giàu xổi thì nổi lên nhờ những dự án xóa đói giảm nghèo của Phao, của
Xép, của Dipi, ôm một cục tiền về mua đất, xây nhà ở Hà Nội. Xếp trên, xếp dưới
bỗng chốc trở thành người Hà Nội, bảo nhau đi xây nhà mới. Cũng có kiểu phất
nhanh như vậy nhưng lại bằng những cách thức, con đường khác: buôn ma túy và
buôn đất (Cả một dây theo nhau đi).
Dù chỉ được đề cập ở một số tác phẩm, nhưng đời sống của giới trẻ thành thị

bướm dập dìu đi về. Đối tượng tán tỉnh bà là những ai? Một ông hưu trí về già, ra
khỏi cơ quan mới trở thành chiến sĩ đấu tranh cho công lý, lại còn thích làm thơ,
chuyên tra tấn người khác bằng việc xuất bản miệng cả tập thơ dài. Có ông thầy đã
sáu mươi chín tuổi mà khi hướng dẫn sinh viên làm khóa luận tay vẫn sờ mó, bốc
bải tưng bừng. Có ông lại lừa tình rằng mình giàu có. Lúc lấy nhau rồi mới làm
người ta ngã ngửa người ra vì thất vọng nhưng khi đó thì mọi sự đã rồi! (Cây
hoàng lan hóa thành cây si)...
Đi vào những mảng tối, góc khuất của đời sống thị dân sẽ gặp thêm nhiều
vấn đề nhức nhối (tương tự mảng hiện thực đầy tính thời sự được tác giả đề cập
trong Cõi người rung chuông tận thế: tệ nạn mua bán dâm, hối lộ, quyền lực xã hội
đen hoành hành, chuyện giải tỏa mặt bằng, chuyện kinh doanh nhà nghỉ, khách
sạn...). Một góc nhỏ Sài Gòn luôn sẵn những hộ nuôi gấu lấy mật: "Những con gấu
dáng vóc hùng dũng cao tới gần hai mét nhưng là thứ gấu mất mật bạc nhược bệnh
hoạn, những hảo hán rừng xanh sa cơ giờ bị nhốt trong chuồng sắt, cũng ăn cám
tồng tộc như lợn trong nhà". Nhân chuyện, tác giả hạ lời bình: "Độc ác là con
người, nghĩ ra các khái niệm nhân văn nhân đạo vị tha cũng là con người" (Chạy
quanh công viên mất một tháng). Chuyện nuôi gấu thì thậm thụt che giấu như tiệm
karaoke, tiệm cắt tóc thanh nữ giấu gái! Nhan nhản những dịch vụ nhà nghỉ, khách
sạn mở ra từ trung tâm thành phố đầy đủ tiện nghi cho đến những nhà nghỉ vùng
ven mà sự phục vụ luôn sẵn sàng, chí ít cũng đáp ứng được những nhu cầu cùng
tận, thỏa thuê của con người (điều này cũng được nói rất kỹ trong tiểu thuyết Mười
lẻ một đêm). Nếu có một phép màu xảy ra như chuyện chập điện chẳng hạn thì bao
18


nhiêu khách sạn, tường vách sẽ biến mất trơn chỉ còn những khách trọ và nhân
viên không áo quần, không tư trang, trần trụi, nồng nỗng co cụm lại như trong một
giáo phái mới khuyên con người từ bỏ mọi hình thức sở hữu, kể cả áo quần (Chạy
quanh công viên mất một tháng)... Có cả những chuyến du lịch của người thành
phố về nông thôn với con mắt "thẩm mỹ nhà quê chê miệt vườn": "Cái làng có hồ

(Tin thật lòng). Thơ thẩn trở thành thứ ám quẻ người ta. Thi nhân rặt một lũ đồng
thơ làm cho ai nấy cũng phải mệt mỏi, bơ phờ, lê lết theo. Xét kết nạp hội viên thì
theo kiểu lọt sàng xuống nia. Có chuyện đi cửa sau của những kẻ hám danh khá
nực cười. Đến cả cô tạp vụ vệ sinh cũng mon men xin kết nạp cho mình chỉ vì đã
có công giúp một nhà thơ có tiếng đi cấp cứu. Điều này đủ cho thấy cái giá của hội
viên như thế nào. Dịch thuật thì cho ra những câu thơ lãng mạn mà đọc lên nghe cứ
như nói chuyện đau bụng đi đồng ban đêm (Giấc mộng kê vàng sùng sục đồng
quê). Ngày hội thơ, cái cờ thơ được treo ngược, con cò bay lộn đầu xuống sân Văn
Miếu, lại thêm biểu ngữ thì viết sai chính tả đến mức không biết đây là liên hoan gỉ
gì, thế mà không một ai thắc mắc (Lọt sàng xuống nia). Tất cả không khác gì một
sự phản mỹ thuật, chửi văn hóa.
Còn như hội họa, điện ảnh, âm nhạc lại càng nhố nhăng. Nghệ thuật sắp đặt
thực ra là trò đánh đố (theo quan niệm càng rối rắm, lung tung càng kích thích sự
tò mò của công chúng). Tụ điểm triển lãm "tụ" rất nhanh mà "tan" cũng nhanh. Chỉ
cần một chiêu quảng cáo rằng có cái độc hơn là tất cả đột nhiên ùa hết ra cửa.
Trang phục của diễn viên thì lố lăng chẳng ăn nhập với nhau, càng không có chút
gì thể hiện bản sắc vùng miền. Có thứ hoa văn giao duyên các dân tộc, chẳng rõ
dân tộc nào ra dân tộc nào. Thời trang đã đi đến chỗ tận thiện tận mỹ là khỏa thân
rồi bôi màu che đậy mới chứng tỏ mình hết lòng, trần trụi vì nghệ thuật... Nghệ
thuật nhìn chung trở thành cái chợ, cái sòng bạc mà không ít kẻ tham gia chơi
những cuộc đỏ đen hoặc biến nó thành sân khấu hài kịch (Trại cá sấu, Tin thật
lòng...).

20


Bộ mặt văn hóa được phơi bày sắc nét dưới ngòi bút biếm họa của Hồ Anh
Thái. Cũng qua đó, nhà văn phác vẽ chân dung những kẻ mang danh nghệ sĩ nhưng
bất tài, vô dụng chỉ chạy theo đồng tiền và những thú vui xác thịt, vô trách nhiệm
với nghệ thuật, chà đạp lên những giá trị nghệ thuật chân chính, từ đó mang lại cho

thị dân với những màn bi hài thảm hại, những nhếch nhác, nhốn nháo cùng những
biến thái thô lậu, hổ lốn của thảm trạng nghệ thuật đương đại được phơi bày trên
trang viết của nhà văn. Tất cả gợi cho người đọc cảm giác: phong trào Âu hóa
trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng gần một thế kỷ trước như đang phục
sinh và có thêm những nét mới của thời hiện tại. Nó mang đến cho ta ấn tượng về
một sự đảo điên của đời sống gây nên nhiều bức xúc. Những hiện trạng nói trên
của đời sống cũng được khai thác, làm sáng tỏ thêm trong các tiểu thuyết Cõi
người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm, SBC là săn bắt chuột nhưng với một
sắc diện, một khả năng khám phá và khái quát mới của tiểu thuyết.
21


1.3. Những vấn đề phổ quát của tồn tại
1.3.1. Từ những bi kịch nhân sinh...
Từ sau 1986, giữa lúc đời sống văn học trong nước nóng lên cùng nhiều hiện
tượng văn học nổi bật và dòng chảy thời sự văn học đang bộn bề, ngổn ngang với
bao vấn đề của thời kỳ đổi mới và hội nhập, Hồ Anh Thái lặng lẽ, âm thầm viết rồi
sau đó trình làng các sáng tác văn chương mở rộng những đường biên giới văn hóa.
Một hướng đi mới của sự hội nhập chăng? Anh không nói lại những điều mà đồng
nghiệp của mình đã nói như: những ràng níu của căn tính, cơ chế cũ; sự băng hoại
của những giá trị truyền thống; sự lên ngôi của lối sống thực dụng và những chống
đỡ chật vật của lương tri con người; sự thiết lập và định hình những tiêu chuẩn, giá
trị mới... nhưng những vấn đề nhức nhối của đời sống nhân sinh vẫn cứ hiển hiện
sau mỗi dòng chữ, trên từng trang viết.
Tìm về cuộc sống và con người Ấn Độ - mảnh đất còn xa lạ với người đọc
trong thời điểm này không phải là sự "lạ hóa" văn chương, một kiểu làm khác
người của kẻ thích đi chệch "đường ray" của lịch sử văn học dân tộc. Lợi thế của
người làm công việc ngoại giao (Hồ Anh Thái có sáu năm làm việc tại Ấn Độ),
niềm đam mê kiếm tìm bản sắc văn hóa, con người và cuộc sống Ấn Độ không
phải là điều cốt lõi làm nên giá trị căn bản cho sáng tác của Hồ Anh Thái. Dù anh

chứng. Dưới ngòi bút của Hồ Anh Thái, "những chân dung Ấn Độ hiện lên sắc nét
và gần gũi khiến ta ngạc nhiên" [70; tr 319]. Đó là một Ấn Độ đan xen giữa cuộc
sống hiện đại với những tăm tối của một đất nước đang sống cuộc sống ngàn năm.
Đằng sau vẻ đẹp hấp dẫn về một thế giới phương Đông huyền bí, tuyển tập gồm
mười một truyện ngắn về Ấn Độ hé mở những bi kịch nhân sinh. Nhận thức về bản
sắc, tính cách, tinh thần Ấn Độ không phải là cái bề ngoài mà là những thẳm sâu
bên trong ngôi đền cổ đầy sức hút nhưng không phải kẻ dị giáo nào cũng vào được
(Người Ấn). Đó không phải sự chuộng lạ, ghi chép những chi tiết hiếu kỳ vặt vãnh.
Lẩy ra từ hiện thực đó những bi kịch của nhân sinh, trang viết của Hồ Anh
Thái đã níu giữ và ám ảnh người đọc bằng nhiều chiêm nghiệm, chắt lắng về cõi
người. Người đọc nhận thấy ở đây những vấn đề mang tính toàn cầu, mang tính
nhân loại phổ quát làm tăng giá trị, tầm vóc văn chương của tác giả này. Tất cả
xuất phát từ sự đối mặt trực tiếp của nhà văn với cái mơ hồ của bản thể và vũ trụ,
từ thiện chí và sự lao tâm muốn góp phần giải thoát con người khỏi sự bất công và
bế tắc, từ những mối ưu tư tạo nên mong muốn kỳ diệu khỏa lấp những thiếu hụt,
những cái không hoàn hảo của thế giới nhằm đánh động suy nghĩ và thay đổi cách
nhìn nhận của con người, từ đó thay đổi cách sống của mình.
Một điểm nổi bật của nhiều truyện ngắn trong tuyển tập Tiếng thở dài qua
rừng kim tước là sự đề cập số phận người phụ nữ. Trên lãnh giới phương Đông cổ
truyền, phụ nữ cho đến nay vẫn là người gánh chịu nhiều thiệt thòi, nhiều nỗi bất
hạnh nhất. Có nhiều nguyên do dẫn đến bi kịch của người phụ nữ. Trước hết, họ là
nạn nhân của những hủ tục khắc nghiệt và sự phân biệt bất bình đẳng về giới. Về
điều này, ám ảnh người đọc nhất là truyện ngắn Tiếng thở dài qua rừng kim tước câu chuyện về Nilam. Sinh ra làm kiếp đàn bà, Nilam cũng như bao người con gái
bất hạnh khác bị trói buộc bởi những hủ tục vô nhân của đạo Bàlamôn. Món hồi
môn sáu mươi ngàn rupi như một sợi dây oan nghiệt buộc thít lấy họ. Xinh đẹp,
tràn đầy sức sống, tình yêu, đóa kim tước vàng rực sắc hương mang tên Nilam là
niềm mơ ước của bao trai làng. Lẽ ra nàng phải được hưởng một cuộc sống hạnh
phúc. Vậy mà... Nilam bỏ học giữa chừng vì phải theo cha mẹ về nhà lấy chồng.
Việc lấy chồng được quyết định ngay vì thời cơ có một đám hỏi với giá phải chăng
đã đến đúng lúc gia đình cô chuẩn bị gần đủ số hồi môn. Bố mẹ cô cho con gái đi

của những nàng thiếu nữ mà sắc đẹp và tình yêu không thể tồn tại dưới sức nặng
của bao nhiêu hủ tục lạc hậu và vô tình?
Bên cạnh những hủ tục lạc hậu, sự áp chế của thần quyền cũng cản trở bước
tiến của xã hội, của con người về mặt nhận thức. Không ít bi kịch, cảnh ngộ éo le
của con người sinh ra từ đó. Có thể thấy rõ điều này trong câu chuyện về việc được
phong thần và bị phế truất của Nữ Thần Đồng Trinh Sabana. Thân phận Sabana
trong truyện Đi khỏi thung lũng mới đến nhà cũng giống như các vũ nữ đồng trinh
bị bán khoán rồi mang ra đấu giá (Cuộc đổi chác). Khi có kinh nguyệt, Sabana lập
tức bị phế truất sau mười năm trị vì trong cung Thần Nữ. Cựu nữ thần bị coi là đã
uế tạp, đã mất thiêng lập tức bị đưa ra khỏi cung điện, trở lại với tên tục Sabana, bị
bỏ mặc phải tự tìm đường về quê. Vị nữ thần bị thất sủng bơ vơ, thiếu chút nữa là
bị bán vào nhà chứa; bị cuốn đi trong làn sóng người biểu tình làm cách mạng náo
loạn; bị xô đẩy, đánh đập... May mắn thay, cô gặp một chàng trai tốt bụng và được
anh đưa về nhà. Nhưng gia đình người anh trai, nay giàu có vốn chỉ nhớ đến em
gái mỗi khi cần viện trợ, chu cấp từ bổng lộc của cô, đã từ chối đón nhận Sabana.
Vì từng là nữ thần nên cô không thể sống như người bình thường, sẽ không một
chàng trai nào dám lấy cô làm vợ. "Người ta tin rằng chồng của nữ thần sẽ chết vì
tai nạn, chết bất đắc kỳ tử"... Vậy là, phong tục, tôn giáo có thể đưa con người lên
tột đỉnh vinh quang với địa vị danh giá của một nữ thần nhưng nó cũng sẵn sàng
vứt bỏ không tiếc con người ấy như một vật đã hết hạn sử dụng. Nó cũng vô trách
nhiệm, chẳng quan tâm đến những mất mát mà người ta phải gánh chịu sau này.
Thương thay cho những đứa trẻ xinh xắn, đáng yêu! Chúng nào biết rằng khi được
lựa chọn làm nữ thần cũng đồng nghĩa với việc định ra cho mình một tương lai sau
khi bị thất sủng: sẽ chết già nơi thôn cùng xóm vắng hay dạt vào một ổ chứa mua
vui thân xác cho những kẻ mới trước đó còn quỳ mọp trước mình. Sabana thật
24


ngây thơ khi cô lên giọng giống như những lần thét lên trong cung Thần Nữ: Ta là
Nữ Thần Đồng Trinh Sabana đây! Đám đông không vì thế mà lắng xuống bởi

đời? Có ai quan tâm đến những chấn động tinh thần mà cô bé đã phải trải qua?
Đến đây, có lẽ người đọc sẽ nghĩ đến những lời V. Hugo viết ở Lời nói đầu
cuốn Những người khốn khổ: "Khi ba vấn đề lớn của thời đại: sự sa đọa của đàn
ông vì phải bán sức lao động, sự trụy lạc của người đàn bà vì đói khát, sự cằn cỗi
của trẻ nhỏ vì những tăm tối chưa được giải quyết... Khi trên trái đất còn ngu dốt
và tối tăm, thì những quyển sách như loại này còn có ích" [27; tr 2]. Cũng có thể
nói hộ Hồ Anh Thái như vậy!
Đói nghèo luôn là bạn đồng hành của lạc hậu. Không chỉ có đói nghèo, nạn
buôn người, lạm dụng tình dục trẻ em là câu chuyện không khỏi làm ta nhức nhối
dù những chi tiết này chỉ thấp thoáng qua một số truyện ngắn. Đó là: khu vực đèn
25



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status