Báo cáo tổng kết đề tài xây dựng biện pháp rèn luyện kỹ năng tổ chức HĐTN cho sinh viên sư phạm tích hợp trong hoạt động HSV - Pdf 54

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC

XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ
NĂNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
CHO SINH VIÊN SƢ PHẠM TÍCH HỢP TRONG
HOẠT ĐỘNG HỘI SINH VIÊN

.

TP.HCM, 2018
1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC

XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ
NĂNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
CHO SINH VIÊN SƢ PHẠM TÍCH HỢP TRONG
HOẠT ĐỘNG HỘI SINH VIÊN
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
Th.S Đinh Quỳnh Châu

TP.HCM, 2018
2


Các nghiên cứu trong nước ........................................................................... 16

1.2. Lý luận về xây dựng biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN cho sinh viên sư phạm
tích hợp trong hoạt động HSV ....................................................................................... 18
1.2.1.

Lý luận về kỹ năng và KNTC......................................................................... 18

1.2.2.

Lý luận về HĐTN........................................................................................... 25

1.2.3.

Lý luận về Hoạt động của HSV Việt Nam ..................................................... 37

1.2.4.

Lý luận về sinh viên sư phạm ........................................................................ 42

1.2.5. Lý luận về xây dựng biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN cho sinh viên sư
phạm tích hợp trong hoạt động HSV. ......................................................................... 44
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 .............................................................................................. 61

3


Chƣơng 2: XÂY DỰNG BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KNTC HĐTN CHO SINH
VIÊN SƢ PHẠM TÍCH HỢP TRONG HOẠT ĐỘNG HỘI SINH VIÊN. ............... 62
2.1. Các nguyên tắc xây dựng biện phép rèn luyện KNTC HĐTN cho sinh viên sư

3.3.Kết quả nghiên cứu đánh giá mức độ cần thiết rèn luyện 12 kỹ năng tổ chức HĐTN
cho sinh viên sư phạm tích hợp trong các hoạt động của HSV………………………...107
3.4. Đánh giá mức độ cần thiết và khả thi về nội dung hướng dẫn thực hiện 9 bài tập
rèn luyện KNTC trò chơi cho sinh viên sư phạm tích hợp trong hoạt động HSV ....... 112
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 ............................................................................................ 120
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................................................... 121
1.Kết luận ..................................................................................................................... 121
2. Kiến nghị .................................................................................................................. 123
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................... 125
PHỤ LỤC ....................................................................................................................... 128
Phụ Lục 1 ..................................................................................................................... 128
Phụ lục 2 ....................................................................................................................... 162
Phụ lục 3 ....................................................................................................................... 166

4


LỜI CAM ĐOAN
Nhóm nghiên cứu cam đoan đề tài: “Xây dưng biện pháp rèn luyện kỹ năng tổ chức
hoạt động trải nghiệm cho sinh viên Sư phạm tích hợp trong hoạt động Hội sinh viên” là
công trình khoa học do nhóm nghiên cứu thực hiên.
Các số liệu và kết quả trình bày trong đề tài nghiên cứu là trung thực và chưa từng
được công bố ở bất kì một công trình nghiên cứu nào.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 04 năm 2018
Nhóm nghiên cứu

Vũ Thị Huyền

Võ Phú Toàn



Nội dung viết tắt

1

TP.HCM

Thành Phố Hồ Chí Minh

2

ĐHSP

Đại học sư phạm

3

KNTC

Kỹ năng tổ chức

4

HĐTN

Họat động trải nghiệm

5

NC


Thạc sĩ

7


DANH MỤC CÁC BẢNG

STT

Ký hiệu

Tên bảng

Trang

Mô tả khách thể nghiên cứu (sinh viên thuộc
1

Bảng 3.1

khối ngành Sư phạm) mức độ cần thiết và khả

106

thi của một số biện pháp
Đánh giá chung mức độ cần thiết của 12
2

Bảng 3.2


113

6

Bảng 3.6

Đánh giá chung mức độ khả thi về 9 bài tập

115

7

Bảng 3.7

Đánh giá chi tiết mức độ khả thi về Nội dung
hướng dẫn thực hiện 9 bài tập

8

116


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 về mục tiêu
tổng quát có nêu rõ: “Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn
diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế;
chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng
sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng

thuyết trên lớp? Vì thế sinh viên sư phạm cần có một sân chơi để có thể thực hành và rèn
luyện kỹ năng thiết kế và tổ chức HĐTN.
Một trong những sân chơi bổ ích cho các bạn sinh viên đó chính là các hoạt động
của HSV. Đây là một sân chơi giúp rèn luyện cho các bạn sinh viên nhiều kỹ năng trong
cuộc sống rất hiệu quả. Hiện nay các hoạt động của HSV khá nhiều và thường xuyên
được tổ chức trong một năm học. Nhưng người mà đứng ra tổ chức cho các bạn sinh viên
trải nghiệm không ai khác là Cán bộ hội trong BCH Liên Chi hội, còn các bạn sinh viên
là người được trải nghiệm. Vậy có được thỏa mãn không khi tất cả các bạn sinh viên hệ
Sư phạm đều cần có kĩ năng tổ chức HĐTN cho sự nghiệp giảng dạy sau này.
Nhu cầu được rèn luyện KNTC HĐTN của sinh viên sư phạm đang cao, cùng với đó
là thực trạng nhà trường vẫn chưa có học phần về tổ chức HĐTN để đáp ứng nhu cầu của
sinh viên.
Vì vậy, việc “xây dựng biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN cho sinh viên sư phạm
tích hợp trong hoạt động Hội sinh viên” là cần thiết. Trên cơ sở đó nhằm giải quyết
những hạn chế kể trên, tác động đến nhận thức, mang lại đổi mới lâu dài và đáp ứng yêu
cầu học tập của sinh viên. Bên cạnh đó, còn phù hợp với thực tiễn trong sự đổi mới của
nền giáo dục hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN cho sinh viên sư phạm tích hợp trong
hoạt động HSV.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Sinh viên hệ sư phạm trường ĐHSP TP.HCM.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN cho sinh viên sư phạm tích hợp trong hoạt động
HSV.

10



Xây dựng biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN cho sinh viên sư phạm tích hợp

-

trong hoạt động HSV.
Khảo sát thái độ của sinh viên sư phạm về các biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN

-

được tích hợp trong hoạt động HSV.
Khảo sát mức độ hỗ trợ của các biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN tích hợp trong

-

hoạt động Hội.
7. Các phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
a. Mục đích
Thu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và
bằng các thao tác tư duy logic, phân tích, tổng hợp nhằm tìm hiểu lịch sử nghiên cứu của
đề tài. Bên cạnh đó đưa ra những kết luận khoa học cần thiết, xây dựng cơ sở lý luận của
đề tài.
b. Cách tiến hành

11


Phân tích, tổng hợp, phận loại, hệ thống, mô hình hóa các văn bản, tài liệu khác
nhau về: kỹ năng, KNTC, HĐTN, hoạt động ngoài giờ lên lớp, sinh viên sư phạm, hoạt
động HSV.


pháp cho phù hợp với sinh viên sư phạm trường ĐHSP TP.HCM qua đánh giá của
chuyên gia, giảng viên, cán bộ HSV về “Các biện pháp rèn luyện kĩ năng tổ chức HĐTN
cho sinh viên sư phạm tích hợp trong hoạt động HSV”.
12


b. Cách tiến hành
Sử dụng hình thức phỏng vấn với câu hỏi mở soạn sẵn về các biện pháp rèn luyện
kỹ năng tổ chức HĐTN qua hình thức trò chơi cho sinh viên sư phạm tích hợp trong hoạt
động HSV.
Đối tượng phỏng vấn:
-

Phỏng vấn một số sinh viên đang học tập tại trường ĐHSP TP.HCM.

-

Phỏng vấn các cán bộ HSV.

-

Phỏng vấn chuyên gia Tâm lý - giáo dục.

8. Đóng góp của đề tài nghiên cứu
Các biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN cho sinh viên sư phạm tích hợp trong hoạt
động HSV làm phong phú thêm các hình thức hoạt động Hội cũng như hỗ trợ công tác
đào tạo kỹ năng tổ chức các HĐTN cho sinh viên của trường ĐH SPTP.HCM. Đề tài tạo
ra sản phẩm ứng dụng hiệu quả và thiết thực cho công cuộc đổi mới giáo dục nói chung
và việc phát triển chương trình giáo dục phổ thông tổng thể nói riêng. Cuối cùng, sản

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KNTC
HĐTN CHO SINH VIÊN SƢ PHẠM TÍCH HỢP TRONG HOẠT ĐỘNG HỘI
SINH VIÊN.
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu ngoài nước
Việc nghiên cứu quá trình rèn luyện KNTC nhằm hình thành năng lực nghề nghiệp
cho những người giáo viên tương lai nói chung và sinh viên sư phạm nói riêng luôn được
quan tâm nghiên cứu. Trong đó, nghiên cứu về KNTC hoạt động giáo dục là hướng
nghiên cứu được phát triển từ đầu thế kỷ XX trở lại đây.
Theo tác giả N.D. Lê-vi-tốp, A.V.Pe-trop-xki, kỹ năng có hai loại: Kỹ năng bậc thấp
và kỹ năng bậc cao. Kỹ năng bậc thấp được hình thành lần đầu tiên qua các hoạt động
đơn giản, là cơ sở để hình thành kỹ xảo. Kỹ năng bậc cao là kỹ năng được nảy sinh sau
khi đã có các tri thức [21], [29].
Đến năm 1961, N.V. Cu-dơ-min-na trong công trình nghiên cứu “Hình thành các
năng lực sư phạm” đã xác định năng lực sư phạm cần có của người giáo viên, mối quan
hệ giữa năng lực chuyên môn và năng lực nghiệp vụ, giữa năng khiếu sư phạm và bồi
dưỡng năng khiếu sư phạm thành năng lực sư phạm [5].
Đầu những năm 60, vấn đề rèn luyện NVSP mới trở thành hệ thống lý luận với công
trình nghiên cứu mang tên “Bàn về kỹ năng sư phạm” của O.A. Ap-đu-li-na. Trong công
trình nghiên cứu này, tác giả đã nêu rõ từng loại kỹ năng sư phạm của người giáo viên và
phân tích tỉ mỉ những kỹ năng chung và kỹ năng chuyên biệt trong hoạt động giảng dạy
và hoạt động giáo dục [2].
Vào những năm 70, có nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức lao động khoa học và
tối ưu hóa quá trình dạy học đã được tiến hành. Đó là các công trình nghiên cứu của N.I.
Bôn-đư-rep, Iu.K.Babanxki…Đặc biệt công trình nghiên cứu của X.I.Ki-xê-gôp: “Hình
thành các kỹ năng, kỹ xảo sư phạm trong điều kiện giáo dục đại học” [19], trong đó đã
nêu ra hơn 100 kỹ năng NVSP, trong đó tập trung 50 kỹ năng cần thiết nhất, được phân
chia luyện tập theo từng thời kì thực tập sư phạm cụ thể. Công trình này đồng thời nghiên
cứu sự hình thành kỹ năng sư phạm cho người học dưới góc độ là một quá trình tổ chức
trong nhà trường sư phạm và chia quá trình này thành năm giai đoạn. Sự phân chia quá

Tại “Hội thảo về canh tân việc đào tạo bồi dưỡng giáo viên các nước Châu Á và
Thái Bình Dương” được tổ chức tại SEOUL hàn quốc cũng đã xác định rõ tầm quan
trọng của việc hình thành tri thức và các kỹ năng sư phạm cho sinh viên trong quá trình
đào tạo [12].

15


Tóm lại, vấn đề về kỹ năng và KNTC hoạt động được rất nhiều tác giả quan tâm và
nghiên cứu, còn về vấn đề HĐTN và hoạt động HSV lại bị hạn chế vì hai vấn đề này còn
khá mới mẻ.
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước
Qua quá trình nghiên cứu lịch sử giáo dục Việt Nam cho thấy vấn đề KNTC, HĐTN
và hoạt động HSV đã được rất nhiều nhà giáo dục nghiên cứu .
-

Nghiên cứu về kỹ năng và KNTC.
Với vấn đề này, có những công trình nghiên cứu về hệ thống kỹ năng hoạt động sư

phạm như trong giáo trình “Giáo dục học tập 2” của nhóm tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ
Hoạt đã đề cập đến hai hệ thống kỹ năng nền tảng như: KNTC, kỹ năng thiết kế, kỹ năng
giao tiếp, kỹ năng nhận thức…và hệ thống các kỹ năng chuyên biệt như: Kỹ năng giáo
dục, kỹ năng giảng dạy, kỹ năng tự học, kỹ năng xã hội và kỹ năng nghiên cứu khoa
học...[26].
Năm 1995, tác giả Nguyễn Hữu Dũng với đề tài: “Hình thành kỹ năng sư phạm cho
sinh viên sư phạm”. Trong đề tài này, tác giả đã chỉ ra được một số cơ sở lý luận khoa
học về kỹ năng sư phạm và vai trò của việc hình thành nó trong quá trình đạo tạo của
sinh viên sư phạm nói chung [9].
Một số luận văn sau đại học của các tác giả Nguyễn Thị Oanh, Vũ Thị Nguyệt đã
nghiên cứu về rèn luyện KNTC hoạt động giáo dục từ đó hệ thống thành các kỹ năng

Tại khoản 3, điều 10 xác định: “Các hoạt động xã hội do nhà trường tổ chức cho
người học tham gia với mức độ thích hợp, là nhằm củng cố những tri thức đã học được,
bồi dưỡng tình cảm đối với nhân dân lao động, xây dựng thái độ tích cực tham gia công
tác xã hội, góp phần xây dựng địa phương và rèn luyện người học về ý thức và năng lực
làm chủ tập thể, hình thành nhân sinh quan cách mạng. Ngoài các hoạt động trên đây,
cần tổ chức thêm những hoạt động ngoại khóa khác như thể dục thể thao, văn nghệ để
công tác giáo dục thêm phong phú”.
Về vấn đề tổ chức HĐTN, Nghiên cứu về “hình thức tổ chức các hoạt động TNST
trong nhà trường phổ thông” của Bùi Ngọc Diệp cho biết HĐTN rất đa dạng và mang
tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và
giáo dục như: giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục nghệ
thuật, thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục an toàn giao thông, giáo
dục môi trường, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng chống HIV/AIDS và tệ
nạn xã hội. Về phương pháp và hình thức tổ chức, các HĐTN có thể được tổ chức như
hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại,
các hội thi, hoạt động giao lưu, hoạt động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, hoạt động
cộng đồng, hoạt động tập thể, lao động công ích, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, múa rối,
tiểu phẩm, kịch tham gia,…), thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội,…[6].
17


Một công trình khác là đề tài cấp cơ sơ “Nghiên cứu phát triển năng lực thiết kế
chương trình HĐTN cho giáo viên phổ thông” của Nguyễn Thị Kim Dung và Nguyễn
Thị Hằng. Hai tác giả đã phân tích 4 phương pháp tổ chức hoạt động TNST, đó là:
Phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp sắm vai, phương pháp trò chơi và phương
pháp làm việc nhóm. Với từng phương pháp, các tác giả đã chỉ rõ ý nghĩa, tính hiệu quả
trong triển khai tổ chức và các bước tiến hành cụ thể [7].
Tóm lại, vấn đề kỹ năng, KNTC và tổ chức HĐTN được rất nhiều nhà Tâm lý học,
xã hội học…trong nước quan tâm và nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên
vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu về nội dung KNTC HĐTN cho sinh viên sư phạm

Tác giả Trần Trọng Thủy cũng cho rằng “kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động,
con người nắm được các hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng” [39].
Theo quan niệm trên, kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục
đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm rõ. Người có kỹ năng hoạt động trong
lĩnh vực nào đó là người đã nắm vững tri thức về hoạt động, thực hiện đúng thứ tự các
bước, các thao tác hành động. Các tác giả đều không nhấn mạnh đến kết quả đạt được của
hoạt động.
-

Quan điểm thứ hai:
Xem xét kỹ năng nghiêng về mặt năng lực của con người. Đó là quan niệm của các

tác giả: N.Đ. Levitov, X.I. Kixengof, K.K. Platonov, Xavier Roegiers, Kevin Barry, Ken
King, Trần Quốc Thành, Nguyễn Quang Uẩn, Vũ Dũng, Huỳnh Văn Sơn, Nguyễn Văn
Đồng,…
A.V. Petrovxki cho rằng “Năng lực sử dụng các dữ liệu, các tri thức hay kinh
nghiệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát triển những thuộc tính bản chất của các
sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định, được gọi
là kỹ năng” [29].
Theo N.Đ. Levitôv, kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay
hành động phức tạp hơn, bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thức đúng đắn, có
chiếu cố đến những điều kiện nhất định [1]. Ông nhận định kỹ năng có liên quan đến thực
tiễn và càng liên quan mật thiết đến việc áp dụng tri thức vào thực tiễn. Cùng với đó, tác
giả X.I. Kixengof cũng cho rằng “kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác hay
một hoạt động nào đó phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng cách thức đúng đắn,
có chú ý đến những điều kiện nhất định” [1] Theo ông, kỹ năng được diễn ra dưới sự
kiểm tra của ý thức. Kỹ năng đòi hỏi việc sử dụng kinh nghiệm và tri thức nhất định nào
đó trong các hành động thực và có kết quả phù hợp với nhiệm vụ ban đầu đề ra.Vậy nên
nếu thiếu những điều này, không thể hình thành kỹ năng.
K.K. Platonov và G.G. Golubev, hai tác giả này cho rằng: “Kỹ năng là năng lực của

Đa số các tác giả Việt Nam như Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn, Trần Quốc
Thành, Nguyễn Thạc, Hoàng Anh… cũng có quan niệm cho rằng kỹ năng là khả năng
của con người sử dụng các kiến thức và kĩ xảo của mình một cách có kết quả trong quá
trình hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Muốn có kĩ năng trước hết cần nắm
vững tri thức về các thao tác cấu thành hành động và cần có những kinh nghiệm đã có
phù hợp.
20


Tác giả Đặng Thành Hưng đã có quan điểm mới về vấn đề kĩ năng. Dựa trên các
nghiên cứu về khoa học tâm lý và khoa học giáo dục, tác giả đã khẳng định kỹ năng phải
là những hành động thực tiễn chứ không phải là khả năng tiềm ẩn, không phải là những
hành vi tự động hóa của con người. “Kỹ năng là một dạng hành động được thực hiện tự
giác dựa trên những tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh
học – tâm lý khác của cá nhân (chủ thể có kĩ năng đó) như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tích
cực cá nhân…để đạt được kết quả theo mục đích , tiêu chí đã định hoặc mức độ thành
công theo chuẩn hay quy định” [16]. Tác giả đã nhấn mạnh kỹ năng phải là cái có thật,
đã được thực hiện chứ không phải khả năng có thể ở mỗi cá nhân. Tác giả Đặng Thành
Hưng đã chỉ rõ bản chất của kỹ năng chính là những hành vi, hành động được cá nhân
thực hiện tự giác và thành công xét theo những yêu cầu, quy tắc, tiêu chuẩn nhất định. Vì
kỹ năng là một dạng hành động nên kỹ năng bao gồm một hệ thống các thao tác hay kỹ
thuật cấu thành hành động, trình tự thực hiện các thao tác, quá trình điều chỉnh hành động
và nhịp độ, cơ cấu thời gian thực hiện hành động.
Như vậy, khác với quan điểm thứ nhất, các tác giả theo quan điểm thứ hai, xem kỹ
năng không chỉ đơn thuần là kỹ thuật thao tác, hành động mà nó còn là biểu hiện của
năng lực, kỹ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, nhờ có tính mềm dẻo mà
con người có thể sáng tạo trong hoạt động thực tiễn. Về thực chất hai quan điểm này
không phủ định nhau, sự khác biệt chỉ ở chỗ mở rộng hay thu hẹp thành phần cấu trúc
của kỹ năng cũng như những thuộc tính của chúng. Từ các phân tích trên, chúng tôi nhận
thấy để phát triển và rèn luyện kỹ năng về một lĩnh vực hoạt động nào đó cần hội tụ đầy

vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và chất lượng của hoạt động. Lenin
rất coi trọng vấn đề “hiệu ứng tổ chức”, người cho rằng: “liệu một trăm có mạnh hơn
một nghìn không? Có chứ, khi mà một trăm được tổ chức lại, tổ chức sẽ nhân sức mạnh
lên mười lần?” Qua đó cho ta thấy rằng, vấn đề tổ chức hoạt động và KNTC hoạt động
được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu. Theo L.I.Umanxki: “KNTC hoạt động
là khả năng của người tổ chức làm việc có hiệu quả trong những tình huống khác nhau”
[43]. Tác giả Kegienter P.M nghiên cứu về “Những nguyên tắc trong công tác tổ chức”
đã nêu ra các kỹ năng chủ đạo của tổ chức hoạt động là: KNTC tập thể và các mối quan
hệ trong tập thể; kỹ năng lập kế hoạch công việc; Kỹ năng thống nhất công việc của cá
nhân và của tập thể ; Kỹ năng kiểm tra, đánh giá; Kỹ năng tính toán phương thức tổ chức
và chỉ thị kịp thời [27]. Còn theo tác giả Trần Quốc Thành “KNTC là sự thực hiện có
hiệu quả một hệ thống hành động của một hoạt động chung nào đó bằng cách vận dụng
những tri thức về hoạt động đó, thống nhất hành động của mọi người nhằm đạt được mục
đích chung trong những điều kiện cho phép” [18].
22


Như vậy, các tác giả cùng thống nhất quan điểm KNTC hoạt động là sự vận dụng tri
thức tổ chức vào thực tiễn hoạt động. Tri thức tổ chức bao gồm những hiểu biết về công
tác tổ chức, hiểu rõ mục đích, nhu cầu của hoạt động, đặc biệt cá nhân hay tập thể tham
gia hoạt động, các quy tắc, các bước tổ chức, cách phối hợp, thương lượng nhau…Trên
cơ sở đó, con người vận dụng những tri thức tổ chức, kết hợp với những hiểu biết, kinh
nghiệm về hoạt động để tổ chức hoạt động đạt hiệu quả mong muốn, kể cả trong những
điều kiện hoat động đã bị thay đổi. Và đó chính là có KNTC hoạt động.
Dựa trên cơ sở khái niệm về kỹ năng, về tổ chức và quan niệm của các tác giả về
KNTC, nhóm nghiên cứu cho rằng: KNTC là cách thức của con ngƣời khi thực hiện
các hoạt động trên cơ sở vận dụng những tri thức, kinh nghiệm có liên quan đến
hoạt động, nhằm thỏa mãn động cơ, mục đích của cá nhân đó.
Người có KNTC phải có:
-

Giai đoạn 2: Kỹ năng đã có, nhưng chưa đầy đủ.

-

Giai đoạn 3: Kỹ năng đã phát triển, song còn mang tính riêng lẻ.
23


Giai đoạn 4: Kỹ năng phát triển ở trình độ cao, cá nhân sử dụng thành thạo các

-

thao tác kỹ thuật, phương thức thực hiện để đạt được mục đích.
Giai đoạn 5: Kỹ năng tay nghề cao, khi cá nhân vừa thành thạo, vừa sáng tạo trong

-

sử dụng kỹ năng ở những điều kiện khác nhau [13].
Các tác giả V.A. Cruchetxki, N.Đ. Levitov, A.V. Petrovxki, Phạm Minh Hạc, Trần
Quốc Thành cho rằng, quá trình hình thành kỹ năng trải qua ba giai đoạn:
-

Giai đoạn 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động.

-

Giai đoạn 2: Quan sát và làm thử theo mẫu.

-


định khuôn nhờ lặp đi lặp lại vận động nhiều lần [10].
Tóm lại, mỗi tác giả, mỗi nhà nghiên cứu đều đưa ra cho mình một quá trình hình
thành kỹ năng bao gồm các giai đoạn riêng. Nhưng nhìn chung, quá trình hình thành kỹ
24


năng đều trải qua ba giai đoạn: Giai đoạn nhận thức, giai đoạn làm thử và giai đoạn luyện
tập. Do đó, quá trình hình thành KNTC hoạt động cũng trải qua ba giai đoạn như sau:
-

Giai đoạn nhận thức: Người tổ chức hoạt động phải nhận thức được ý nghĩa và

tầm quan trọng của hoạt động đó, xác định được vai trò của bản thân từ đó hình thành
trách nhiệm với công việc và nhiệm vụ của mình. Đồng thời phải không ngừng tôi luyện
và rèn luyện thêm các tri thức về các KNTC đầy đủ và hệ thống thông qua việc trải
nghiệm và học hỏi kinh nghiệm từ những thế hệ đi trước để có thêm vốn kiến thức phong
phú hơn.
-

Giai đoạn làm thử: người tổ chức thực hiện hành động dựa trên kiến thức đã được

trang bị và kinh nghiệm vốn có.
-

Giai đoạn luyện tập: Giúp người tổ chức hoạt động hình thành được những kỹ

năng chuyên biệt, biết vận dụng sáng tạo trong những tình huống khác nhau. Đồng thời
hình thành thêm được những kinh nghiệm mới chỉ có ở bản thân chủ thể người đứng ra tổ
chức, nó được xem như một bước trưởng thành nhất định của riêng cá nhân đó.
Ngoài ba giai đoạn chủ chốt trên, nhóm nghiên cứu bổ sung thêm một giai đoạn tiếp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status