skkn một số giải pháp tăng cường tiếng việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường tiểu học - Pdf 54

MỤC LỤC
TT
1
2
3
4
5
6
7
8

Nội dung đề mục
Phần mở đầu
I. Đặt vấn đề
II. Mục đích nghiên cứu
Phần thứ 2: Giải quyết vấn đề
I.Cơ sở lý luận của vấn đề
II.Thực trạng vấn đề
III. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
Giải pháp 1: Tổ chức, phối hợp với các lực lượng giáo dục
trong và ngoài nhà trường; quản lý các điều kiện hỗ trợ để
nâng cao chất lượng học tập cho học sinh DTTS

Trang
2
2
3
3
3
5
6

15
16
17
18

II. Kiến nghị
Nhận xét của hội đồng sáng kiến cấp trường
Nhận xét của hội đồng sáng kiến cấp huyện
Tài liệu tham khảo

24
25
26
27

9

10

1

20


Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
Lý do lý luận: Tiếng Việt là một môn học hết sức quan trọng đối với tất
cả các bậc học của nước ta hiện nay. Với học sinh là người dân tộc thiểu số, việc
tăng cường tiếng Việt nhằm nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những
vấn đề đang được các cấp, các ngành, các trường học đặc biệt quan tâm. Tiếng

không cao vì thế phần nào ảnh hưởng đến chất lượng học tập của các em.
Do sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau trong quá trình dạy học, chất
lượng học tiếng Việt của học sinh dân tộc chưa cao, kéo theo sự hạn chế về phát
triển năng lực tư duy, ít nhiều tạo ra bất lợi cho việc đạt đến những chuẩn mực
trong mục tiêu giáo dục tiểu học. Ở vùng đặc biệt khó khăn, dân cư 100% là

2


đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), việc bất đồng ngôn ngữ giữa cô và trò, làm
ảnh hưởng đến giao tiếp giữa cô và trò.
Học sinh dân tộc thiểu số có nhiều đặc thù riêng về hoàn cảnh sống và tư
duy suy nghĩ. Làm thế nào để chất lượng dạy và học được nâng cao? Làm thế
nào để đào tạo ra những con người có tri thức, có nhân cách, những người có đủ
“đức, trí, thể, mĩ”? Đó vẫn còn là một câu hỏi, khó có lời giải trọn vẹn.
Là một cán bộ quản lý giáo dục của nhà trường, trong quá trình giảng dạy
và công tác, bản thân tôi thường xuyên trăn trở, suy nghĩ tìm giải pháp để cùng
tập thể sư phạm nhà trường và lãnh đạo địa phương từng bước tháo gỡ khó khăn,
khai thác các điều kiện thuận lợi và các nguồn lực để áp dụng vào thực tế nhà
trường, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên do sự chi
phối của nhiều yếu tố khác nhau trong quá trình dạy học, những năm vừa qua
chất lượng của học sinh dân tộc thiểu số còn thấp kéo theo chất lượng giáo dục
của nhà trường. Vì vậy kết thúc mỗi năm học, tỷ lệ học sinh chưa hoàn thành
chương trình lớp học vẫn còn, ảnh hưởng đến công tác phổ cập giáo dục Tiểu
học đúng độ tuổi. Với tầm quan trọng và cần thiết của việc nâng cao chất lượng
giáo dục học sinh dân tộc thiểu số nói chung và học sinh dân tộc thiểu số ở
trường tiểu học Lê Hồng Phong nói riêng nên tôi đã mạnh dạn chọn và nghiên
cứu đề tài "Một số giải pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu
số ở trường tiểu học Lê Hồng Phong". Với mong muốn được góp phần nhỏ
cùng tập thể giáo dục nhà trường và nhân dân địa phương tìm ra hệ thống các

học khác. Trong xã hội Việt Nam, tiếng Việt là ngôn ngữ chính dùng để giao tiếp
trong cuộc sống, trong pháp luật, trong các hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội,…
Thế nào là học sinh dân tộc thiểu số?
Học sinh dân tộc thiểu số là học sinh thuộc thành phần dân tộc có số dân ít
trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, học tập trong các trường phổ thông bằng
ngôn ngữ thứ hai.
Tăng cường tiếng Việt là gì?
Tăng cường tiếng Việt là hoạt động nhằm giúp học sinh chưa biết hoặc biết
nói ít tiếng Việt có thể học tập các môn học trong hệ thống Giáo dục sử dụng
tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức. Tăng cường tiếng Việt được thực hiện xuyên
suốt đồng thời với chương trình Tiểu học, chú trọng trong các môn như Tiếng
Việt, Toán, Tự nhiên và Xã hội và các hoạt động giáo dục. Yêu cầu của tăng
cường tiếng Việt là làm thế nào để giáo viên có thể dạy và học sinh dân tộc thiểu
số có thể học chương trình Tiểu học một cách hiệu quả trong môi trường học tập
của địa phương, chú ý đến những khó khăn về ngôn ngữ mà các em phải vượt
qua để học được các môn học bằng tiếng Việt.
Vì sao phải tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số?
Tăng cường tiếng Việt là cần thiết cho tất cả học sinh; đặc biệt là học sinh dân
tộc thiểu số lại càng cấp thiết, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục môn Tiếng Việt
cho học sinh dân tộc thiểu số.
Tăng cường tiếng Việt để đảm bảo công bằng trong Giáo dục.
Tăng cường tiếng Việt phải đảm bảo các nguyên tắc sư phạm sau:
- Giúp học sinh dân tộc thiểu số tiếp cận với các kiến thức và kĩ năng các
môn học thông qua kinh nghiệm theo mức độ từ dễ đến khó.
- Coi trọng hoạt động hợp tác giữa học sinh với học sinh, giữa giáo viên với
học sinh.
- Chú ý đến học sinh, đến cuộc sống và môi trường học tập của các em, tạo
điều kiện để học sinh được học tập theo đặc điểm cá nhân.
- Thực hiện các phương pháp học tập khác nhau, các cách học tập khác
nhau, kích thích sự tích cực của học sinh.

hướng dẫn, hỗ trợ học tập cho con em ở nhà gặp không ít khó khăn.
Đội ngũ giáo viên chủ yếu là người dân tộc Kinh (chỉ có 01 giáo viên là
người dân tộc tại chỗ) hầu hết giáo viên không biết nói tiếng dân tộc thiểu số
cũng như không hiểu biết nhiều về phong tục, tập quán của đồng bào nên công
tác vận động học sinh ra lớp, phối hợp với cha mẹ học sinh để tăng cường tiếng
Việt, nâng cao chất lượng dạy học còn nhiều hạn chế. Tiếng Việt vừa là môn học
cơ bản, vừa là môn học công cụ để học sinh tiếp thu tri thức và kỹ năng của các
bộ môn khác trong chương trình giáo dục. Tuy nhiên, do sự chi phối của nhiều
yếu tố khác nhau trong quá trình dạy học, chất lượng học tiếng Việt của học sinh
dân tộc chưa cao, kéo theo sự hạn chế về phát triển năng lực tư duy, ít nhiều tạo
ra bất lợi cho việc đạt đến những chuẩn mực trong mục tiêu giáo dục của bậc
học. Việc giảng dạy mang tính áp đặt, khô khan do giáo viên “tham” và sợ nên
cố truyền đạt những kiến thức có trong sách giáo khoa mà không giành thời gian
để tạo ra sự hứng thú, sân chơi cho học sinh được nói, viết tiếng Việt là một hạn
chế rất lớn trong quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh đặc biệt là đối với học
sinh là người dân tộc thiểu số.
Một số cha mẹ chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em nhiều
em học sinh vì hoàn cảnh gia đình hoặc vì tiếp thu chậm nên chán học, bỏ buổi
5


học đi chơi hoặc ở nhà giúp đỡ gia đình như giữ em, chăn bò,... Khi vào thăm,
khảo sát thực tế ở các gia đình thì đa số không có bàn ghế, góc học tập riêng để
các em học ở nhà và đa phần các gia đình không quan tâm tới việc sử dụng tiếng
Việt của con em về nhà thế nào, không sắp xếp thời gian biểu cũng như tạo điều
kiện cho các em học tập. Vì vậy chất lượng giáo dục HSDTTS còn hạn chế, tỷ lệ
học sinh chưa hoàn thành chương trình lớp học hàng năm vẫn còn, một số ít học
sinh chưa có niềm vui khi đến lớp; trước khi thực hiện đề tài này, tôi đã tiến
hành khảo sát kỹ năng sử dụng tiếng Việt của HSDTTS, kết quả đạt như sau:


20

12,5%

Học kỳ 2

160

148

92,5%

12

7,5%

Bảng 1: Kết quả khảo sát kỹ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh DTTS
Bản thân bằng những kinh nghiệm thực tế giảng dạy và quản lý đã tích lũy
nhiều năm rút ra được một số giải pháp có hiệu quả trong thực hiện tại đơn vị từ
năm học 2017- 2018 đến nay (có thể các đơn vị khác và các bạn đồng nghiệp đã
thực hiện một trong những giải pháp này nhưng với các biện pháp thực hiện mà
tôi đưa ra cách thực hiện khác và đem lại hiệu quả cao nếu biết phối hợp cả giải
pháp mới và cũ) để cùng đồng nghiệp chia sẻ. Thiết nghĩ, nếu những trường có
nhiều học sinh dân tộc thiểu số mà thực trạng giống như trường tiểu học Lê
Hồng Phong mà áp dụng một cách khoa học, phù hợp tại đơn vị chắc chắn chất
lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số sẽ được nâng lên.
III. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
Giải pháp 1: Tổ chức, phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và
ngoài nhà trường; quản lý các điều kiện hỗ trợ để nâng cao chất lượng học
tập cho học sinh DTTS.

Lãnh đạo nhà trường phối hợp với Đoàn thể nhà trường có giáo viên là người
dân tộc thiểu số cùng tham gia vào các buổi họp buôn, các ngày lễ).
Muốn công tác phối hợp đạt hiệu quả cao, trước hết nhà trường phải
thực sự là trung tâm văn hóa giáo dục ở địa phương. Luôn gương mẫu trong
việc gìn giữ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội ở địa phương. Từ đó, địa
phương sẽ đồng thuận, đồng lòng, đồng sức tham gia xây dựng nhà trường, xây
dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai bên.
1.2. Chỉ đạo xây dựng kế hoạch, triển khai, tổ chức thực hiện việc dạy tăng
cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số.
8


Chất lượng học tập của học sinh DTTS phụ thuộc vào nhiều yếu tố như
phương pháp học, thái độ học và kỹ năng học. Các em hầu hết rất yếu về
phương pháp học tập, thái độ học tập và chưa có thói quen tự học.
- Chỉ đạo giáo viên phải bám sát vào đối tượng học sinh để xây dựng kế
hoạch giảng dạy đạt chất lượng tốt.
+ Tiếp thu bài chậm là một trong những nguyên nhân dẫn đến học sinh dễ
chán học và bỏ học. Để nâng cao chất lượng học tập cho học sinh ở vùng đặc
biệt khó khăn, có nhiều học sinh dân tộc thiểu số, người giáo viên không chỉ cần
có chuyên môn tốt mà còn phải có sự kiên trì, tận tụy, hiểu tâm lý học sinh.
+ Nếu người giáo viên sử dụng phương pháp dạy học không phù hợp có thể
khiến các em nẩy sinh tâm lý "sợ học". Vì vậy, dạy kiến thức vừa sức với học
sinh nhưng đảm bảo chuẩn kiến thức và thu hút được các em trong học tập.
- Để thực hiện tốt việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh, ngay
từ đầu năm học, chúng tôi đã chỉ đạo giáo viên tổ chức khảo sát chất lượng
học sinh. Thông qua khảo sát, giáo viên nắm bắt trình độ nhận thức của từng
em, phân loại các đối tượng học sinh trong lớp từ đó xây dựng kế hoạch dạy học
phù hợp.
- Khuyến khích giáo viên tăng cường sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học,

học sinh DTTS mất căn bản về nói, đọc và viết không rành về tiếng Việt. Có thể
yêu cầu giáo viên dạy phụ đạo cách luyện viết, luyện đọc, đồng thời theo dõi về
việc học tập của các em để giúp các em tiến bộ.
Hoạt động học tập của học sinh DTTS thường theo thói quen ở buôn làng,
nên ngay từ đầu năm học, CBQL phải quán triệt nội quy, quy chế của trường đến
tất cả học sinh; đồng thời, thường xuyên tổ chức tuyên truyền, phát động các
phong trào thi đua để theo dõi việc học tập của học sinh. Để từ đó giáo viên
cùng với học sinh làm tốt việc dạy và học tiếng Việt nhằm nâng cao chất lượng
học tập của học sinh.
1.3. Dạy học tích hợp kỹ năng sử dụng tiếng Việt vào các môn học, các
hoạt động giáo dục khác.
Dạy học tích hợp kỹ năng sử dụng tiếng Việt vào các môn học, các hoạt
động giáo dục là hình thức tổ chức dạy học, qua đó, học sinh được thực hành
nhiều hơn về kỹ năng sử dụng tiếng Việt để thực hiện các yêu cầu của bài học,
môn học để đáp ứng chuẩn kiến thức kỹ năng, khi dạy học các môn học cho học
sinh dân tộc thiểu số, giáo viên cần tiến hành một số biện pháp tăng cường tiếng
Việt giúp học sinh học bằng tiếng việt có hiệu quả. Căn cứ vào tình hình thực tế
của đơn vị, đối tượng học sinh; lãnh đạo nhà trường chỉ đạo giáo viên lựa chọn
biện pháp dạy tăng cường tiếng Việt cho học sinh DTTS mà trường đã lựa chọn
và thực hiện và có hiệu quả:
- Dạy học phân hóa đối tượng học sinh: khả năng tiếp thu, đặc điểm cá
nhân của học sinh…
- Khuyến khích giáo viên tổ chức các trò chơi học tập, các tiết học trải
nghiệm thực tế,…để tăng cường tiếng Việt và yêu thích tiếng Việt cho học sinh.
Ví dụ: Dạy tăng cường Tiếng Việt trong môn Đạo đức.
10


Rèn luyện kỹ năng nói Tiếng Việt thông qua các nội dung dạy học như: Tự
giới thiệu về bản thân và gia đình, trường, lớp; nói lời chào hỏi, tạm biệt; nói lời

Muốn khắc phục điều này, trẻ em người DTTS trước khi đến trường ít nhất
phải có những hiểu biết ban đầu về tiếng Việt. Vậy ai sẽ giúp các em có những
hiểu biết này? Hầu hết các chuyên gia giáo dục đều cho rằng chính là các bậc
cha mẹ, anh chị em trong gia đình sẽ là những chiếc cầu nối giúp các em học
sinh có hiểu biết bước đầu về ngôn ngữ.
2.1. Xây dựng môi trường tiếng Việt ở nhà trường
Học sinh dân tộc thiểu số học bằng NN2 thường không biết hoặc biết ít
tiếng Việt, tư duy gián tiếp (tiếp cận tiếng Việt áp đặt), tiếp thu tiếng Việt hạn
chế do không hình thành ngay được mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết, giữa
11


âm thanh và ngữ nghĩa – ngữ pháp. Các em ít nhận được tác động từ môi trường
gia đình, cộng đồng và chịu sự ảnh hưởng tiêu cực của tiếng mẹ đẻ. Giáo viên
cần giúp các em tiếp cận với kiến thức, kĩ năng các môn học thông qua kinh
nghiệm mà các em tích lũy được trước đó (có thể bằng tiếng mẹ đẻ), theo mức
độ từ dễ đến khó. Chú ý đến cuộc sống và môi trường học tập của các em, tạo
điều kiện để học sinh được học tập theo đặc điểm cá nhân.
Ví dụ: Giáo viên tạo cho các em được hoạt động với môi trường tiếng Việt
từ những đồ vật gần gũi với các em nhất như: các đồ dùng các nhân, các thiết bị
trong lớp, các góc học tập với hình ảnh minh họa các hoạt động, công việc, cờ
ảnh Bác Hồ, năm điều Bác Hồ dạy,…; danh sách lớp, khẩu hiệu theo chủ đề,
truyện tranh, sách đọc thêm,…; mô hình, tranh ảnh, mẫu vật, bản đồ, bảng chữ
cái,…; các sản phẩm của học sinh (bài viết chữ đẹp, tranh vẽ, sản phẩm thủ
công,…), cuộc sống xung quanh của các em.

Hình 4. Trang trí các góc của lớp học thân thiện
Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của không gian lớp học, giáo viên lựa
chọn và trưng bày các sản phẩm cho phù hợp. Có những sản phẩm được trưng
bày cố định suốt cả năm học (khẩu hiệu, danh sách lớp,…), nhưng cũng cần

gian ngắn trong những buổi sinh hoạt cộng đồng.
13


Hình 7. Bồi dưỡng, tăng cường về tiếng Việt cho cha, mẹ học sinh
tại buôn Drai và buôn Eana
Chỉ đạo và phân công giáo viên người bản địa cùng các giáo viên có uy tín
với học sinh và cha mẹ học sinh, tổng phụ trách Đội làm tốt công tác này từ 1- 2
buổi/ tháng.

Hình 8. Dạy học tiếng Việt cho đồng bào buôn Drai vào buổi tối.
Làm tốt công tác phối hợp với cha mẹ học sinh để xây dựng môi trường
tiếng Việt trong gia đình như:
-

14


Khảo sát để nắm được điều kiện cụ thể của từng gia đình học sinh
như: ti vi, sách báo, góc học tập,…
Xây dựng kế hoạch vận động, hướng dẫn cha mẹ học sinh tạo môi
trường tiếng Việt phù hợp với điều kiện từng gia đình, như: tạo góc học tập
cho con em, đóng bàn ghế học tập, chọn vị trí đặt bàn học đủ ánh sáng, trang
trí góc học tập (thời khóa biểu, giấy khen,…); hướng dẫn cha mẹ học sinh tạo
điều kiện về thời gian và nhắc nhở con em học bài, quan sát việc học của con
em, nhắc nhở con em nghe radio, xem ti vi, đọc sách báo (nếu gia đình có),
khuyến khích, động viên cha mẹ học sinh giao tiếp với con bằng tiếng Việt,…
Giáo viên thường xuyên thực tế gia đình học sinh để vận động, tư vấn cho
cha mẹ học sinh cùng học và làm bài tập ứng dụng với con để tăng cường nói,
viết tiếng Việt.


Hình 10. GV của nhà trường tham gia giao lưu bóng chuyền
và văn nghệ với đồng bào buôn Eana và buôn Drai
Để đạt được kết quả như mong muốn mỗi cán bộ quản lý, giáo viên phải
làm tốt các việc sau:
Lãnh đạo nhà trường tìm hiểu mục đích, nội dung sinh hoạt hay ý nghĩa,
nội dung tổ chức (của ngày họp buôn, buổi sinh hoạt cộng đồng, buổi sinh hoạt
tôn giáo, ngày lễ,…)
-

Đề nghị được tham gia, góp vui văn nghệ, thể thao; giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh, … và trao đổi ý kiến cùng tham gia với già làng, trưởng buôn, Ban
chấp sự đạo Tin lành, đoàn thể của buôn (tùy vào nội dung của buổi tổ chức đó)
-

16


Hình 11. Nhà trường phối hợp với các đoàn thể của buôn Eana
và buôn Drai giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong buôn.
Vận động, động viên những người chủ trì, người tổ chức của buổi sinh
hoạt đó sử dụng vốn tiếng Việt họ có. (không yêu cầu cả buổi sinh hoạt mà mỗi
buổi có thể sử dụng ở một số hoạt động và sẽ tăng dần ở những buổi tổ chức tiếp
theo,…)
-

Chỉ đạo, phối hợp với các tổ chức, đoàn thể của nhà trường để chuẩn bị
chu đáo nội dung tham gia trao đổi và sinh hoạt với cộng đồng của các buôn.
-


Việt trong giao tiếp như Câu lạc bộ “Tiếng Việt của chúng em”, “Thế giới quanh
em”.

18


Hình 13. Học sinh đang sinh hoạt câu lạc
bộ tiếng Việt

Hình 14. Đội tuyển dự thi Giao lưu
tiếng Việt cấp huyện

Chỉ đạo giáo viên phải xây dưng kế hoạch và tổ chức các tiết học trải
nghiệm tại các buôn để các hoạt động đều gắn liền với thực tiễn cuộc sống của
các em hàng ngày với nội dung về lễ hội, về cuộc sống nơi buôn làng và ẩm thực
địa phương (Ví dụ: học sinh kể về lễ của dân tộc mình được tổ chức hàng năm:
lễ cúng bến nước (ở buôn Drai), lễ cúng lúa mới ở buôn Eana), lễ thổi tai cho trẻ
mới sinh… với niềm mong ước mùa màng bội thu, con người khoẻ mạnh, tránh
được rủi ro, hoạn nạn); các tiết học trải nghiệm thực tế tại buôn làng như: tiết
quan sát cây hoa - môn tự nhiên và xã hội lớp 1; tiết thực hành kỹ năng giữ gìn
trường lớp sạch đẹp - môn đạo đức lớp 2; tiết an toàn khi đi xe đạp - môn tự
nhiên và xã hội lớp 3; tiết thực hành đo độ dài - môn toán lớp 3, … các tiết dạy
theo hướng trải nghiệm giúp các em hào hứng, chủ động, tự tin, mạnh dạn hơn
trong học tập, có kỹ năng giao tiếp, hợp tác nhóm tốt hơn, ghi nhớ bài lâu hơn,
đặc biệt có thái độ tích cực với môi trường học tập, môi trường tự nhiên và xã
hội. Việc tổ chức các tiết học trải nghiệm cũng giúp học sinh có vốn kiến thức
thực tế vững chắc, tạo cho các em vốn tiếng Việt, tự tin trong giao tiếp hơn.

Hình 15. Các nhóm của lớp 3C, 4D tìm hiểu bài học trước khi đi học tiết trải
nghiệm tại buôn Drai.

quả giáo dục sẽ không cao. Vì vậy với sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã thực
hiện một vài giải pháp với cách thực hiện các biện pháp khác góp phần thực hiện
các giải pháp đạt kết quả cao hơn trong công tác dạy học tăng cường tiếng Việt
cho học sinh dân tộc thiểu số như:
Công tác tuyên truyền, vận động và phối hợp: phải thực tế sâu và sát với
cộng đồng trong buôn, nói phải đi đôi với làm để đồng bào nhìn thấy, hiểu, tin
và làm theo (vì vốn tiếng Việt của họ ít) và phải tạo được mối quan hệ tin tưởng,
mật thiết với những người có uy tín, có quyền lực trong các buôn như: già làng,
trưởng buôn và chức sắc tôn giáo,… để vận động họ sử dụng tiếng Việt trong
các buổi họp, sinh hoạt cộng đồng và các ngày tổ chức lễ hội,...
Tổ chức các tiết học có sự tham gia của cộng đồng: tùy từng nội dung của
bài mà mời cộng đồng (các tổ chức đoàn thể, chính quyền thôn buôn và các
nghệ nhân, người tiêu biểu, già làng và chức sắc tôn giáo của buôn, cha mẹ học
sinh,…) tham gia cùng với tiết học của giáo viên và học sinh.
Tăng cường tiếng Việt cho học sinh thông qua việc khai thác hiệu quả vốn
sống, phong tục tập của dân tộc các em (các trò chơi dân gian của người Ê đê),
các tiết học trải nghiệp thực tế tại buôn làng,…
V. Hiệu quả SKKN:
Các giải pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số được
triển khai và thực hiện hiệu quả trong nhà trường. Kỹ năng sử dụng tiếng Việt
của học sinh được nâng lên; các em mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp; tích
cực, tự giác hơn trong học học tập; chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số
của nhà trường được nâng lên. Các giải pháp trên tiếp tục được áp dụng hiệu quả
tại đơn vị trong năm học 2018-2019.
Các biện pháp tăng cường tiếng Việt mà để tài đã nghiên cứu đã được đưa
ra khảo nghiệm từ đầu năm học 2017 – 2018 cho đến nay đã gần 4 học kì, định
kì mỗi năm học thực hiện 2 lần kiểm tra đánh giá, có so sánh đối chiếu lần sau
so với lần trước và đạt được các kết quả cụ thể sau:
Bảng 2: Kết quả khảo nghiệm về kĩ năng sử dụng tiếng Việt của học
sinh dân tộc thiểu số:

177

177


HK2
HK1

HK2

HK1

HK2

HK1

Có kỹ năng cơ bản
trong việc sử dụng
140
147
163
167
172
tiếng Việt, đáp ứng
được yêu cầu học 87,5% 91,9% 94,2% 96,5% 97,2%
tập
Kỹ năng sử dụng
tiếng Việt còn hạn
chế, chưa đáp ứng
được yêu cầu học


Bảng 3. Kết quả khảo nghiệm về sự hình thành và phát triển một số
năng lực, phẩm chất của học sinh DTTS (tháng 3/2019).
Một số năng lực và
phẩm chất

Trước khi áp dụng giải
pháp

Sau khi áp dụng giải
pháp

Năng lực giao tiếp

Rụt rè, hay né tránh

Tự tin, diễn đạt rõ ràng

Năng lực hợp tác

Không hợp tác, thờ ơ

Tích cực, chủ động trao
dổi ý kiến nhóm

Phẩm chất chăm học:

Hay vắng học không lí
do


Các giải pháp thực hiện đã có tác động tích cực đến ý thức của đội ngũ giáo
viên trong công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số và
trang bị cho mình các kỹ năng, kiến thức cần thiết để đảm nhiệm công việc
một cách tự tin hơn.
Các giải pháp, biện pháp trong đề tài dễ thực hiện, có thể áp dụng cho
các trường tiểu học có học sinh dân tộc thiểu số.
Phần thứ ba: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. Kết luận:
Qua thực tế dạy học, trăn trở với chất lượng giáo dục môn tiếng Việt đối
với học sinh dân tộc thiểu số, bản thân tôi đã tìm ra một số biện pháp tăng cường
tiếng Việt và thấy có hiệu quả. Vì vậy, tôi đã lựa chọn tiếp tục nghiên cứu, khảo
nghiệm, đánh giá thấy có hiệu quả, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn nên xây
dựng thành đề tài để chia sẻ kinh nghiệm cùng với đồng nghiệp. Các giải pháp
đưa ra đều phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, các cấp quản
lý giáo dục; phù hợp với nguyên tắc dạy học, đều đảm bảo tính khoa học, dễ vận
dụng và đạt mang lại hiệu quả cao. Việc vận dụng phương pháp dạy học môn
Tiếng Việt, các biện pháp tăng cường tiếng Việt khác và các biện pháp tăng
cường tiếng Việt trong đề tài này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học tiếng
Việt cho học sinh dân tộc thiểu số.
Tăng cường tiếng Việt là một giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục cho học sinh dân tộc thiểu số. Đây là việc làm xuyên suốt trong hoạt động
giáo dục. Muốn thực hiện tốt các giải pháp trên, nhà trường cần thực hiện tốt
một số vấn đề sau:
Định hướng cho giáo viên lựa chọn các nội dung bồi dưỡng thường
xuyên phù hợp với nhiệm vụ năm học, tình hình thực tế của đơn vị, địa
phương và nhu cầu cần bồi dưỡng của đội ngũ giáo viên. Nâng cao chất lượng
các buổi sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề trong nhà trường theo hướng lấy
học sinh làm trung tâm, đặc biệt chú trọng đến các giải pháp tăng cường tiếng
Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Tạo điều kiện cho giáo viên dự giờ, thăm


NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SÁNG KIẾN CẤP TRƯỜNG
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG CHẤM SÁNG KIẾN

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status